Phổ Tự
Phổ Tự (chữ Hán: 溥緒, 1 tháng 12 năm 1882 - 9 tháng 5 năm 1933), tự Trúc Sinh (竹生), tên khác là Trang Thanh Dật (庄清逸), Kim Cúc Ẩn (金菊隐) là một hoàng thân của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc, người thừa kế 1 trong 12 tước vị Thiết mạo tử vương. Ngoài ra, ông còn là một nhà soạn kịch Kinh kịch nổi tiếng thời 中国京剧史·第三十五章 京剧作者、导演、教师、研究者,中国戏剧出版社,2005年[1].
| Phổ Tự 溥緒 | |
|---|---|
| Tập tin:溥緒.jpg | |
| Trang Thân vương nhà Thanh | |
| Tại vị | 1916 - 1933 |
| Tiền nhiệm | Trang Cung Thân vương Tái Công |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1 tháng 12 năm 1882 Tử Cấm Thành, Bắc Kinh |
| Mất | 9 tháng 5 năm 1933 Bắc Kinh, Trung Hoa Dân Quốc |
| Phối ngẫu | Đích Phúc tấn Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị |
| Hậu duệ | xem văn bản |
| Hoàng tộc | nhà Thanh |
| Thân phụ | Trang Cung Thân vương Tái Công |
| Thân mẫu | Đích Phúc tấn Phú Sát thị |
Cuộc đời
Tái Công sinh ra vào giờ Thìn, ngày 21 tháng 10 (âm lịch) năm Quang Tự thứ 8 (1882), là con trai trưởng của Trang Cung Thân vương Tái Công. Sinh mẫu của ông là Đích Phúc tấn của Tái Công, xuất thân từ Sa Tế Phú Sát thị cao quý, con gái của Cố Luân Ngạch phò Cảnh Thọ, người nghênh giá Cố Luân Thọ Ân Công chúa, con gái thứ sáu của Đạo Quang Đế[2].
Năm Quang Tự thứ 15 (1889), ông được ban hàm Ấm sinh. Năm Quang Tự thứ 29 (1903), ông đỗ kỳ thi khảo phong và được phong tước Bất nhập bát phân Phụ quốc công (不入八分辅国公). Năm Bính Thìn (1916) thời Dân quốc, phụ thân ông qua đời, ông được phép tập tước Hòa Thạc Trang Thân vương (和硕庄亲王), tuy nhiên khi ấy nhà Thanh đã sụp đổ, nên danh vị đó cũng trở thành hư vô. Ông mất ngày 9 tháng 5 năm Quý Dậu (1933) thời Dân quốc, hưởng thọ 52 tuổi.
Sự nghiệp nghệ thuật
Phổ Hú xuất thân từ một gia tộc có truyền thống hí khúc lừng lẫy. Vị Trang Thân vương đời thứ ba, Dận Lộc (vốn là con ruột của Khang Hi Đế) vốn là nhà âm nhạc kiêm nhà soạn kịch lớn thời Càn Long, từng tham gia biên soạn bộ 《Luật lẽ chính nghĩa》 và viết vở kịch cung đình kinh điển 《Đỉnh chữ Xuân Thu》, một trong tứ đại danh kịch thời Thanh. Ông từ nhỏ đã tinh thông nhạc luật, khi lớn lên thì thông thuộc hết các thể loại tạp kịch, truyền kỳ, thoại bản, tiểu thuyết từ thời Nguyên, Minh đến triều Thanh. Ông mê đi xem kịch, thậm chí còn từng tự mình lên sân khấu diễn khách mời (thủ vai Chung Quỳ trong vở 《Gả muội》).
Thời kỳ Cách mạng Tân Hợi, ông chuyên tâm viết kịch bản cho diễn viên kịch nổi tiếng thời bấy giờ là Thượng Tiểu Vân (尚小云) vở kịch về Tần Lương Ngọc, ngoài ra còn viết cho Dương Tiểu Lâu (杨小楼) các vở 《Dã Trư Lâm》 (tên khác là 《Anh Hùng Huyết Lệ Đồ》,《Sơn Thần Miếu》,《Ngô Tam Quế》[3]
Khi này nhà Thanh đã lụi tàn, Phổ Hú có sự thấu hiểu sâu sắc về thói đời và nhân tình thế thái. Trong các tác phẩm của mình, ông luôn dành sự đồng cảm lớn cho những người bị áp bức, ca ngợi chính nghĩa, khí tiết, và lên án cái ác, cái bất hợp pháp. Kịch bản của ông có cấu trúc tinh xảo, đặc biệt là cách sắp xếp các tình tiết trên sân khấu rất xuất sắc, cực kỳ hợp để biểu diễn. Điểm hạn chế là kỹ thuật viết kịch của ông vẫn còn nặng tính rập khuôn theo các lối mòn cũ. Giai đoạn quanh Cách mạng Tân Hợi, ông cũng từng viết rất nhiều bài phê bình kịch cho các báo ở Bắc Kinh.
Những năm tháng cuối đời của Phổ Hú diễn ra vô cùng bi lương, nghèo khó. Ông phải dựa vào sự quyên góp, giúp đỡ của các nghệ sĩ gạo cội đương thời mới có đủ cơm ăn áo mặc. Ngày 9 tháng 5 năm 1933, ông bạt mạng qua đời vì nghèo đói và bệnh tật tại Bắc Kinh, hưởng thọ 52 tuổi.
Gia quyến
- Đích Phúc tấn: Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博尔济吉特氏), con gái Phụ quốc công Na Tô Đồ (那蘇圖), xuất thân từ bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm của Mông Cổ.
- Con trai: Dục Trung (毓忠), có hai con trai.