Rostroconchia
Rostroconchia là một lớp động vật thân mềm đã tuyệt chủng, có niên đại từ đầu kỷ Cambri đến cuối kỷ Permi. Ban đầu, chúng được cho là thân mềm hai mảnh vỏ, nhưng sau đó được xếp vào một lớp riêng. Chúng có một vỏ duy nhất ở giai đoạn ấu trùng, và con trưởng thành thường có một vỏ giả hai mảnh bao bọc khoang áo và chân cơ. Phần trước của vỏ có lẽ hướng xuống dưới và có một khe hở để chân có thể thò ra. Rostroconchia có lẽ sống theo lối sống bán định cư trong lòng đất. Có lẽ có hơn 1.000 loài thuộc lớp này.
| Rostroconchia | |
|---|---|
| Khoảng thời gian tồn tại: | |
| Tập tin:Technophorus sharpei.svg | |
| Technophorus sharpei | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Mollusca |
| Phân ngành: | Conchifera |
| Lớp: | †Rostroconchia Pojeta et al., 1972[2] |
Khoảng 3 chục chi và số lượng loài thậm chí còn lớn hơn đã được mô tả. Nhìn chung, Rostroconchia có kích thước nhỏ, dài chưa đến hai centimet, nhưng các dạng lớn hơn, được tìm thấy trong đá vôi kỷ Devon ở Hoa Kỳ, có thể dài tới 15 cm.
Hình thái và lối sống
Về mặt bên ngoài, Rostroconchia trông rất giống thân mềm hai mảnh vỏ và có lẽ chúng có một chân cơ có thể kéo dài, được thể hiện bằng một khe hở phía trước nổi bật trên vỏ của Rostroconchia. Tuy nhiên, dường như cấu tạo và hình thái bên trong của chân lại gần giống với Scaphopoda hơn.
Rostroconchia bắt đầu cuộc sống của chúng như một ấu trùng phù du nhỏ, đối xứng hai bên, một mảnh vỏ. Vỏ đối xứng hai bên phát triển thành hai mảnh khi Rostroconchia trưởng thành.[1] Rostroconchia trưởng thành khác với thân mềm hai mảnh vỏ vì chúng không có bản lề hoạt động. Không giống như vỏ của thân mềm hai mảnh vỏ, có thể di chuyển hoặc khớp nối, các lớp vỏ của Rostroconchia — các lớp calcit cứng — tiếp tục trải dài trên toàn bộ vùng lưng của Rostroconchia. Hai mảnh vỏ sẽ được cố định chắc chắn tại chỗ và phải bị vỡ định kỳ để cho phép vỏ Rostroconchia phát triển.
Phần phía sau của vỏ ốc có một ống dẹt gọi là mỏ (rostrum). Rostroconchia có lẽ tự đào hang vào lớp trầm tích, phần phía trước vào trước, để lại mỏ phía trên lớp trầm tích để sử dụng như một hệ thống lọc nước.
Lịch sử tiến hoá
Heraultipegma là chi Rostroconchia cổ nhất, rất nguyên thủy, có niên đại từ cuối thống Terreneuve. Rostroconchia thực sự xuất hiện trong kỷ Ordovic, cạnh tranh mạnh mẽ với các loài hai mảnh vỏ cho đến khi chúng suy giảm vào cuối kỷ Ordovic.
Các loài Rostroconchia nguyên thủy, sơ khai như Ribeiroia có một bản lề mà tất cả các lớp vỏ bao phủ vùng lưng, tạo ra một lớp vỏ rất cứng. Ở Conocardium, một loài Rostroconchia tiến hóa hơn, các lớp vỏ ngoài không vượt qua toàn bộ mép khoang áo, cho thấy các bước tiến độc lập hướng tới khớp nối linh hoạt của loài hai mảnh vỏ.
Một số bằng chứng cho thấy rằng các loài Rostroconchia Conocardoid là tiền thân của Scaphopoda.
Tham khảo
Bài viết này có một danh sách các nguồn tham khảo, nhưng vẫn chưa đáp ứng khả năng kiểm chứng được bởi thân bài vẫn còn thiếu các chú thích trong hàng. (February 2026) |
- ^ a b Kouchinsky, A. V. (1999). "Shell microstructures of the Early Cambrian Anabarella and Watsonella as new evidence on the origin of the Rostroconchia". Lethaia. 32 (2): 173–180. doi:10.1111/j.1502-3931.1999.tb00537.x.
- ^ Pojeta, J., Runnegar, B., Morris, N. J., Newell, N. D. (1972). Rostroconchia: a new class of bivalved mollusks. Science 177 (4045): 264–267. doi:10.1126/science.177.4045.264
- PALAEOS, 2002, Rostroconchia. URL: https://web.archive.org/web/20090302181354/http://www.palaeos.com/Invertebrates/Molluscs/BasalMollusca/Rostroconchia/Rostroconchia.html. Accessed November 16, 2008.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).