Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

Nguyễn Trọng Xuyên
Chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Thông tin cá nhân
Quốc tịch Việt Nam
Sinh10 tháng 10, 1926
Kim Động, Hưng Yên, Bắc Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất21 tháng 6, 2012(2012-06-21) (85 tuổi)
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội, Việt Nam
Nơi an nghỉNghĩa trang Mai Dịch
Nơi ởKhu tập thể K80B, ngõ 376/35 Đường Bưởi, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Nghề nghiệpTướng lĩnh, Chính khách
Dân tộcKinh
Tôn giáoKhông
Đảng chính trịBản mẫu:CSVN
Họ hàngNguyễn Quyết (cậu)
Alma materHọc viện Quốc phòng
Binh nghiệp
ThuộcQuân đội nhân dân Việt Nam
Phục vụ Việt Nam
Năm tại ngũ1945 – 1999
Cấp bậcBản mẫu:QH
Tham chiếnChiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam

Bản mẫu:Wikidata hình ảnh

Nguyễn Trọng Xuyên (10 tháng 10 năm 192621 tháng 6 năm 2012) là một chính khách, Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng. Ông nguyên là Thứ trưởng Thường trực Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Tư lệnh Quân khu 6 thuộc Bộ Tư lệnh Miền (B2). Ông từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI, VII, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương; Đại biểu Quốc hội khoá VIII, IX.

Thân thế

Ông sinh ngày 10 tháng 10 năm 1926 tại xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động (nay là xã Lương Bằng), tỉnh Hưng Yên. Đại tướng Nguyễn Quyết là vai cậu của ông.[1]

Cha mất sớm khi ông mới được 3 tháng tuổi, nhà nghèo nhưng mẹ ông vẫn tảo tần nuôi ông ăn học.[2] Năm ông 13 tuổi, vì không thể tiếp tục cho con ăn học được nữa, mẹ ông đem cầm cố mảnh ruộng duy nhất của gia đình lấy tiền cho ông sang Phnôm Pênh nương nhờ người chú để tiếp tục học hành.[1] Hai năm sau, mẹ ông mất vì bệnh tật trong nghèo khó. Mãi đến đầu năm 1944, khi bà nội mất, ông mới theo chú về quê chịu tang, sau đó trở lại Phnôm Pênh, theo học nghề tại một xưởng may.[2]

Con đường binh nghiệp

Tại xưởng may, ông có dịp tiếp xúc với một số Đảng viên Cộng sản và bắt đầu chịu ảnh hưởng của họ về tư tưởng cách mạng và độc lập dân tộc. Cuối năm 1944, ông cùng với một số bạn bè Việt kiều yêu nước về Sài Gòn tham gia lực lượng bán quân sự chống Pháp do người Nhật lập ra. Tuy nhiên, sau khi thấy người Nhật không giữ lời hứa trao trả độc lập, ông cùng một số bạn bè ly khai để gia nhập phong trào Việt Minh, sau đó tham gia giành chính quyền trong Cách mạng tháng 8 tại Sài Gòn.[1]

Sau khi quân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ, ông tham gia chiến đấu trên cương vị Trung đội phó thuộc Bộ đội Nguyễn Văn Vĩnh. Từ tháng 6 năm 1946 đến tháng 2 năm 1948, ông lần lượt giữ các chức vụ Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1, Sư đoàn 27, Khu 5. Tháng 9 năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ tháng 3 năm 1948 đến tháng 12 năm 1949, ông lần lượt là Đại đội trưởng chủ lực Khu 6, Tổ trưởng Tổ tác chiến thuộc Trung đoàn 80 tỉnh Khánh Hòa; Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 121, Liên Trung đoàn 80–83.

Từ tháng 1 năm 1950 đến tháng 12 năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ Tiểu đoàn phó Thị đội Nha Trang, Đại đội Độc lập 252; Tiểu đoàn phó phụ trách Liên Đại đội Nam Khánh, kiêm Huyện đội phó Nam Khánh, tỉnh Khánh Hòa; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 88; Tham mưu trưởng Trung đoàn 96, Sư đoàn 305.

Từ tháng 1 năm 1955 đến tháng 3 năm 1960, ông lần lượt là Trung đoàn phó – Tham mưu trưởng; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Sư đoàn 305; Tham mưu phó Sư đoàn 305; Học viên Trường Trung cao Quân sự.

Từ tháng 4 năm 1960 đến tháng 5 năm 1966, ông vào Nam chiến đấu, là Tham mưu trưởng Lữ đoàn 303; tháng 8 năm 1961, được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Khu 6.

Từ tháng 6 năm 1966 đến tháng 1 năm 1969, ông là Phó Tư lệnh Quân khu 10, Phó ban Quân sự T10 Nam bộ; từ tháng 2 năm 1969 đến tháng 12 năm 1972 là Phó Tư lệnh, Tư lệnh Quân khu 6, Thường vụ Đảng ủy Quân khu.

Từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 1 năm 1977, ông là Trưởng đoàn quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong Ban liên hợp quân sự bốn bên khu vực Phan Thiết; Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thuận Hải.

Từ tháng 2 năm 1977 đến tháng 2 năm 1979, ông học tại Học viện Quân sự cao cấp; sau đó giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 3, Thường vụ Đảng ủy Quân khu (đến tháng 12 năm 1984); được phong hàm Thiếu tướng (tháng 1 năm 1983).

Từ tháng 1 năm 1985 đến tháng 3 năm 1986, ông làm Trưởng đoàn kiêm Phó Bí thư, Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Cuba.

Từ tháng 4 năm 1986 đến 1988, ông tiếp tục giữ chức Tư lệnh Quân khu 3, Bí thư Đảng ủy Quân khu.

Từ tháng 1 năm 1989, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Qua đời

Ông qua đời vào 11 giờ 40 phút ngày 21 tháng 6 năm 2012 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 do tuổi cao, sức yếu, hưởng thọ 85 tuổi. Linh cữu ông quàn tại Nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, sau đó được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.== Lịch sử thụ phong quân hàm ==

Năm thụ phong 1983 1988 1992
Quân hàm
Cấp bậc Thiếu tướng Trung tướng Thượng tướng

Vinh danh

Ông được tặng thưởng:

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ a ă Nguyễn Trọng Xuyên - Vị tướng giàu lòng nhân ái

Liên kết ngoài