Phêrô Đậu Quang Lĩnh (1870 – 18 tháng 1 năm 1941), còn được giáo dân gọi thân mật là Cha Chiêu, là một linh mục Công giáo và là một danh sĩ yêu nước nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Cùng với các linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tường và Gioan Baotixita Nguyễn Thần Đồng, ông là nhân vật chủ chốt trong việc thành lập "Duy Tân giáo đồ hội", nhiệt thành ủng hộ và lãnh đạo đồng bào Công giáo tham gia Phong trào Đông DuPhong trào Duy Tân do Phan Bội Châu khởi xướng.[1]

Phêrô Đậu Quang Lĩnh
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Ba linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tường, Phêrô Đậu Quang Lĩnh (đeo gông đứng giữa) và Gioan Baotixita Nguyễn Thần Đồng trước phiên tòa đại hình (1909).
Sinh1870
Làng Yên Phú, tổng Việt Yên, phủ Đức Thọ (nay thuộc xã Đức Thọ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh)
Mất18 tháng 1 năm 1941 (70–71 tuổi)
Cái Mơn (nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre)
Quốc tịch Việt Nam
Tên khácCha Chiêu
Dân tộcKinh
Trường lớpĐại chủng viện Xã Đoài
Nghề nghiệpLinh mục, Nhà hoạt động cách mạng
Tổ chứcDuy Tân giáo đồ hội, Việt Nam Quang phục Hội
Tôn giáoCông giáo

Thân thế và con đường tu học

Linh mục Phêrô Đậu Quang Lĩnh sinh năm 1870 tại làng Yên Phú, tổng Việt Yên, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (Yên Phú nay là một giáo họ thuộc giáo xứ Thọ Ninh, xã Liên Minh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Xứ đạo Thọ Ninh quê hương ông là một giáo xứ lâu đời, từng là nơi đặt trị sở của các Giám mục Tông Tòa Giáo phận Tây Đàng Ngoài.

Ngay từ khi còn theo học tại Tiểu chủng viện, ông đã nổi tiếng là người thông minh, xuất sắc, tinh thông tiếng Pháp, tiếng Latinh và Hán văn, đồng thời có năng khiếu về sáng tác âm nhạc. Năm 1891, sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại làm giáo sư tại Tiểu chủng viện. Trong thời gian giảng dạy, ông dành nhiều tâm huyết nghiên cứu sách vở, đặc biệt là các học thuyết về dân chủ, dân quyền.

Năm 1898, ông tiếp tục con đường tu trì tại Đại chủng viện Xã Đoài. Đến năm 1903 (khi 33 tuổi), ông chính thức được thụ phong linh mục và được Giám mục Louis-Marie Pineau Trị bổ nhiệm làm Thư ký Tòa Giám mục Giáo phận Tông tòa Nam Đàng Ngoài. Đây là một chức vụ then chốt trong giáo phận mà trước đó thực dân Pháp và Giáo hội chỉ dành riêng cho các thừa sai người Pháp.[2]

Hoạt động yêu nước

Nhờ thông thạo cả Pháp văn lẫn Hán văn, Linh mục Đậu Quang Lĩnh được giao nhiệm vụ dịch các sách Hán văn làm tài liệu tham khảo cho Giáo hội. Cơ hội này giúp ông tiếp xúc với nhiều sách báo tiến bộ về công cuộc duy tân ở Trung Quốc của các nhà tư tưởng lớn như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu... Từ đó, tư tưởng yêu nước và xu hướng ủng hộ cải cách xã hội trong ông ngày càng mãnh liệt.

Dù làm việc tại Tòa Giám mục và thường xuyên tháp tùng Giám mục Pineau Trị, ông vẫn nhận thấy rõ những bất công, sự áp bức tàn bạo của thực dân Pháp đối với đồng bào bản xứ. Khoảng cuối năm 1904 – đầu năm 1905, với sự giúp đỡ của chí sĩ Phan Bội Châu, Linh mục Đậu Quang Lĩnh cùng các linh mục cùng chí hướng (Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thần Đồng) và thầy giảng Mai Lão Bạng đã thành lập tổ chức "Duy Tân giáo đồ hội Nghệ Tĩnh".[2]

