Phí Dương Cổ (chữ Hán: 費揚古, 1640 - 1710), Ô Lạp Na Lạp thị, người Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, là một quan viên và ngoại thích nhà Thanh. Ông là sinh phụ của Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu, đồng thời là nhạc phụ (cha vợ) của Ung Chính Đế.

Phí Dương Cổ
費揚古
Thừa Ân công nhà Thanh
Thông tin chung
Sinh1640
Mất1710
Phối ngẫuGiác La thị
Hậu duệHiếu Kính Hiến Hoàng hậu
Thân phụBác Hồ Sát (博瑚察)

Tiểu sử

Xuất thân danh môn

Phí Dương Cổ xuất thân từ gia tộc Ô Lạp Na Lạp thị của Hải Tây Nữ Chân cổ đại, nguyên kỳ tịch là Mãn Châu Chính Hoàng kỳ. Căn cứ theo thông tin từ Mãn Châu Bát kỳ thị tộc thông phổ (八旗满洲氏族通谱), tổ tiên của ông là Đại bộ chủ thứ 4 của Hỗ Luân quốc tên Đô Nhĩ Hi (都尔希), sinh ra trưởng tử tên Ngạch Diệc Thương Cổ (额亦商古), khởi thủy của nhánh gia tộc của Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu. Ô Lạp Na Lạp thị, tức [Dòng họ Na Lạp thị ở đất Ô Lạp], vốn là một dòng họ lâu đời. Thủy tổ Đô Nhĩ Hi là hậu duệ của Nạp Tề Bố Lộc (纳齐布禄) - tương truyền là dòng dõi của hoàng tộc nhà Kim, khai sinh ra [Hỗ Luân quốc; 扈伦国]. Theo tiến trình lịch sử, Hỗ Luân quốc diệt vong, nhánh lớn của Đô Nhĩ Hi là Ngạch Diệc Thương Cổ không ghi lại, nhưng nhánh nhỏ Cổ Đối Châu Nhan (古对珠颜) là Bố Nhan về sau khai sinh ra Ô Lạp bộ tộc, một trong Hải Tây Nữ Chân.

Thân phụ của ông Bác Hô Sát (博瑚察) quy phục những năm đầu Hậu Kim, được Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích ban chức Tá lĩnh. Ông có một anh trai là Nặc Mục Tề (诺穆齐) kế tập chức Tá lĩnh, còn bản thân nhập vào Bao y.

Hành trạng

Sau khi Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực kế vị, ông nhận mệnh nhập Bao y Tá lĩnh, vào cung sinh hoạt, thụ chức Tam đẳng Thị vệ. Về sau nhờ có huân công, thăng Nội vụ phủ Tổng quản, gia quyến được phép nhập Chính Hoàng kỳ Mãn Châu, lại thăng Bộ quân Thống lĩnh hàm Chính Nhất phẩm, kiêm tước [Nhất Vân kỵ úy; 一雲騎尉] kiêm Thị vệ Nội đại thần. Sau khi mất, người cháu Phú Tồn (富存) tập [Kỵ đô úy], kiêm Nhất Vân kỵ úy, tiếp nhận chức vị Nhị đẳng Thị vệ[1].

Năm Ung Chính nguyên niên (1723), nhờ việc là sinh phụ của Hoàng hậu, ông được truy phong [Thừa Ân công; 承恩公], đích thê Giác La thị được truy phong làm [Đa La Cách cách; 多罗格格]. Truy phong tằng tổ phụ và tổ phụ tước [Nhất đẳng Công], tằng tổ mẫu làm [Nhất phẩm Phu nhân], cấp cáo mệnh cho con cháu thừa tước [Nhất đẳng Hầu; 一等侯][2], thế tập truyền đời. Sang năm Ung Chính thứ 4 (1726), em trai của Hoàng hậu là Ngũ Cách (五格) được thừa tước. Năm Ung Chính thứ 8 (1730), tấn truy [Nhất đẳng Thừa Ân công; 一等承恩公].

Gia quyến

Tập tin:那彦成肖像轴.jpg
Chân dung Na Ngạn Thành, hiện tại được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung

Thê thiếp

  • Đích thê: Ái Tân Giác La thị (爱新觉罗氏), thuộc dòng dõi của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, là con gái của Bối tử Mục Nhĩ Hỗ (穆尔祜) - cháu 3 đời của Phế Thái tử Chử Anh. Về sau, truy phong [Đa La Cách cách; 多罗格格], tương đương Huyện chúa.
  • Thiếp thất không rõ họ, sinh Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu.

Hậu duệ

  • Trưởng tử Tinh Thiền (星禅), nhậm Phó đô thống Chính Hoàng kỳ Mãn Châu.
  • Thứ tử Phú Xương (富昌), nhậm Nhị đẳng Thị vệ.
  • Tứ tử Ngũ Cách (五格), kế thừa tước Nhất đẳng Công, nhậm Tán trật đại thần kiêm Tá lĩnh, nguyên nhiệm Chính Hoàng Kỳ Mãn Châu đệ tứ Tham lĩnh, đệ thập nhị Tá lĩnh.
    • Đức Phúc (德福), kế thừa tước Nhất đẳng Hầu, nhậm Hình bộ Thượng thư, Kinh Châu Tướng quân.
  • Trưởng nữ, tức Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu của Ung Chính.

Chú thích

  1. ^ 《清史稿 卷一百六十七 表七》載孝敬憲皇后父烏喇那拉氏·費揚古為滿洲正黃旗人。 奉(康熙皇帝)諭旨:烏喇那拉氏·費揚古,系初設步軍統領,即克勝任,甚屬可嘉。著交部議敘,欽此。續經部復議,將費揚古升授正一品步軍統領。奉特恩,再賜一雲騎尉,尋擢侍衛內大臣。不久烏喇那拉氏·費揚古卒。
  2. ^ 载《清實錄雍正朝實錄》。