Người Tahiti
Người Tahiti là người bản địa châu Đại Dương (người Polynesia bản địa) thuộc nhóm người Đa Đảo cư trú tại Tahiti và mười ba hòn đảo khác ở Polynesia thuộc Pháp. Người Tahiti cũng có thể bao gồm nhóm những cư dân ngày trên những hòn đảo này có tổ tiên là người Polynesia và người Pháp (Demis). Người Tahiti bản địa là một trong những nhóm dân tộc Đa Đảo (Polynesia) lớn nhất với dân số ước tính hiện nay là 185.000 người, sau người Māori, người Samoa và người Hawaii.[1] Những người định cư Polynesia đầu tiên đến Tahiti vào khoảng năm 400 Sau Công nguyên thông qua các nhà hàng hải và người định cư người Samoa qua Quần đảo Cook. Trong nửa thế kỷ, đã có nhiều mối quan hệ liên đảo với thương mại, hôn nhân và sự mở rộng hàng hải Polynesia với Quần đảo Hawaii và đến tận Rapanui. Người Tahiti bản địa đã khai hoang đất đai để canh tác trên đất núi lửa màu mỡ và đóng thuyền đánh cá.[2] Các công cụ của người Tahiti khi mới được phát hiện được làm bằng đá, xương, vỏ sò hoặc gỗ. Người Tahiti được chia thành ba tầng lớp chính (hay đẳng cấp).[3]

Bị đô hộ
Quá trình thực dân hóa Tahiti diễn ra trong thời kỳ tranh giành tài nguyên Thái Bình Dương giữa các quốc gia châu Âu, bao gồm cả Pháp và Anh. Đây cũng là thời kỳ tranh giành và xung đột giữa người dân Tahiti và các đảo lân cận.[4][5] Người ta không rõ con tàu châu Âu đầu tiên đến đảo Tahiti là con tàu nào nhưng người ta thường nhận ra đó là HMS Dolphin do thuyền trưởng người Anh Samuel Wallis chỉ huy vào ngày 18 tháng 6 năm 1767. Ông đã gặp một đoàn người Tahiti chào đón và giao dịch với ông ta.[6] Sự khác biệt về văn hóa dẫn đến những lỗi giao tiếp nghiêm trọng dẫn đến một trận chiến ở vịnh Matavai giữa ba trăm xuồng chiến đấu và HMS Dolphin đã bắn vào các xuồng chiến đấu bằng súng hỏa mai, súng trên boong tàu và sau đó là dập bằng đại bác.[4] Vào những năm 1790, những người săn cá voi châu Âu đã đến, mang theo rượu, mại dâm và các nhà truyền giáo. Vào những năm 1820, Tin Lành trở thành tôn giáo chính trên đảo Tahiti. Các tàu châu Âu đã mang theo những căn bệnh mà người Tahiti hầu như không có hoặc có rất ít khả năng miễn dịch, chẳng hạn như kiết lỵ, đậu mùa, sốt ban đỏ, sốt thương hàn, bệnh lây truyền qua đường tình dục và bệnh lao.[7] Ngày 29 tháng 6 năm 1880, Vua Pōmare V đã ký một hiệp ước sáp nhập với Pháp. Ngày 9 tháng 9 năm 1842, một hiệp ước bảo hộ được ký kết giữa người Tahiti và người Pháp. Thỏa thuận này nhằm mục đích "bảo vệ tài sản của người bản địa và duy trì một hệ thống tư pháp truyền thống".[8] Năm 2013, Liên Hợp Quốc đã liệt kê lại Polynesia thuộc Pháp là một lãnh thổ cần được phi thực dân hóa.[9]
Chú thích
- ^ Great Soviet Encyclopedia (1976), vol. 25, p. 208
- ^ Ben R. Finney. Tahiti: Polynesian Peasants and Proletarians, Transaction Publishers, 2007, p. 11
- ^ "The Ancients". Hāʻena. Pacific Worlds & Associates. 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009.
- ^ a b Salmond, Anne (2009). Aphrodite's island : the European discovery of Tahiti. North Shore, N.Z.: Penguin/Viking. ISBN 978-0-670-07396-2. OCLC 428819829.
- ^ Boissoneault, Lorraine (ngày 24 tháng 8 năm 2018). "Captain Cook's 1768 Voyage to the South Pacific Included a Secret Mission". Smithsonian Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
- ^ Brij V. Lal, Kate Fortune. The Pacific Islands: an encyclopedia, University of Hawaii Press, 2000, p. 155
- ^ Finney, p. 18
- ^ Saura, Bruno (2015). "Remembrance of the Colonial Past in the French Islands of the Pacific: Speeches, Representations, and Commemorations". The Contemporary Pacific. 27 (2): 337–368. ISSN 1043-898X. JSTOR 24809936.
- ^ "France reminded to respect international law in Tahiti". Radio New Zealand (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.