Bước tới nội dung

Nô-ê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Noah)

Bản mẫu:Infobox religious biography Nô-ê (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPAc-en”.;[1] tiếng Hebrew: נֹחַ, đã Latinh hoá: Nōaḥ, n.đ.'nghỉ ngơi' hoặc 'an ủi', cũng được gọi là Noach) là vị tổ phụ thời kỳ tiền Đại hồng thuỷ cuối cùng trong truyền thống tôn giáo Abraham. Câu chuyện của ông xuất hiện trong Kinh thánh Hebrew (Sách Sáng thế, chương 5-9), Kinh Qur'an và các tác phẩm Baha'i, cũng như ngoài kinh điển.

Câu chuyện về trận đại hồng thuỷ trong Sáng thế ký là một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất trong Kinh Thánh. Tương truyền Chúa quyết định trừng phạt những kẻ gian ác. Nô-ê sau đó đã trung thành đóng con tàu theo lệnh của Chúa, cuối cùng không chỉ cứu được gia đình mình mà còn cứu cả loài người và tất cả các loài động vật trên cạn khỏi tuyệt chủng trong trận Đại hồng thủy. Sau đó, Chúa lập giao ước với Nô-ê và hứa sẽ không bao giờ nhấn chìm trái đất trong lũ lụt nữa. Nô-ê cũng được miêu tả là "người cày ruộng", người đầu tiên trồng nho. Sau trận lụt, Chúa truyền lệnh cho Nô-ê và các con trai của ông rằng "hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều và làm đầy khắp đất"[2]

Câu chuyện về Nô-ê trong Ngũ Kinh tương tự như câu chuyện về trận lụt trong Sử thi Gilgamesh của Mesopotamia, được sáng tác khoảng năm 1800 trước Công Nguyên, kể rằng có một người anh hùng đóng một con thuyền để sống sót qua trận lụt do thần thánh giáng xuống. Các học giả cho rằng câu chuyện trong Kinh Thánh chịu ảnh hưởng từ các truyền thống Mesopotamia trước đó, với những điểm tương đồng đáng chú ý về các yếu tố cốt truyện và cấu trúc. Người ta cũng so sánh Nô-ê với người anh hùng Hy Lạp Deucalion, người cũng giống như Nô-ê, được cảnh báo về trận lụt, đóng một con thuyền và sai một con chim đi kiểm tra hậu quả của trận lụt.

Chuyện trong Kinh thánh

Bức tranh khảm Venice thế kỷ 12 mô tả cảnh Nô-ê thả chim bồ câu.

Tiểu sử Nô-ê

Theo lời kể về gia phả trong Sáng thế ký 5[3], Nô-ê là tổ phụ thứ mười và cuối cùng trong thời kỳ tiền Đại hồng thuỷ, con trai của Lê-méc và một người mẹ không được nhắc đến tên[4], Nô-ê ra đời năm Lê-méc 182 tuổi, và Nô-ê 500 tuổi khi ba người con trai Sem, ChamGia-phết ra đời[5]. Lê-méc mong đợi rằng Nô-ê sẽ "giải thoát chúng ta khỏi công việc và khỏi sự lao nhọc đau đớn của đôi tay chúng ta."[6]

Trận Đại hồng thuỷ trong Sáng thế ký

Câu chuyện về trận Đại hồng thuỷ trong Sáng thế ký được kể trong các chương 6–9 của Sách Sáng Thế trong Kinh Thánh[7]. Câu chuyện cho thấy rằng Đức Chúa Trời dự định đưa Trái Đất trở lại trạng thái hỗn mang ngập nước tiền Tạo Hóa bằng cách làm ngập Trái Đất vì những hành vi sai trái của loài người và sau đó tái tạo nó bằng cách sử dụng mô hình thu nhỏ của Con tàu Nô-ê. Do đó, trận Đại hồng thuỷ không phải là một trận lụt thông thường mà là sự đảo ngược của Sáng Tạo[8]. Câu chuyện kể về sự độc ác của loài người đã khiến Đức Chúa Trời hủy diệt thế giới bằng trận lụt, công việc chuẩn bị một số loài động vật lên tàu, Nô-ê và gia đình ông, và sự bảo đảm của Đức Chúa Trời (Giao ước Nô-ê) về lời hứa không bao giờ nhấn chìm Trái Đất nữa[9].

