Bước tới nội dung

Phêrô Nguyễn Công Danh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Nguyễn Công Danh)
Phêrô Nguyễn Công Danh
Sinh13 tháng 9 năm 1935
Xã Lương Hòa Hạ (nay thuộc xã Lương Hòa), huyện Bến Lức, tỉnh Long An, Đông Dương thuộc Pháp
Mất27 tháng 7 năm 2016 (81 tuổi)
Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Quốc tịch Việt Nam
Dân tộcKinh
Nghề nghiệpLinh mục, Nhà hoạt động xã hội
Tôn giáoCông giáo Rôma
Cha mẹPhêrô Nguyễn Văn Trông
Maria Đoàn Thị Phận
Giải thưởngHuân chương Độc lập hạng Nhì
Huân chương Lao động hạng Nhì
Huân chương Đại đoàn kết dân tộc

Phêrô Nguyễn Công Danh (13 tháng 9 năm 1935 – 27 tháng 7 năm 2016) là một linh mục Công giáo người Việt Nam. Ông là một giáo sĩ tiêu biểu cho tinh thần "Kính Chúa, yêu nước", có nhiều đóng góp to lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong suốt cuộc đời đạo nghiệp, ông từng đảm nhiệm vai trò chánh xứ tại các giáo xứ Mẫu Tâm (Nhà Bè), Xóm Chiếu (Quận 4) và Thị Nghè (Bình Thạnh), đồng thời là Linh giám Hội đoàn Legio Mariae Việt Nam. Trên nghị trường và các tổ chức chính trị - xã hội, ông từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa VII, VIII), Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam và là Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh qua nhiều khóa.[1]

Thân thế và tu học

Linh mục Phêrô Nguyễn Công Danh sinh ngày 13 tháng 9 năm 1935 trong một gia đình nghèo tại vùng nông thôn Nam Bộ thuộc họ đạo Lương Hòa Hạ, nằm bên dòng sông Vàm Cỏ Đông (nay thuộc xã Lương Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ông thuộc Giáo phận Mỹ Tho ngày nay. Song thân của ông là cụ ông Phêrô Nguyễn Văn Trông và cụ bà Maria Đoàn Thị Phận.[2]

Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Công giáo lâu đời; thân mẫu ông là hậu duệ đời thứ 4 của Thánh tử đạo Phêrô Đoàn Công Quí.[3] Người anh trai cả của ông là linh mục Giuse Nguyễn Hiếu Lễ.

Sống trong cảnh quê hương bị gót giày thực dân Pháp giày xéo, năm 1945 (khi mới 10 tuổi), ông đã sớm chứng kiến phong trào Thanh niên Tiền phong sục sôi tại nông thôn và được các anh chị dạy võ, dạy hát những bài ca yêu nước như Lên đàng, Nam Bộ kháng chiến. Khi người anh trai đi tu, đã khuyên ông: "Em đi tu để em được như anh, giúp Giáo hội và quê hương, Tổ quốc". Lời căn dặn đó đã trở thành kim chỉ nam cho lý tưởng dấn thân của ông sau này.[1]

Năm 1945, do tình hình chiến tranh, gia đình ông di tản lên Sài Gòn tạm sống ở họ đạo Cầu Kho. Năm 1947, khi 12 tuổi, ông được linh mục chánh xứ Cầu Kho giới thiệu vào tu học tại Tiểu chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn.

Cuộc đời đạo nghiệp

Sứ vụ mục vụ

Ngày 23 tháng 4 năm 1963, ông chính thức thụ phong linh mục tại Sài Gòn. Sau khi chịu chức, ông được giữ lại làm giáo sư Việt văn tại Tiểu chủng viện Thánh Giuse.

Năm 1971, ông được bổ nhiệm làm Linh mục Chánh xứ Mẫu Tâm (huyện Nhà Bè, nay thuộc phường Tân Kiểng, Quận 7). Cuối tháng 3 năm 1975, ông tham gia đoàn hành hương thăm Đất Thánh (Jerusalem), Thành Vatican và Pháp. Dù thời điểm đó chính quyền Việt Nam Cộng hòa sắp sụp đổ và có nhiều lời đồn đại ly gián về việc "cộng sản tắm máu, cấm đạo", nhiều người trong đoàn đã quyết định ở lại Pháp, nhưng ông vẫn kiên quyết trở về Việt Nam vì trách nhiệm với giáo xứ. Khi giáo dân hoang mang, ông điềm tĩnh trấn an: "Ai nói thế, làm gì có việc đó? Chúng ta cứ bình tĩnh hoạt động tôn giáo bình thường. Chính sách 10 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tuyên bố đảm bảo sinh hoạt bình thường của nhân dân". Sự vững vàng của ông đã giúp giáo dân xứ Mẫu Tâm ổn định tinh thần, không ly tán.[4]

