Nghĩa Thân vương (chữ Hàn: 의친왕, chữ Hán: 義親王; 30 tháng 3 năm 1877 – 16 tháng 8 năm 1955) là một vương tử nhà Triều Tiên và nhà hoạt động độc lập Hàn Quốc, con trai của Triều Tiên Cao Tông.

Lý Cương
이강
Tập tin:Prince Imperial Ui.jpg
Nghĩa Thân vương (義親王)
Thông tin chung
Sinh30 tháng 3 năm 1877
Mất16 tháng 8 năm 1955
Hoàng tộcnhà Triều Tiên
Thân phụTriều Tiên Cao Tông
Thân mẫuTrương quý nhân

Cuộc đời

Thuở đầu

Nghĩa Thân vương sinh ngày 30 tháng 3 năm Cao Tông thứ 14 (1877), là con trai thứ sáu của Triều Tiên Cao Tông. Ông được sinh ra tại tư đệ của Thục nghi họ Phạm (숙의 범씨), hậu cung của Triều Tiên Triết Tông, sinh mẫu của ông là Quý nhân họ Trương (귀인 장씨), hậu duệ của Tân Phong Phủ viện quân Trương Duy (장유), con gái của Trương Tích Đỉnh (장석정) và phu nhân Khánh Châu Trịnh thị. Ông được đặt tên là Lý Cương (이강, 李堈), tên thuở nhỏ là Bình Cát (평길, 平吉), hiệu là Vãn Ngộ (만오,晩悟), Xuân Am (춘암,春菴), tên rửa tội là Pio.

Theo sách Đức Thủy Trương thị Tộc phả Giáp Dần phả (덕수장씨족보 갑인보/德水張氏族譜 甲寅譜), Quý nhân họ Trương sau khi sinh ra ông thì bị Minh Thành Hoàng hậu cho xuất cung[1]. Do các phép tắc nghiêm ngặt trong cung đình thuở nhỏ[2], ông được nuôi dưỡng ở bên ngoài Cảnh Phúc cung, dưới danh nghĩa là dưỡng tử của Phác Vịnh Hiếu (박영효/朴泳孝)[3]. Năm Cao Tông thứ 22 (1884), Minh Thành Hoàng hậu có ý tác động lên Cao Tông về việc phong tước Quân để ông có thể ra vào cung đình, tuy nhiên điều này bị sinh phụ của Cao Tông là Hưng Tuyên Đại viện quân phản đối qua tác động của Thần Trinh Hoàng hậu; chính vì điều này mà Lý Cương có mối oán hận sâu sắc đối với ông[4].

Năm Cao Tông thứ 29 (1892), ông được sách phong làm Nghĩa Hòa quân (의화군/義和君), sang năm sau thì kết hôn với con gái của Kim Sa Tuấn (김사준/金沙準)[5]. Khi này, ông bị nhiều người đánh giá không tốt về nhân phẩm và tính cách[6][7], đến phụ hoàng Cao Tông cũng rất lo lắng về việc này. Năm Cao Tông thứ 31 (1894), ông được bổ nhiệm làm Đề điều của Nội Y viện và Sa Bằng viện, được cử sang thăm Nhật Bản nhằm mục đích chúc mừng chiến thắng của Nhật trong Chiến tranh Thanh-Nhật và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị bền vững với Triều Tiên. Năm sau (1895), ông chịu trách nhiệm tiễn đưa Công tước xứ Abruzzi (阿夫里/A-phu-lý), cháu trai của Vua Umberto I nước Ý. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Đặc phái Đại sứ tại Anh, Đức, Pháp, Nga, Ý và Áo, nhưng hai tháng sau ông đã từ nhiệm[8].