Bảy điều luật của Nô-ê

  1. Chỉ có một Đức Chúa Trời Duy Nhất, chỉ thờ phượng Chúa và không thờ phượng bất cứ thần nào khác.
  2. Không được phạm thượng, nói hay có hành động xúc phạm đến Đức Chúa Trời.
  3. Không được giết người.
  4. Không phạm tội tà dâm.
  5. Không trộm cướp.
  6. Không ăn thịt khi vật bị ăn còn sống (huyết và thú vật chết ngột)
  7. Thiết lập các tòa án của luật pháp để đảm bảo công lý trong thế giới. Tôn trọng pháp quyền và luật pháp.

Nô-ê, với tư cách là người cuối cùng trong số các tổ phụ tiền Đại hồng thuỷ khác sống rất lâu; ông qua đời 350 năm sau trận đại hồng thuỷ ở tuổi 950, khi Tê-ra 128 tuổi[5]. Tuổi thọ tối đa của con người trong Kinh Thánh giảm dần sau đó, từ gần 1.000 năm xuống còn 120 năm của Mô-sê[10][11].

Nô-ê say rượu

Nô-ê say rượu, Cham chế nhạo Nô-ê, Nô-ê bị chôn vùi, Ca-na-an bị nguyền rủa. (Sách Sáng Thế của Egerton)

Sau trận Đại hồng thuỷ, Kinh Thánh viết rằng Nô-ê trở thành nông dân trồng được một vườn nho. Ông uống rượu cất từ vườn nho này và say rượu; sau đó nằm "lõa thể" trong trại. Người con trai Cham nhìn thấy cha mình trần truồng thì ra ngoài thuật lại cùng hai anh em mình, khiến con trai của Cham là Ca-na-an bị Nô-ê rủa sả[12].

Từ những năm đầu tiên nhất thời Cổ đại Hy – La, các nhà bình luận về Sáng thế ký 9:20–21[13] đã biện hộ cho việc Nô-ê uống rượu quá mức vì ông được coi là người đầu tiên uống rượu và là người đầu tiên khám phá ra tác dụng của rượu[14]. Gioan Kim Khẩu, Giáo phụ kiêm Thượng phụ Đại kết thành Constantinopolis, viết vào thế kỷ 4 rằng hành vi của Nô-ê có thể biện minh được: là người đầu tiên nếm rượu, ông không thể biết tác dụng của nó: "Vì thiếu hiểu biết và thiếu kinh nghiệm về lượng rượu cần uống, ông đã rơi vào trạng thái say khướt."[15]. Trong văn hoá Do Thái và văn học Do Thái về Nô-ê, các giáo sĩ đổ lỗi cho Sa-tăng về đặc tính gây say của rượu[12][16]

Nô-ê rủa xả Cham bởi Gustave Doré

Trong bối cảnh Nô-ê say rượu,[17] kể lại hai sự kiện: (1) Nô-ê say rượu và "loã thể trong trại", và (2) Cham "thấy sự trần truồng của cha, thì ra ngoài thuật lại cùng hai anh em mình."[18][19]

Do tính ngắn gọn và không nhất quán về mặt văn bản, người ta cho rằng câu chuyện này là một "mảnh vỡ từ một câu chuyện dài"[20][21], bởi câu chuyện đầy đủ hơn sẽ giải thích chính xác Cham đã làm gì với cha mình, hoặc tại sao Nô-ê lại nguyền rủa Ca-na-an vì hành vi sai trái của Cham, hoặc làm thế nào Nô-ê nhận ra điều gì đã xảy ra. Trong lĩnh vực phê bình Kinh thánh tâm lý, J. H. Ellens và W. G. Rollins đã phân tích hành vi bất thường xảy ra giữa Nô-ê và Cham xoay quanh tình dục và việc phơi bày bộ phận sinh dục so với các văn bản Kinh thánh Hebrew khác, chẳng hạn như Habakkuk 2:15[22] và Lamentations 4:21[23][18].

