Nghi tần Hoàng Giai thị (chữ Hán: 儀嬪黄佳氏; ? - 1735), xuất thân Chính Hoàng kỳ Bao y nguyên là Hoàng thị (黄氏). Là một phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Hoàng đế.

Thanh Cao Tông Nghi tần
清高宗儀嬪
Càn Long Đế Tần
Thông tin chung
Mất1735 (?)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An táng27 tháng 10, 1746
Phi viên tẩm, Dụ lăng
Phu quânThanh Cao Tông
Càn Long Hoàng đế
Tước hiệuCách cách (黄格格)
Tần (嬪)
Nghi tần (儀嬪)
(truy tặng)
Thân phụĐới Mẫn

Thân thế

Nghi tần không rõ năm sinh và ngày sinh, xuất thân từ gia tộc Hoàng Giai thị (黄佳氏) Chính Hoàng kỳ Bao y nguyên là Hoàng thị (黄氏). Theo ghi chép trong Khâm định Bát kỳ Mãn Châu thị tộc thông phổ (钦定八旗满洲氏族通谱), chi họ Hoàng Giai thị này đời đời cư trú tại vùng Sơn Thái, thuộc Liêu Dương, là một nhánh quan trọng trong dòng họ Hoàng Giai thị thời Thanh.

Thủy tổ của chi họ Hoàng Giai thị này tên là Ninh Cổ Tề (宁古齐), quy thuận vào thời sơ kỳ của triều đại, thuộc hạ nhân của Chính Hoàng kỳ Bao y Tá lĩnh, việc có thuộc tầng lớp Tân giả khố hay không thì không rõ. Sau khi Ninh Cổ Tề nhập kỳ, cháu trai là Phúc Cáp Đạt (福哈察) làm đến Nội quản lĩnh, từng theo Thư Lục (舒禄) chinh chiến lập công, được phong làm Vân kỵ úy, làm quan đến Viên ngoại lang kiêm Nội quản lĩnh.

Anh em họ cùng đời của Thư Lục là Hách Đạt Sắc (赫达色) cũng làm quan đến Nội quản lĩnh, Phật Bảo (佛保) làm quan đến Tán trật đại thần, đứng vào hàng ngũ quan viên cao cấp. Sau đó, huyền tôn của Ninh Cổ Tề là Vĩnh Phúc (永福) nhận được sự trọng dụng của Ung Chính Đế, từ Tổng quản Ngự dược phòng thăng dần lên Nội vụ phủ Hộ quân Thống lĩnh, Chính Lam kỳ Mông Cổ Đô thống, và xử lý công việc của Tổng quản Nội vụ phủ đại thần, một lần nữa đứng vào hàng ngũ quan viên cao cấp, cuối cùng mất tại doanh trại quân đội năm Càn Long nguyên niên (1736) với thân phận Nội đại thần.

Cha của Nghi tần tên là Đới Mẫn (戴敏), là em họ của Vĩnh Phúc, nguyên giữ chức Phó nội quản lĩnh. Sau khi Càn Long tức vị, vào ngày 24 tháng 9 năm Ung Chính thứ 13 (1735) đã hạ chỉ, nâng gia tộc Nghi tần lên làm Tá lĩnh Bao y trong bản kỳ. Lại vào năm Càn Long thứ 2 (1737), đặc biệt bổ sung Đới Mẫn làm Phó tổng quản Viên ngoại lang thất phẩm tại Viên Minh Viên.

Nhập cung

Không rõ thời gian Hoàng thị hầu hạ Càn Long Đế, chỉ biết bà vốn là Cách cách khi ông chỉ mới là Hoàng tứ tử Hoằng Lịch. Vào năm Ung Chính thứ 5 (1727), số lượng Cách cách hầu hạ cho Hoằng Lịch đã lên đến tám đến chín người, Hoàng thị có khả năng đã là một trong số đó. Năm Ung Chính thứ 13 (1735), ngày 3 tháng 9 (âm lịch), Bảo Thân vương Hoằng Lịch kế vị, sử gọi [Càn Long Đế].