Du học Nhật Bản và Hoa Kỳ

Vào đúng ngày xảy ra sự kiện Ất Mùi sự biến, ông nhận lệnh từ phụ hoàng đến Cảnh Phúc cung để dò xét tình hình. Ông đã tận mắt chứng kiến binh lính Nhật Bản tiến về phía cửa Nghênh Thu môn, còn lực lượng Huấn luyện đội của quân đội Triều Tiên tiến về phía cửa Kiến Xuân mônXuân Sinh môn, ngay sau đó sự kiện đẫm máu đã nổ ra, đích mẫu của ông bị sát hại và thiêu hủy di thể. Ngay trong ngày hôm đó, ông đã thuật lại thảm cảnh này cho Doãn Trị Hạo (윤치호/尹致昊):

"...(Lược bớt)... Vào lúc 1 giờ chiều, Nghĩa Hòa Quân đã đến và kể lại như thế này: Ngay sau khi ông vừa rời cung, một nhóm binh lính Nhật mang theo gươm giáo đã tấn công vào tẩm sở của Điện hạ (Cao Tông) và Thế tử (Thuần Tông). Bọn chúng lùng sục khắp nơi để tìm Vương hậu (Minh Thành Hoàng hậu). Chúng cho rằng hai ba người thị nữ chính là Vương hậu nên đã ra tay sát hại vô cùng tàn nhẫn. Bọn chúng còn túm tóc Thế tử phi (Thuần Minh Hiếu Hoàng hậu), dùng chân đá, đánh đập và lôi xềnh xệch để ép bà phải nói ra chỗ trốn của Vương hậu. Khi bà cự tuyệt trả lời, bọn chúng đã thẳng tay ném Thế tử phi vào giữa đám binh lính đang hấp hối hoặc đã chết. Một tên Nhật khác thì túm tóc Thế tử và đá thẳng vào đầu. Trong lúc đó, có tới gần 100 cung nữ ôm lấy nhau khóc lóc thảm thiết. Đúng lúc này, Vương hậu xuất hiện. Một tên Nhật đã lao đến bắt giữ và đá ngã Vương hậu xuống đất. Vương hậu hét lên rằng mình không phải là Vương hậu, mà chỉ vào đây để tìm đồ ăn mà thôi. Những tên thích khách liên tục đạp vào người cho đến khi Vương hậu bất tỉnh nhân sự. Sau đó, bọn sát thủ lôi bà vào một căn phòng rồi lấy một tấm chăn đơn phủ lên người bà. Để xác nhận xem đó có đúng là Vương hậu hay không, tên thông dịch viên người Nhật là Suzuki (영목/스즈키) đã chỉ tay về phía cung điện (Kiến Thanh điện) và nói với một vị Thượng cung rằng Vương hậu đang nằm ở “căn phòng đó”. Vị Thượng cung bước vào phòng, do quá kinh hãi trước cảnh tượng máu me đầm đìa đã hoảng loạn lao ra ngoài và gào khóc: “Ôi, Vương hậu đã băng hà rồi!”. Nghe thấy tiếng kêu này, bọn sát thủ liền lao vào, kéo thi thể của Vương hậu ra khu vườn hoa gần đó nhất (khu vực Lộc Sơn thuộc Kiến Thanh điện). Tại đây, chúng đặt thi thể của Vương hậu xuống rồi phóng hỏa thiêu rụi... (Lược bớt)...[9]"

Do vô cùng khiếp sợ Hưng Tuyên Đại viện quân, ông đã trốn và ở cùng với mục sư Underwood trong suốt bốn ngày[10]. Sau đó, ông suy đoán rằng kẻ đứng sau giật dây vụ ám sát chính là Hưng Thân vương và con trai ông ta là Vĩnh Tiên quân, vì thế đã bí mật tập hợp các kiếm khách Triều Tiên, lãng nhân Nhật Bản (Ronin) và các thế lực từ nhà Thanh để lên kế hoạch trả thù. Tuy nhiên sự việc bị Đại viện quân phát hiện, buộc ông phải chạy trốn sang Nhật Bản dưới danh nghĩa lưu vong và du học[11] Năm Cao Tông thứ 33 (1896), ông theo học tại Khánh Ứng Nghĩa Thục thuộc Đông Kinh, sang năm sau (1897) thì khởi hành sang Hoa Kỳ. Tại đây, ông đã giao du với Từ Quang Phạm (서광범/徐光範) – một nhân vật có liên quan đến biến cố Giáp Thân Chính biến. Đến năm Cao Tông thứ 35 (1898), ông quá cảnh sang Nhật Bản để về nước.