Các bình luận khác đề cập rằng "nhìn thấy ai đó nằm loã thể" có thể có nghĩa là quan hệ tình dục với người đó hoặc vợ/chồng của người đó, như được trích dẫn trong Lê-vi ký 18:7–8[24] và 20[25]. Từ cách giải thích này, người ta suy đoán rằng Cham phạm tội loạn luân và cưỡng hiếp Nô-ê[26] hoặc mẹ ruột của mình. Cách giải thích sau sẽ làm rõ lý do tại sao Ca-na-an, là kết quả của mối quan hệ bất chính này, lại bị Nô-ê nguyền rủa[19]. Ngoài ra, Ca-na-an có thể chính là thủ phạm vì Kinh Thánh mô tả hành vi bất chính được thực hiện bởi "con trai út" của Nô-ê, trong khi Cham luôn được mô tả là con trai thứ trong các câu khác[27].

Cây gia phả

Sáng thế ký 5:1–32 truyền lại gia phả của người Xê-thít từ đầu đến Nô-ê, được lấy từ truyền thống tư tế[28]. Gia phả của người Ca-nít từ truyền thống Gia-quýt được tìm thấy trong Sáng thế ký 4:17–26[29]. Các học giả Kinh thánh coi đây là những biến thể trên cùng một danh sách[30]. Tuy nhiên, nếu coi văn bản hợp nhất của Sáng thế ký là văn bản duy nhất, chúng ta có thể xây dựng cây gia phả sau đây, đã được truyền lại dưới hình thức này trong truyền thống Do Thái và Cơ đốc giáo.

Bản mẫu:AdamtoNoah

Phân tích câu chuyện

Dựa trên giả thuyết tài liệu, năm cuốn sách Kinh Thánh đầu tiên, bao gồm cả Sáng thế ký, đều được tổng hợp vào thế kỷ thứ 5 TCN từ bốn nguồn chính có niên đại không sớm hơn thế kỷ 10 TCN. Hai trong số các nguồn này - nguồn Jahwist được biên soạn vào thế kỷ thứ 10 TCN, và nguồn Priestly từ cuối thế kỷ thứ 7 TCN - tạo nên các chương của sách Sáng thế ký liên quan đến Nô-ê. Nỗ lực của người biên tập thế kỷ thứ 5 nhằm dung hòa hai nguồn độc lập và đôi khi mâu thuẫn nhau đã dẫn đến sự nhầm lẫn về những vấn đề như Nô-ê đã mang bao nhiêu con vật mỗi loại, và trận lụt kéo dài bao lâu[31][32].

Bách khoa toàn thư Oxford về các sách trong Kinh Thánh ghi nhận rằng câu chuyện này có nhiều điểm tương đồng với câu chuyện Vườn Địa đàng: Nô-ê là người trồng nho đầu tiên, trong khi A-đam là người nông dân đầu tiên; cả hai đều gặp vấn đề với sản vật; cả hai câu chuyện đều liên quan đến loã thể; và cả hai đều liên quan đến anh em tan đàn xẻ nghé dẫn đến lời nguyền rủa. Tuy nhiên, sau trận lụt, hai câu chuyện lại khác nhau. Chính Nô-ê, chứ không phải Đức Chúa Trời, là người trồng vườn nho và thốt ra lời nguyền rủa, vì vậy "Đức Chúa Trời ít can thiệp hơn"[33].

Văn bản khác

Ngoài câu chuyện chính trong Sách Sáng Thế, Kinh Thánh Hebrew (Cựu Ước của Cơ Đốc giáo) cũng đề cập đến Nô-ê trong Sách Sử Ký thứ nhất, sách I-sai-asách Ê-xê-chi-ên. Các sách thuộc kinh điển thứ cấp bao gồm sách Tô-bít, Khôn Ngoan, Huấn Ca, 2 Ê-xra4 Ma-ca-bê. Các sách trong Tân Ước bao gồm các sách Phúc Âm MátthêuLu-ca, và một số thư tín (Thư gửi tín hữu Híp-ri, 1 Phêrô2 Phêrô).

