Nguyễn Thị Huyên (chữ Hán: 阮氏萱; 18071892), phong hiệu Tam giai Đức tần (三階德嬪), là một cung phi của vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Nhã Thuận Đức tần
雅順德嬪
Thiệu Trị Đế Tam giai Tần
Thông tin chung
Sinh1807
Mất1892 (85 tuổi)
Phu quânNguyễn Hiến Tổ
Thiệu Trị
Hậu duệPhú Lệ Công chúa Đôn Trinh
Phú Lương công Hồng Diêu
Tên húy
Nguyễn Thị Huyên (阮氏萱)
Thụy hiệu
Nhã Thuận Đức tần
(雅順德嬪)
Tước hiệuPhủ thiếp (府妾)
Cung tần (宮嬪)
Tứ giai Ý tần (四階懿嬪)
Tam giai Đức tần (三階德嬪)
Thân phụNguyễn Đức Xuyên

Thân thế

Gia thế

Đức tần Nguyễn Thị Huyên là người gốc ở phủ Thừa Thiên đến đời ông nội bà thì chuyển vào thành Gia Định, bà Huyên sinh năm Gia Long thứ 5 (1807), là con gái của Khoái châu Quận công Nguyễn Đức Xuyên.[1] Ông Xuyên tham gia cuộc chiến của chúa Nguyễn Ánh chống lại triều Tây Sơn rồi làm quan dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng.

Dòng họ Nguyễn của bà có nhiều người đã từng lập chiến công lẫy lừng dưới thời Lê Trung hưng, như tướng Nguyễn Hữu Liêu. Đến đời thứ 13, ông cố của bà là Nguyễn Đức Triêm đã rời Thuận Hóa bỏ vào Quy Nhơn sinh sống.[2] Sang đời ông Nguyễn Đức Quảng lại chuyển vào sống ở Gia Định, là cha của Nguyễn Đức Xuyên. Tại đây, ông Quảng đã ra tòng quân, nhưng vì tuổi cao sức yếu nên giữa chừng phải quay về.[2]

Gia đình

Quận công Nguyễn Đức Xuyên có 13 người con trai là Thiện, Hỗ, Nhân, Hựu, Phước, Hy, Ty, Kỳ, Niên, Lộc, Điện, Niên, Uy.[2] Và ông còn ít nhất 2 người con gái, được chính sử nhắc đến. Năm Gia Long thứ 16 (1817), Nguyễn Đức Thiện được ấm thụ làm Kiêu kỵ đô úy.[3] Tháng 3 (âm lịch) năm sau (1818), Thiện lấy An Thái Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Nga con vua Gia Long, nhưng chưa được bao lâu thì phò mã Thiện mất ngay vào năm đó.[4] Nguyễn Đức Hỗ, được phong làm Vệ úy, trật Tòng tam phẩm,[5] sau tập phong Khoái Châu bá. Hỗ cũng lấy một công chúa con vua Gia Long, là Nghĩa Hòa Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Nguyệt, được phong Phò mã đô úy.[6]

Còn Nguyễn Đức Nhân làm quan đến Vệ úy, Nguyễn Đức Hựu giỏi văn, làm quan đến Viên ngoại lang bộ Binh.[2] Một người con gái của Đức Xuyên, tên là Nguyễn Thị Ngạn, sinh năm 1797, năm 1812 thì nhập cung hầu Gia Long, đến khi vua sắp mất thì cho về nhà theo ý Bà Ngạn vẫn còn giữ tiết không tái giá, được vua Minh Mạng ban thưởng cho 500 quan tiền và 500 phương gạo.[7] Còn bà Huyên là người con gái thứ 2.

Nhập cung

Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), bà Huyên nhập phủ Trường Khánh công làm thiếp cho Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Miên Tông, gọi là Phủ thiếp (府妾).[1] Đến năm sau tức năm Minh Mạng thứ 13 (1838), bà Yên hạ sinh con gái thứ 18 là Nguyễn Phúc Đôn Trinh. Sử sách ghi lại, chúa Đôn Trinh là người đôn hậu, cung kiệm, hành động có lễ giáo, đúng cốt cách của bậc Công chúa nhà Chu.[8]

Năm Minh Mạng thứ 20 (1841), Hoàng đế băng hà, Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Miên Tông đăng cơ, sử gọi là [Thiệu Trị Đế]. Do thời gian mãn tang tiên đế chưa hết, lúc này bà Huyên cùng các bà phủ thiếp khác của ông đều được gọi chung làm Cung tần (宮嬪), chờ mãn tang vua Minh Mạng mới phân định thứ bậc.[1]

Tháng 5 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Thiệu Trị đại phong hậu cung, bà Yên được sách phong làm Tứ giai Ý tần (四階懿嬪).[1] Đến ngày 12 tháng 5 năm Thiệu Trị thứ 5 (16 tháng 6 năm 1845), bà Ý tần Nguyễn Thị Huyên lại hạ sinh người con trai thứ 25 cho Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Hồng Diêu.

Không rõ thời gian bà được tấn thăng làm Tam giai Đức tần (三階德嬪), nhưng có thể là sau năm Thiệu Trị thứ 6 (1846).[9] Năm Thành Thái thứ 4 (1892), tiên triều Đức tần Nguyễn Thị Huyên qua đời, hưởng thọ 85 tuổi, thụy hiệuNhã Thuận (雅順). Không rõ nơi bà Nguyễn Thị Huyên được an táng ở đâu.

Hậu duệ

Trong văn hóa đại chúng

Năm Tác Phẩm Diễn Viên Nhân Vật
2020 Phượng khấu Như Phượng Nguyễn Thanh Huyền

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ a b c d Nguyễn Phúc tộc thế phả, tr.282
  2. ^ a b c d Trần Đại Vinh, sđd, tr.4
  3. ^ Đại Nam thực lục, tập 1, tr.955
  4. ^ Đại Nam thực lục, tập 1, tr.967
  5. ^ Đại Nam thực lục, tập 2, tr.320
  6. ^ Đại Nam thực lục, tập 2, tr.328
  7. ^ Đại Nam thực lục, tập 2, tr.413
  8. ^ Đại Nam liệt truyện, tập 3, quyển 10 – phần Phú Lệ Công chúa Đôn Trinh
  9. ^ Nguyễn Thị Xuyên
  10. ^ a b Dựa theo dòng chữ khắc trên bia mộ của công chúa Phú Lệ
  11. ^ Đại Nam thực lục, tập 7, tr.926
  12. ^ Nguyễn Phúc tộc thế phả, tr.358