Cao Tông không hề mong muốn chuyện ông giao du với Nhật Bản, lại nhận định rằng Vương tử tuổi đời còn trẻ, suy nghĩ chưa đủ chín chắn nên rất khó lường trước được việc ông sẽ gây ra tai họa gì [12] nên đã quyết định đưa ông đến Hoa Kỳ du học. Trong hai năm sau đó, ông đã đi tuần du qua nhiều vùng của Hoa Kỳ, đến tháng 8 năm Cao Tông thứ 37 (1900), triều đình phong ông làm Nghĩa vương (의왕/義王), ban kim sách, kim ấn và thất chương phục. Danh hiệu của ông được gọi là Nghĩa Vương (의왕/義王) hoặc Nghĩa Thân Vương (의친왕/義親王).

Năm 1910, sau biến cố Canh Tuất quốc sỉ, tờ báo Mỗi Nhật Tân Văn (매일신보/每日申報) đưa tin rằng Nghĩa Thân Vương đã bị sáp nhập vào nhóm Vương công tộc của Nhật Bản, nhận tước vị Công (공/公) và được ban khoản trái phiếu ân tứ trị giá 830.000 won[13]. Năm 1911, ông bị phong chức Trung tướng Lục quân Đế quốc Nhật Bản[14]. Trên tạp chí Triều Tiên của Nhật Bản (일본의 조선/日本之朝鮮), ông đã gửi gắm một bức thư pháp thủ bút với nội dung: "Hai nước có mối quan hệ khăng khít như sơn với keo, không thể tách rời"[15]. Vào năm 1912, ông nhận được Huân chương Húc nhật Đồng hoa Đại thụ chương hàng Huân nhất đẳng từ Đế quốc Nhật Bản. Khi Thiên hoàng Minh Trị băng hà, ông nhận mệnh từ anh trai Thuần Tông sang Nhật Bản tham dự tang lễ[16]. Năm 1919, Thượng hoàng Cao Tông băng hà, với tư cách là người lo liệu tang lễ, nỗi đau buồn của ông đã lên đến đỉnh điểm, dẫn đến việc chân ông bị phát u nhọt và mắc chứng huyết chứng (nhiễm trùng máu)[17]

Thời kỳ thuộc Nhật

Tập tin:이강 친필.png
Chữ viết tay của Lý Cương được đăng trên tạp chí "Triều Tiên của Nhật Bản" (일본의 조선/日本之朝鮮) do nhà xuất bản Hữu Lạc Xã (유라쿠샤/有樂社) phát hành năm 1911.

Vào tháng 3 năm 1919, các nhân vật gồm Toàn Hiệp (전협/全協) và Thôi Ích Hoán (최익환/崔益煥) đã thành lập tổ chức Triều Tiên Dân Tộc Đại Đồng Đoàn (조선민족대동단/朝鮮民族大同團 - gọi tắt là Đại Đồng Đoàn). Đại Đông Đoàn nhận định rằng nếu Nghĩa Thân vương đến Thượng Hải để gia nhập vào Chính phủ Lâm thời Đại Hàn Dân Quốc thì sức lan tỏa của phong trào độc lập sẽ vô cùng to lớn, vì vậy họ đã tìm cách lôi kéo ông. Phía Chính phủ Lâm thời Đại Hàn Dân Quốc tại Thượng Hải cũng đã chấp thuận kế hoạch của Đại Đồng Đoàn, đồng thời phái Đặc phái viên Khương Thạch Long (강석룡/姜錫龍) liên lạc với tổ chức để xúc tiến kế hoạch lưu vong của Nghĩa Thân vương. Trong quá trình này, việc tiếp cận và tiếp xúc với ông được giao cho Kim Xuân Cơ (김춘기/金春基), cũng là em trai của Nghĩa Thân vương phi, và cuối cùng Nghĩa Thân vương cũng đã đồng ý[18].