Nô-ê trở thành chủ đề được khai thác sâu rộng trong văn học của các tôn giáo Áp-ra-ham sau này, bao gồm Hồi giáo (các surah 71, 7, 11, 5421 của Kinh Qur'an) và Bahá'í giáo (Kitáb-i-ÍqánNgọc ẩn thiêng liêng)[34][35].

Giả thư

Sách Jubilees đề cập đến Nô-ê và nói rằng ông được một thiên thần dạy nghệ thuật chữa bệnh, để con cái ông có thể vượt qua "con cháu của những Canh Thức"[36].

Trong mục 10:1–3 của sách Hê-nóc (một phần của kinh điển Kinh thánh Tewahedo Chính thống) và kinh điển của Beta Israel, Uriel được "Đấng Tối Cao" phái đến để báo cho Nô-ê về "trận đại hồng thủy" sắp xảy ra[37].

Các cuộn sách Biển Chết

Sách Sáng Thế Ngoại Kinh, một phần của cuộn sách Biển Chết có nhắc đến Nô-ê
Mộ Nô-ê, Nakhchivan, 1902

Có khoảng 20 bản ghi trong cuộn sách Biển Chết nhắc đến Nô-ê[38]. Lawrence Schiffman viết rằng "Trong số các cuộn sách Biển Chết, ít nhất ba phiên bản khác nhau của truyền thuyết này được lưu giữ"[39]. Cụ thể là "Sách Sáng Thế Ngoại Kinh nhắc đến Nô-ê rất nhiều". Tuy nhiên, "Tài liệu này dường như không có nhiều điểm chung với Sách Sáng Thế chương 5, đoạn kể về sự ra đời của Nô-ê". Trong đó còn có ghi rằng cha của Nô-ê rất lo lắng khi con mình thực chất là con của một trong những Canh Thức[40].

Quan điểm tôn giáo

Hình ảnh Nô-ê do người Do Thái miêu tả.

Theo Bách khoa toàn thư Do Thái, "Sách Sáng Thế kể hai câu chuyện về Nô-ê." Trong câu chuyện thứ nhất, Nô-ê là người hùng của trận lụt, còn trong câu chuyện thứ hai, ông là tổ phụ của nhân loại và là người nông dân đã trồng vườn nho đầu tiên. "Sự khác biệt về tính cách giữa hai câu chuyện này đã khiến một số nhà phê bình khẳng định rằng nhân vật trong câu chuyện thứ hai không giống với nhân vật trong câu chuyện thứ nhất."[12]

Bách khoa toàn thư người Do Thái ghi nhận rằng việc Nô-ê say rượu không được miêu tả là hành vi đáng trách. Thay vào đó, "Rõ ràng là... việc Nô-ê dấn thân vào nghề trồng nho đã tạo bối cảnh cho sự trừng phạt những người láng giềng Ca-na-an của Y-sơ-ra-ên." Chính Cham đã phạm lỗi khi nhìn thấy cha mình trần truồng. Tuy nhiên, "lời nguyền rủa của Nô-ê... lại kỳ lạ thay nhắm vào Ca-na-an chứ không phải Cham bất kính".

Mandae giáo

Kitô giáo

Một bức tranh Kitô giáo thời kỳ đầu mô tả Noah thực hiện động tác cầu nguyện khi chim bồ câu trở về

Trong Kitô giáo trung cổ, ba người con trai của Nô-ê thường được coi là cội nguồn của dân cư ba lục địa: Gia-phết/Châu Âu, Sem/Châu Á và Cham/Châu Phi, mặc dù một biến thể hiếm gặp hơn cho rằng họ đại diện cho ba tầng lớp của xã hội thời trung cổ - các thầy tế lễ (Sem), các chiến binh (Gia-phết) và nông dân (Cham). Trong tư tưởng Kitô giáo trung cổ, Cham được coi là tổ tiên của người da đen ở Châu Phi. Vì vậy, trong các lập luận phân biệt chủng tộc, lời nguyền của Cham trở thành lý do biện minh cho chế độ nô lệ của các chủng tộc da đen[41].