Ngày 24 tháng 9 (âm lịch) cùng năm, Càn Long Đế ra chỉ tấn phong phi tần. Theo chỉ dụ của Càn Long Đế dụ cho Nội các, thì Trắc phúc tấn Cao thị làm Quý phi, Trắc phúc tấn Na Lạp thị làm Phi, còn Cách cách Tô thị cùng Hoàng thị đều phong Tần, dưới nữa có Cách cách Kim thị làm Quý nhân, Cách cách Hải thịCách cách Trần thị đều thụ phong Thường tại. Khi ấy chưa có lễ sách phong, cũng chưa định huy hiệu. Cùng lúc đó, Càn Long Đế gia thưởng nâng kỳ cho Quý phi, đem thành Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, còn Tần Hoàng thị được gia ân nâng thành Tương Hoàng kỳ Bao y, thuộc Tá lĩnh.[1]

Cách thời điểm gia tấn phong hiệu không lâu, Hoàng thị qua đời, ước chừng từ ngày 25 tháng 9 (âm lịch) cùng năm ấy đến cuối tháng 11. Bởi vậy, tài liệu hồ sơ năm Càn Long nguyên niên (1736) đều không còn xuất hiện ghi chép về Hoàng thị nữa.[2] Ngoài ra trong Hoàng triều văn điển (皇朝文典) cũng xuất hiện bài tế văn cho Hoàng tần vào năm Ung Chính thứ 13, càng thêm chắc chắn thời điểm qua đời của bà.[3]

Năm Càn Long nguyên niên (1736), ngày 28 tháng 9 (âm lịch), sách tặng Tần Hoàng thị làm Nghi tần (儀嬪). Theo Hồng xương thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ, chữ "Nghi" có Mãn văn là 「Koolingga」, có nghĩa là "Hợp với lễ pháp", "Có lễ nghi".

Sách văn viết:

Năm Càn Long thứ 11 (1746), ngày 27 tháng 10 (âm lịch), quan tài nhập Phi viên tẩm của Dụ lăng, Thanh Đông lăng.

Trong văn hóa đại chúng

Năm Phim ảnh Diễn viên Nhân vật
2002 Bản lĩnh Kỷ
Hiểu Lam II
Thạch Lâm Ngân phi Tề thị
2005 Càn Long vương triều Trương Lan Lan Hoàng Hạnh Nhi
2018 Như Ý truyện Hàn Đan Đồng Hoàng Kỳ Doanh

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ 《內務府上諭檔》:金姓格格封為貴人,海姓格格、陳姓格格均封為常在。高姓側福晉封為貴妃,納喇姓側福晉封為妃,蘇姓格格、黃姓格格均封為嬪。貴妃娘家是包衣佐領人,出為本旗滿洲人。黃姓嬪娘家是包衣管領下人,出為本旗包衣佐領下人。
  2. ^ 《宮內等處女子嬤嬤媽媽裡食肉底賬》:皇后官女子二、家下女子六、嬤嬤二、媽媽里二、貴妃官女子四、家下女子四、那妃官女子三、家下女子三、蘇嬪官女子五、家下女子一、金貴人官女子三、家下女子一、海常在官女子二、家下女子一、陳常在官女子三。
  3. ^ 《皇朝文典》:黃嬪祭文,雍正十三年編修,臣于枋恭撰。內職克襄,夙著柔嘉之範,芳規永謝,彌深悲悼之懷,既翟茀以追榮,宜苾芬之展祭,爾儀嬪黃氏賦性溫恭,持身敬慎,習嫺女史,彰淑問於璇宮,協賛坤儀,勤婦功於紫掖,瑤華方茂,奄謝遽聞,叐錫彞章,用頒奠醱,鳴呼彤管揚休,特沛綸言之渥,雲駢掩彩,聿增泉壤之光,爾如有知,尚其歆格
  4. ^ Cung vi (宮闈): nội cung, nơi Hoàng hậu và phi tần cư ngụ; cũng dùng để chỉ hậu cung.
  5. ^ Tần ngự (嬪御): chỉ chung các phi tần trong hậu cung.
  6. ^ Phất phân (苾芬): hương thơm của lễ vật cúng tế, tượng trưng cho lòng thành kính trong nghi lễ.
  7. ^ Phiên để (藩邸): phủ đệ của Hoàng đế trước khi đăng cơ.
  8. ^ Tầng vi (層幃): màn trướng trong khuê phòng; văn cổ dùng để chỉ sự qua đời của nữ tử.
  9. ^ Hâm thừa (歆承): kính mong thần linh hoặc người đã khuất hưởng nhận lễ vật cúng tế.