Tháng 11 cùng năm, nhóm của Nghĩa Thân vương cải trang thành thường dân, vượt qua sự giám sát chặt chẽ của Nhật Bản để thực hiện cuộc đào thoát sang Thượng Hải. Vào sáng ngày 10, ông đã lên chuyến tàu hỏa hướng đi Bình Nhưỡng tại ga Thủy Sắc, sau đó từ Bình Nhưỡng tiếp tục hướng về phía An Đông Huyện. Đến ngày 11, trong lúc đang chuẩn bị từ ga An Đông Huyện để lên đường sang Thượng Hải, ông đã bị cảnh sát Đế quốc Nhật Bản phát hiện và bị cưỡng chế áp giải trở lại Hán Thành[19].

Theo các ghi chép của Ngân hàng Hán Thành (한성은행/漢城銀行), Nghĩa Thân Vương là một trong những cổ đông lớn vào các năm 1921, 1923, 1925 và 1927. Ngoại trừ Trưởng quan thuộc Lý Vương Chức (이왕직/李王職) và người Nhật Bản, tuyệt đại đa số các cổ đông lớn khác đều là những nhân vật thân, tiêu biểu như Vĩnh Tiên Quân (영선군/永宣君), Cao Hy Kính (고희경/高羲敬), Mẫn Vịnh Huy (민영휘/閔泳徽), Phác Định Dương (박정양/朴定陽), Lý Đạt Dung (이달용/李達鎔), Lý Hoàn Dụng (이완용/李完用), Lý Doãn Dụng (이윤용/李允用), Lý Hàng Cửu (이항구/李恒九), và Hàn Xương Tu (한창수/韓昌洙)[20]. Vào năm 1930, lấy lý do bị bệnh kinh niên, Nghĩa Thân vương đã đệ đơn thỉnh nguyện lên Thiên hoàng Chiêu Hòa xin được ẩn cư (hoàn trả tước vị Công). Thông qua nghị quyết của Hội nghị Vương Hoàng tộc, đơn xin ẩn cư của ông đã được chấp thuận. Vào tháng 6, ông nhượng lại tước vị Công cho con trai trưởng (thứ xuất) của mình là Lý Kiện (이건/李鍵). Kể từ đó, Nghĩa Thân vương được miễn trừ mọi nghĩa vụ đối với Vương Công tộc, đồng thời bãi miễn chức vụ tại Bộ Tư lệnh Quân đội Đế quốc Nhật Bản[21].

Sau thời kỳ Quang phục

Vào tháng 10 năm 1945, Nghĩa Thân vương đã đến gặp Lý Thừa Vãn (이승만/李承晩) và bày tỏ: "Xin cảm tạ những nỗ lực vì sự nghiệp Quang phục đất nước, mong ngài hãy tiếp tục hoạt động vì Đại Hàn Dân Quốc trong tương lai". Tiếp đó, ông nói thêm: "Bản thân tôi giờ đây nguyện làm một người dân thường (nhất bình dân) để dốc sức vì Đại Hàn Dân Quốc"[22]. Đến tháng 12, các tờ báo đưa tin ông đã đến Kính Kiều Trang (경교장/京橋莊) để hội kiến với Kim Cửu (김구/金九) trong khoảng 20 phút trước khi trở về. Về sau, ông được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội Ái quốc.

Năm 1950, khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, ông đã đến lánh nạn tại Phủ giáo đường Đông Lai ở Phủ San (nay là chùa Pháp Luân). Do khoản tiền trợ cấp của chính phủ bị cắt, ông phải sống lay lắt qua ngày bằng vỏ cây. Khi Hiệp định đình chiến được ký kết năm 1953, ông được phép quay trở lại An Đông biệt cung.