Trong các tác phẩm tôn giáo về sự phát triển của tôn giáo, Isaac Newton đã viết về Nô-ê và con cháu. Theo quan điểm của Newton, mặc dù Nô-ê là người theo thuyết độc thần, nhưng các vị thần của thần thoại ngoại giáo cổ đại lại được đồng nhất với Nô-ê và hậu duệ[42].

Tín ngưỡng Druze

Tín ngưỡng Druze coi Nô-ê là người phát ngôn thứ hai (natiq) sau A-đam, người đã giúp truyền bá những giáo lý nền tảng của thuyết độc thần (tawhid) ra công chúng[43]. Ông được coi là một nhà tiên tri quan trọng của Chúa trong tín ngưỡng Druze, nằm trong số bảy nhà tiên tri xuất hiện trong các thời kỳ khác nhau của lịch sử.

Hồi giáo

Hình ảnh Nô-ê và con tàu trong tranh thu nhỏ Mughal thế kỷ 16 mang đậm phong cách Hồi giáo.

Nô-ê là một nhân vật vô cùng quan trọng trong đạo Hồi và được xem là một trong những nhà tiên tri vĩ đại nhất. Kinh Qur'an có 43 lần nhắc đến Nô-ê, hay Nuḥ, trong 28 chương, và chương thứ 71, Sūrah Nūḥ (tiếng Ả Rập: سورة نوح, được đặt theo tên ông. Cuộc đời ông cũng được nhắc đến trong các bài bình luận và trong các truyền thuyết Hồi giáo.

Những câu chuyện của Nô-ê chủ yếu kể về lời rao giảng của ông cũng như câu chuyện về trận Đại hồng thủy. Câu chuyện của Nô-ê đã đặt nền móng cho nhiều câu chuyện tiên tri sau này, bắt đầu bằng việc nhà tiên tri cảnh báo dân chúng và sau đó cộng đồng từ chối thông điệp và phải chịu hình phạt.

Noah có một số danh hiệu trong đạo Hồi, chủ yếu dựa trên lời khen ngợi dành cho ông trong Kinh Qur'an, bao gồm "Sứ giả đáng tin cậy của Thượng đế" (26:107) và "Người tôi tớ biết ơn của Thượng đế" (17:3)[44][45].

Hình ảnh về thuyền Nô-ê và trận đại hồng thủy do người Ottoman vẽ, trích từ Zubdat-al Tawarikh, năm 1583.

Ngoài ra, tín ngưỡng Hồi giáo bác bỏ ý kiến ​​cho rằng Noah là người đầu tiên uống rượu và trải nghiệm những tác dụng sau đó[44][45] .

Kinh Qur'an chương 29:14 nói rằng Nô-ê đã sống giữa những người mà ông được phái đến trong 950 năm khi trận lụt bắt đầu.

Trang Bản mẫu:Quote/styles.css không có nội dung.

Quả thật, Chúng Ta đã phái Nô-ê đến với dân ông, và ông ở lại giữa họ một ngàn năm, trừ đi năm mươi năm. Rồi trận Đại Hồng Thủy ập đến, trong khi họ vẫn tiếp tục làm điều ác.

— Surah Al-Ankabut 29:14

Baháʼí giáo

Baháʼí giáo coi Con tàu và Trận Đại hồng thủy là biểu tượng[46]. Theo Baháʼí giáo, chỉ những người theo Nô-ê mới còn sống về mặt tinh thần, được bảo tồn trong con tàu giáo lý của ông, còn những người khác thì đã chết về mặt tinh thần[47][48]. Kinh sách Kitáb-i-Íqán của Baháʼí ủng hộ niềm tin của Hồi giáo rằng trên thuyền Nô-ê có rất nhiều bạn đồng hành từ 40 hoặc 72 người ngoài gia đình, và rằng ông đã giảng dạy trong 950 năm (mang tính biểu tượng) trước trận lụt[49].