Tổ chức này hoạt động theo tôn chỉ của Hội Duy Tân, kêu gọi giáo dân quyên góp tiền bạc, hỗ trợ thanh niên xuất dương sang Nhật Bản du học (Phong trào Đông Du), và tiến hành các hoạt động tuyên truyền chống Pháp. Sự ra đời của tổ chức đã góp phần quan trọng xóa bỏ những hiểu lầm, hận thù Lương - Giáo từ thời phong trào Cần Vương (với khẩu hiệu "Bình Tây sát Tả"), quy tụ đông đảo người Công giáo bước vào hàng ngũ đấu tranh giải phóng dân tộc.[1]

Sa vào vòng lao lý

Hoạt động sôi nổi của các linh mục yêu nước đã khiến chính quyền thực dân Pháp tức tối. Ngày 12 tháng 6 năm 1909, Pháp ra lệnh bắt giam Linh mục Đậu Quang Lĩnh cùng hai linh mục Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thần Đồng. Vụ bắt bớ này cũng là cái cớ để thực dân Pháp gây sức ép, buộc Giám mục Pineau Trị (người có tư tưởng bao bọc các linh mục Việt Nam) phải từ nhiệm và quay về Pháp.

Ngày 18 tháng 10 năm 1909 (có tài liệu ghi 21 tháng 10), tòa án thực dân Pháp kết án ba vị linh mục 9 năm tù khổ sai biệt xứ. Bất lực trước thái độ kiên trung, bất khuất của ông, bọn cầm quyền đã đày ải ông qua 4 nhà giam rùng rợn khét tiếng: Nhà lao Vinh, nhà lao Thừa Phủ (Huế), Khám lớn Sài Gòn và cuối cùng là "địa ngục trần gian" Nhà tù Côn Đảo.[1]

Tại Côn Đảo, ông phải chịu đựng sự tra tấn dã man. Tương truyền, khi cai ngục mỉa mai hỏi: "Đã là linh mục sao còn đi làm giặc?", ông đã khẳng khái trả lời bằng một bài thơ chữ Hán:[3]

Ngay trong ngục tù, ông vẫn sáng tác thơ ca cổ vũ tinh thần cách mạng và chấn hưng dân trí:[3]

Cuối đời và Di sản

Năm 1918, sau gần 10 năm gông cùm xiềng xích, Linh mục Đậu Quang Lĩnh mãn hạn tù nhưng vẫn phải chịu án biệt xứ (không được cư trú tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ). Nhờ sự bảo lãnh của Giáo phận Tây Đàng Trong, ông được Giám mục Lucien-Emile Mossard (Mão) phục chức linh mục và bổ nhiệm làm Phó xứ, rồi vươn lên làm Chánh xứ họ đạo Cái Mơn (nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).[2]

Từ năm 1938 đến 1941, ông giữ chức Quản hạt Cái Mơn. Tại đây, ông tiếp tục cống hiến cho Giáo hội và người dân khi xây dựng thành công 2 nhà thờ cho các họ đạo lẻ và một dãy tu viện lớn cho hơn 200 nữ tu (Tu viện Mến Thánh Giá).

Ông qua đời ngày 18 tháng 1 năm 1941 (có tài liệu ghi 16 tháng 1) tại Cái Mơn, hưởng thọ 71 tuổi. Mộ phần của ông hiện vẫn được an vị trang trọng trong khuôn viên Tu viện Mến Thánh Giá Cái Mơn.

Sự nghiệp "kính Chúa, yêu nước" của Linh mục Phêrô Đậu Quang Lĩnh là biểu tượng sáng chói cho tinh thần dân tộc của người Công giáo Việt Nam. Tên của ông hiện được trân trọng đặt cho một tuyến đường và một trường Trung học cơ sở (Trường THCS Đậu Quang Lĩnh) tại quê hương Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.[1]

Nhận xét

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ a ă â b Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).[<span title=" kể từ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”.">liên kết hỏng]
  2. ^ a ă â Tài liệu Lịch sử Công giáo Việt Nam - Nhìn lại vụ án các linh mục, tu sĩ Công giáo ở Vinh hơn một thế kỷ trước (Cập nhật 27/12/2021).
  3. ^ a ă Huỳnh Thúc Kháng (1939), Thi tù tùng thoại, Nhà xuất bản Tiếng Dân, Huế (Dịch ra Quốc ngữ).

Liên kết ngoài