Vào năm 1955, ông cải đạo sang Thiên Chúa giáo với tên Thánh rửa tội của ông là 'Pio' (비오). Trên giường bệnh, ông nhận được bí tích rửa tội với người đỡ đầu là Phó tổng thống Trương Miễn (장면/張勉). Vào ngày 16 tháng 8 cùng năm, do các biến chứng tổng hợp như di chứng suy dinh dưỡng, áp lực tinh thần và chứng hỏa bệnh (bệnh uất ức tích tụ thành hỏa), ông đã tạ thế tại An Quốc Động Biệt Cung (안국동별궁/安國洞別宮), hưởng thọ 78 tuổi.

Gia đình

Cha mẹ

Thê thiếp

Chính thất

  • Đức Nhân đường Kim thị (덕인당김씨/德仁堂金氏), còn được gọi là Nghĩa Thân vương phi (의친왕비/義親王妃, 22 tháng 12 năm 188014 tháng 4 năm 1964), tên đầy đủ là Kim Đức Su (김덕수/堂德修), tên khác Kim Thục (김숙), người ở Diên An. Bà là hậu duệ đời thứ 10 của Diên Hưng Phủ Viện Quân Kim Tế Nam (김제남/金悌男), thân phụ của Nhân Mục Vương hậu, con gái của Nghị chính phủ Tán chính Kim Sa Tuấn (김사준/金思濬) và phu nhân Hoàng thị ở Thanh Nguyên (창원 황씨/昌原 黃氏). Kết hôn vào năm Cao Tông thứ 30 (1893), sắc phong Diên Nguyên quận Phu nhân (연원군부인/延原郡夫人), được đánh giá là người thông tuệ hiểu biết, viết chữ đẹp, rất được Minh Thành Hoàng hậu yêu quý. Năm Cao Tông thứ 44 (1907), cải thành Thân vương phi (친왕비/親王妃). Qua đời do huyết áp thấp tại Thất Cung (칠궁/七宮), hưởng thọ 83 tuổi[23].

Trắc thất

  • Tu Hoa đường Đăng Điền thị (修華堂 藤田氏), người Nhật Bản.
  • Tu Quán đường Trịnh thị (수관당 정씨, ? - 1912), sinh một con trai.
    • Trưởng tử: Lý Kiện (이건, 28 tháng 10 năm 190921 tháng 12 năm 1990), năm 1930 tiếp quản vị trí đương chủ của Tứ Động Cung. Sau khi mất tước vị năm 1947, ông nhập quốc tịch Nhật Bản, đổi tên thành Momoyama Ken'ichi; ông và hậu duệ của mình do đó mất tư cách hoàng tộc Triều Tiên.
  • Tu Nhân đường Kim thị (수인당 김씨), tên đầy đủ là Kim Hưng Nhân (김흥인), con gái của Kim Đức Tiên (김일선), sinh ba con trai.
    • Nhị tử: Lý Vũ (이우, 15 tháng 11 năm 19127 tháng 8 năm 1945), được cho làm con nuôi của đường bá phụ là Vĩnh Tuyên quân. Kết hôn với Phác Tán Châu (cháu gái Phác Vịnh Hiếu), có hai con trai: Lý Thanh, Lý Tông.
    • Ngũ tử: Lý Chú (이주, 19181982), còn có tên là Lý Thọ Cát (이수길), tên trong gia phả là Lý Hải Sưởng (이해창), được cho làm con nuôi của Nam tước Lý Dần Dung (hậu duệ của Lý Trấn Dực); có hai con trai và hai con gái.
    • Lục tử: Lý Côn (이곤, 19191984). Sau khi trưởng huynh nhập tịch Nhật Bản vào năm 1947, ông trở thành người kế thừa của Lý Cương, có một con trai.
  • Tu Hiền đường Trịnh thị (수현당 정씨), tên đầy đủ là Trịnh Vân Thạch (정운석), sinh một con trai.
    • Tam tử: Lý Bảng (이방, 19141951), không có con.
  • Tu Đức đường Lý thị (수덕당 이씨), tên đầy đủ là Lý Hy Xuân (이희춘), sinh hai con gái.
    • Trưởng nữ: Lý Hải Ngoạn (이해완, 19151981), con nuôi của Tử tước Lý Kỳ Dung.
    • Nhị nữ: Lý Hải Viên (이해원, 19192020), con nuôi của Tử tước Lý Kỳ Dung. Năm 1936 kết hôn với Lý Thăng Khuê, có ba con trai và một con gái.
  • Tu Hoàn đường Kim thị (수완당 김씨), tên đầy đủ là Kim Trinh Hoàn (김정완), con gái của Kim Thánh Hoán (김성환), sinh một con gái.
    • Tam nữ: Lý Hải Quân (이해춘, 19202009), con nuôi của Tử tước Lý Kỳ Dung. Kết hôn với Hầu tước Phác Tán Phạm (cháu đích tôn của Phác Vịnh Hiếu), có một con trai là Phác Hanh Vũ (1937–2012).
  • Tu Cát đường Phác thị (수길당 박씨), tên đầy đủ là Phác Anh Hỷ (박영희), con gái của Phác Vinh Lộc (박영록), sinh một con gái.
    • Tứ nữ: Lý Hải Túc (이해숙, 1920 – ?), con nuôi của Tử tước Lý Kỳ Dung.
  • Tu Khánh đường Kim thị (수경당 김씨), tên đầy đủ là Kim Xương Hy (김창희), sinh một con trai.
    • Bát tử: Lý Huyền (이현, 19221996).