So sánh thần thoại

Hy Lạp cổ đại

Nô-ê thường được so sánh với Deucalion, con trai của PrometheusHesinoe trong thần thoại Hy Lạp. Giống như Nô-ê, Deucalion được ZeusPoseidon cảnh báo về trận lụt; ông đóng một con thuyền và đưa các sinh vật lên đó – và khi hoàn thành chuyến đi, ông tạ ơn và xin lời khuyên từ các vị thần về cách tái lập dân số trên Trái đất. Deucalion cũng gửi một con chim bồ câu đi tìm hiểu tình hình thế giới và con chim trở về với một cành ô liu[50][51]. Trong một số phiên bản của thần thoại, Deucalion cũng trở thành người phát minh ra rượu vang, giống như Nô-ê[52]. Philo[53]Justin đồng nhất Deucalion với Nô-ê, và Josephus đã dùng câu chuyện Deucalion làm bằng chứng cho thấy trận lụt thực sự đã xảy ra, cho nên Nô-ê thật sự tồn tại[54][55].

Xem thêm

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Portal/images/k' not found.

Chú thích

  1. ^ Wells, John C. (2008). Longman Pronunciation Dictionary (ấn bản thứ 3). Longman. ISBN 9781405881180.
  2. ^ "Bible Gateway passage: Genesis 9:1-2 - King James Version". Bible Gateway (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2025.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.
  4. ^ Fullom, S. W. (1855), The History of Woman, and Her Connexion with Religion, Civilization, & Domestic Manners, from the Earliest Period. p. 10
  5. ^ a ă Bản mẫu:CE1913
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.: English Standard Version
  7. ^ Silverman, Jason (2013). Opening Heaven's Floodgates: The Genesis Flood Narrative, Its Context, and Reception. Gorgias Press.
  8. ^ Barry L. Bandstra (2008). Reading the Old Testament: Introduction to the Hebrew Bible. Cengage Learning. tr. 61. ISBN 978-0-495-39105-0.
  9. ^ Cotter 2003, tr. 49, 50.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”., Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.
  12. ^ a ă â "NOAH - JewishEncyclopedia.com". jewishencyclopedia.com.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.
  14. ^ Rashkow, Ilona (2004). "Sexuality in the Hebrew Bible: Freud's Lens". Trong Ellens, J. Harold; Rollins, Wayne G. (biên tập). Psychology and the Bible: From Feud to Kohut. Psychology and the Bible: A New Way to Read the Scriptures. Quyển 1. Westport, Connecticut: Praeger Publishers. tr. 52. ISBN 978-0-275-98348-2.
  15. ^ Hamilton 1990, tr. 202–203.
  16. ^ Gen. Rabbah 36:3.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”..
  18. ^ a ă Rashkow 2004, tr. 53.
  19. ^ a ă John Sietze Bergsma/Scott Walker Hahn. 2005. "Noah's Nakedness and the Curse on Canaan". Journal Biblical Literature 124/1 (2005), pp. 25–40.
  20. ^ Speiser 1964, tr. 62.
  21. ^ T. A. Bergren. Biblical Figures Outside the Bible, 2002, (ISBN 1563384116Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”., ISBN 978-1-56338-411-0Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”.), p. 136.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Bibleverse”.
  26. ^ Levenson 2004, tr. 26.
  27. ^ Kugel 1998, tr. 223.
  28. ^ von Rad, Gerhard (1961). Genesis: A Commentary. London: SCM Press. tr. 67–73.
  29. ^ von Rad, Gerhard (1961). Genesis: A Commentary. London: SCM Press. tr. 109–113.
  30. ^ von Rad, Gerhard (1961). Genesis: A Commentary. London: SCM Press. tr. 71.
  31. ^ Collins, John J. (2004). Introduction to the Hebrew Bible. Minneapolis: Fortress Press. tr. 56–57. ISBN 0-8006-2991-4.
  32. ^ Friedman, Richard Elliotty (1989). Who Wrote the Bible?. New York: HarperCollins Publishers. tr. 59. ISBN 0-06-063035-3.