Năm 1982, ông được thuyên chuyển làm Chánh xứ Xóm Chiếu (Quận 4). Đến tháng 11 năm 1991, ông được bổ nhiệm làm Chánh xứ Giáo xứ Thị Nghè (Quận Bình Thạnh). Trong suốt 22 năm gắn bó với Thị Nghè, từ một địa bàn phức tạp, nhiều người vô gia cư và tệ nạn xã hội, ông đã miệt mài thăm viếng hơn 1.500 hộ giáo dân, xây dựng lại tình đoàn kết, chăm lo cho người nghèo, cải tạo môi trường sống, giúp giáo xứ hoàn toàn "lột xác".[1]

Tháng 5 năm 1997, Giám mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi (Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh) đã chỉ định ông làm Linh giám Senatus – Hội đoàn Legio Mariae Việt Nam.

Hoạt động xã hội và Đồng hành cùng dân tộc

Tháng 4 năm 1977, chính quyền địa phương mời Linh mục Nguyễn Công Danh tham gia Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Nhà Bè. Khi xin ý kiến, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã khuyên ông: "Cách mạng tín nhiệm cha thì cha cố gắng nhận đi và làm tốt vai trò công dân, làm cầu nối giữa đạo và đời". Vâng lời bề trên, ông bắt đầu dấn thân vào các hoạt động xã hội.[4]

Dù đôi lúc vấp phải những lời xì xầm, hiểu lầm từ một bộ phận giáo dân thủ cựu gọi ông là "linh mục quốc doanh", ông vẫn kiên định với con đường phục vụ. Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn từng công khai bảo vệ ông trước báo chí quốc tế: "Linh mục là tài sản của Giáo hội, là sở hữu của Đức Cha giáo phận. Không có linh mục nào là quốc doanh cả".[1]

Trong suốt cuộc đời, ông đã đảm trách nhiều vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị và tôn giáo:[2]

  • Mặt trận Tổ quốc: Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (từ 1994), Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (từ 2008); Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP. HCM (từ 1998).
  • Ủy ban Đoàn kết Công giáo: Ủy viên (từ 1983), Phó Chủ tịch (khóa IV: 2003 – 2008), và Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam (khóa V, VI từ 2008). Đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo TP. HCM (từ 1998).
  • Hội đồng nhân dân: Đại biểu HĐND TP. HCM (khóa V, VI); Đại biểu HĐND các huyện Nhà Bè, Quận 4 và Bình Thạnh.

Ông luôn đề cao tinh thần Phúc Âm, kêu gọi giáo dân sống tốt đạo đẹp đời: "Một đời sống đạo hạnh là chung sức, chung lòng cùng dân tộc xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp ngay trên trần thế".

Những năm cuối đời và Vinh danh

Năm 2014, do tuổi cao sức yếu, ông xin Tòa Tổng Giám mục nghỉ hưu và trở về sinh sống những ngày cuối đời tại quê hương Lương Hòa (Long An).

Lúc 21 giờ 15 phút ngày 27 tháng 7 năm 2016, Linh mục Phêrô Nguyễn Công Danh qua đời tại Bệnh viện Thống Nhất (TP. Hồ Chí Minh), hưởng thọ 81 tuổi, sau 53 năm thực thi thiên chức linh mục. Thánh lễ an táng của ông được cử hành trọng thể tại nhà thờ Giáo xứ Thị Nghè, sau đó thi hài được đưa về an táng tại phần đất gia đình, đối diện nhà thờ Lương Hòa Hạ (Bến Lức, Long An).[5]

Ghi nhận những đóng góp bền bỉ cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã trao tặng ông nhiều phần thưởng cao quý:

Chú thích

  1. ^ a b c d Phạm Vũ - Mai Hương (ngày 30 tháng 7 năm 2016). "Tình yêu nước của một linh mục". Báo Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  2. ^ a b "Vĩnh biệt vị mục tử nhân lành". Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  3. ^ "Tìm về dòng dõi Thánh Phêrô Đoàn Công Quí". Báo Công giáo và Dân tộc. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  4. ^ a b c "Linh mục Phêrô Nguyễn Công Danh: Người công giáo kính chúa, yêu nước". Báo Đại Đoàn Kết. ngày 29 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  5. ^ "Tang lễ cố linh mục Phêrô Nguyễn Công Danh". Báo Công giáo và Dân tộc. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.

Liên kết ngoài