Thứ thất

  • Tào Bính Thục (조병숙), sinh một con trai.
    • Tứ tử: Lý Sướng (이창, 1915 – không rõ năm mất), được cho làm con nuôi của Lý Hiến Dung.
  • Tống thị (송씨), sinh một con trai.
    • Thất tử: Lý Khoáng (이광, 19211952), được cho làm con nuôi của Tử tước Lý Kỳ Dung.
  • Kim Kim Đức (김금덕, 19091975), sinh một con gái.
    • Ngũ nữ: Lý Hải Quỳnh (이해경, sinh năm 1930), con nuôi của Tử tước Lý Kỳ Dung. Định cư tại Mỹ.
  • Hàm Khai Phụng (함개봉), sinh một con trai.
  • Kim Huệ Thù (김혜수), sinh một con trai và hai con gái.
    • Lục nữ: Lý Huệ Tử (이혜자, sinh năm 1940).
    • Thập nhất tử: Lý Hoàn (이환, sinh năm 1944).
    • Cửu nữ: Lý Xương Huệ (이창혜, sinh năm 1950).
  • Hồng Trinh Thuận (홍정순, 1920 - 1971), sinh hai con trai và hai con gái.
    • Thập tử: Lý Tích (이석, sinh năm 1941), có hai con gái và một con nuôi.
    • Thất nữ: Lý Hải Nhiễm (이해염, sinh năm 1944).
    • Thập nhị tử: Lý Chính (이정, sinh năm 1947).
    • Bát nữ: Lý Hải Dung (이해용, sinh năm 1950).
  • Kim Cẩm Châu (김금주, 1894 - ?), con gái họa sĩ Kim Lăng Hải (김능해).
  • Nông Châu (농주)
  • Triệu Bính Thục (조병숙)

Cựu thứ thất[24]

  • Tu Ân đường Tống thị (수은당 송씨), tên đầy đủ là Tống Ân Tiệm (송은점).
  • Hương Lan (향란), Lý Nghiên Nghiên (이연연), Khương Thiện Ngọc (강선옥), Ngô Tiểu Hồng (오소홍, 1892 - ?), Lý Liễu Sắc (이유색, 1900 - ?), Lý Liễu Oanh (이유앵, 1905 - ?), Trương Hạc Tiên (장학선, 1906 - 1970)
  • Kim Kim Đức (김금덕, 1909 - 1975), tốt nghiệp Trường Bảo dục Kinh Thành, từng là giáo viên mầm non. Do có sự phản kháng đối đầu với Nghĩa Thân vương nên bị trục xuất khỏi cung, sau đó bà tái hôn và tiếp tục tham gia vào các hoạt động xã hội, từng tham gia tranh cử trong các kỳ bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa I và khóa II.