  33. ^ The Oxford Encyclopedia of the Books of the Bible, Oxford University Press, 2011, p. 318.
  34. ^ "The Kitáb-i-Íqán | Bahá'í Reference Library". www.bahai.org. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2022.
  35. ^ "Gems of Divine Mysteries". Bahá'í Reference Library. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2022.
  36. ^ Lewis, Jack Pearl, A Study of the Interpretation of Noah and the Flood in Jewish and Christian Literature, BRILL, 1968, p. 14.
  37. ^ "Chapter X" . The Book of Enoch. Robert H. Charles biên dịch. London: Society for Promoting Christian Knowledge. 1917.
  38. ^ Peters, DM., Noah Traditions in the Dead Sea Scrolls: Conversations and Controversies of Antiquity, Society of Biblical Lit, 2008, pp. 15–17.
  39. ^ Schiffman, LH., Encyclopedia of the Dead Sea Scrolls, Volume 2, Granite Hill Publishers, 2000, pp. 613–614.
  40. ^ Lewis, Jack Pearl, A Study of the Interpretation of Noah and the Flood in Jewish and Christian Literature, BRILL, 1968, p. 11. "the offspring of the Watchers".
  41. ^ Jackson, JP., Weidman, NM., Race, Racism, and Science: Social Impact and Interaction, ABC-CLIO, 2004, p. 4.
  42. ^ Force, J E (1999), "Essay 12: Newton, the "Ancients" and the "Moderns"", trong Popkin, RH; Force, JE (biên tập), Newton and Religion: Context, Nature, and Influence, International Archive of the History of Ideas, Kluwer, tr. 253–254, ISBN 9780792357445 – qua Google Books
  43. ^ Swayd 2009, tr. 3.
  44. ^ a ă Young, Dwight (2007). "Noah". Trong Skolnik, Fred; Berenbaum, Michael; Thomson Gale (Firm) (biên tập). Encyclopaedia Judaica. Quyển 15 (ấn bản thứ 2). tr. 287–291. ISBN 978-0-02-865943-5. OCLC 123527471. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019. The earliest Mesopotamian flood account, written in the Sumerian language, calls the deluge hero Ziusudra, which is thought to carry the connotation "he who laid hold on life of distant days." [Bản ghi chép sớm nhất về trận lụt ở Lưỡng Hà, được viết bằng tiếng Sumer, gọi vị anh hùng của trận đại hồng thủy là Ziusudra, được cho là mang ý nghĩa "người nắm giữ sự sống của những ngày xa xưa".]
  45. ^ a ă Gibb, Hamilton Alexander Rosskeen (1995). The Encyclopaedia of Islam: NED-SAM. Brill. tr. 108–109. ISBN 9789004098343.
  46. ^ Trích từ thư viết thay mặt Shoghi Effendi, ngày 28 tháng 10 năm 1949: Tin tức Baháʼí, số 228, tháng 2 năm 1950, trang 4. Tái bản trong Compilation 1983, tr. 508
  47. ^ Poirier, Brent. "The Kitab-i-Iqan: The key to unsealing the mysteries of the Holy Bible". Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2007.
  48. ^ Shoghi Effendi (1971). Messages to the Baháʼí World, 1950–1957. Wilmette, Illinois, USA: Baháʼí Publishing Trust. tr. 104. ISBN 0-87743-036-5.
  49. ^ Trích từ một bức thư được viết thay mặt Shoghi Effendi gửi cho một tín đồ, ngày 25 tháng 11 năm 1950. Được xuất bản trong Compilation 1983, tr. 494
  50. ^ 'Deucalion tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
  51. ^ Wajdenbaum, P., Argonauts of the Desert: Structural Analysis of the Hebrew Bible, Routledge, 2014, pp. 104–108.
  52. ^ Anderson, G., Greek and Roman Folklore: A Handbook, Greenwood Publishing Group, 2006. pp. 129–130.
  53. ^ Lewis, JP.; Lewis, JP., A Study of the Interpretation of Noah and the Flood in Jewish and Christian Literature, BRILL, 1968, p. 47.
  54. ^ Peters, DM., Noah Traditions in the Dead Sea Scrolls: Conversations and Controversies of Antiquity, Society of Biblical Lit, 2008, p. 4.
  55. ^ Feldman, LH., Josephus's Interpretation of the Bible, University of California Press, 1998, p. 133.