Chú thích

  1. ^ 《덕수장씨족보 갑인보(德水張氏族譜 甲寅譜)》 548 ~ 550쪽
  2. ^ Sau khi Vương thế tử (Thuần Tông) ra đời, nếu có các Vương tử quân khác được sinh ra, thì trước khi Vương thế tử tròn 10 tuổi, các Vương tử quân đó không được phép vào cung bái kiến
  3. ^ Bản mẫu:웹 인용{{|url=http://m.breaknews.com/291797}}
  4. ^ 한국사료총서 >『梅泉野錄』 제5권 > 光武 10년 丙午(1906년) ① > 18. 李堈의 환국
  5. ^ “친일파 708명 공개(한겨례신문 2002.03.01)”.
  6. ^ 한국사데이터베이스 > 한국사료총서 > 국역 윤치호 영문 일기3 > 1895년(조선 개국 504·고종 32·을미) 8월 17일(음력 27일) 토요일 어제처럼 더운 날
  7. ^ 한국사데이터베이스 > 한국사료총서 > 국역 윤치호 영문 일기4 > 1898년(개국 507년·광무 2·무술) 5월 2일(음력 12일)《월요일》 더움
  8. ^ 《고종실록》 고종 32년 10월 2일 1/1 기사
  9. ^ 한국사데이터베이스 > 한국사료총서 > 국역 윤치호 영문 일기3 > 1895년(조선 개국 504·고종 32·을미) > 10월 > 8일(음력 20일) 《화요일》
  10. ^ 한국사데이터베이스 > 한국사료총서 > 국역 윤치호 영문 일기3 > 1895년(조선 개국 504·고종 32·을미) 10월 9일(음력 21일) 《수요일》
  11. ^ 한국사데이터베이스 > 한국사료총서 > 국역 나암수록 제4책 > 전국의 백성들에게 보임 > 병오년(1906, 고종43) "3월 13일에 의화군(義和君)이 일본에서 나왔다. - 곤전(坤殿)의 상사(喪事)가 난 뒤에 이준용(李駿鎔)과 일본에 들어갔다. -"
  12. ^ 한국사데이터베이스 > 사료 고종시대사 21 > 1897년(고종 34) 5월 9일, 5월 25일
  13. ^ 민족문제연구소 > [오마이뉴스] 2023년 12월 19일 "나라 팔아먹은 임금의 형… 이완용보다 5배 더 받았다"
  14. ^ 대한민국 신문 아카이브 > 매일신보 > 1911년 01월 18일 > 李王大將任命
  15. ^ 《日本之朝鮮》. 有樂社. 1911.
  16. ^ 대한민국 신문 아카이브 > 매일신보 > 1912년 08월 18일 > 사진: 李王殿下의 名代로 御大葬에 參列할 李堈公殿下
  17. ^ 대한민국 신문 아카이브 > 매일신보 > 1919년 02월 06일 > 집상, 족부종기와 혈증이 계셔
  18. ^ 공훈전자사료관 > 독립운동사 >독립운동사 제4권 : 임시정부사 > 제2장 국내외 동포의 지원 활동 445쪽, 446쪽
  19. ^ 중앙일보 2012.01.07 "상해 임정 향하던 의친왕, 안동현서 잡혀 망명 실패"|https://www.joongang.co.kr/article/7082192
  20. ^ 한국사데이터베이스 > 근현대회사조합자료 > 한성은행(漢城銀行)
  21. ^ 대한민국 신문 아카이브 > 조선일보 1930년 06월 17일 "李堈公殿下軍司令部附をも免ぜられた"
  22. ^ 대한민국 신문 아카이브 > 자유일보 1945년 10월 28일 "舊韓 義親王 李박사에 메시지"
  23. ^ 네이버뉴스 라이브러리 > 동아일보 > 1964년 01월 14일 > 의친왕비 김씨 별세
  24. ^ ám chỉ những người đã ly hôn với Nghĩa Hòa quân