Bước tới nội dung

Rushden & Diamonds F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Rushden & Diamonds)
Rushden & Diamonds
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Rushden & Diamonds
Biệt danhThe Diamonds
Thành lập1992; 34 năm trước (1992)
Giải thể2011; 15 năm trước (2011)
SânNene Park
Irthlingborough
Sức chứa6.441 (4.641 chỗ ngồi)
2010-11Conference National, thứ 13

Câu lạc bộ bóng đá Rushden & Diamonds (tiếng Anh: Rushden & Diamonds Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá có trụ sở tại Irthlingborough, Northamptonshire, Anh. Biệt danh của đội là "The Diamonds", và đội thi đấu trên sân Nene Park. Đối thủ chính của câu lạc bộ là đội bóng cùng hạt Kettering Town.

Câu lạc bộ được thành lập từ sự sáp nhập giữa Rushden TownIrthlingborough Diamonds vào năm 1992. Đội gia nhập Southern League và giành chức vô địch Midland Division ở mùa giải 1993-94, rồi vô địch Premier Division ở mùa giải 1995-96. Sau đó, đội trải qua năm mùa giải tại Conference National, trước khi giành quyền góp mặt ở Football League sau khi vô địch Conference mùa giải 2000-01. Đội thua ở trận chung kết play-off năm 2002, rồi giành quyền thăng hạng lên Second Division sau khi vô địch Third Division ở mùa giải 2002-03. Sau khi xuống hạng ngay mùa giải tiếp theo, đội mất tư cách thi đấu tại Football League sau khi đứng cuối League Two vào năm 2006. Câu lạc bộ bị khai trừ khỏi Conference vào ngày 11 tháng 6 năm 2011; tình hình tài chính bất ổn khiến đội không thể bảo đảm hoàn thành toàn bộ các trận đấu của mình trong mùa giải 2011-12,[1] và điều này dẫn tới việc câu lạc bộ bị giải thể. Đội được kế tục bởi câu lạc bộ phượng hoàng AFC Rushden & Diamonds.

Lịch sử

Vụ sáp nhập và những năm đầu tiên (1992-96)

Rushden and Diamonds được thành lập vào ngày 21 tháng 4 năm 1992 từ sự sáp nhập giữa Rushden TownIrthlingborough Diamonds. Ý tưởng này là sáng kiến của Max Griggs. Ngày 22 tháng 8 năm 1992, Ollie Kearns ghi bàn thắng đầu tiên tại giải đấu trong lịch sử câu lạc bộ, trong trận gặp Bilston Town ở Southern League Midland Division. Những mùa giải đầu tiên của đội bóng rất đáng chú ý nhờ thành công mà đội giành được, khi kết thúc ở vị trí thứ ba tại Southern League Midland Division trong mùa giải đầu tiên. Mùa giải tiếp theo, đội vô địch hạng đấu này để giành quyền thăng hạng lên Southern League Premier Division, và hai năm sau The Diamonds lại tiếp tục thăng hạng với tư cách nhà vô địch. Đội bóng đã giành quyền lên chơi tại Football Conference chỉ sau bốn năm tồn tại.

Tập tin:R&D League Finishes from 1994 to it's Liquidation in 2010.png
Thứ hạng của Rushden & Diamonds tại giải đấu từ năm 1994 cho đến khi bị thanh lý vào năm 2010

Football Conference

Sau khi thăng tiến nhanh chóng lên hạng đấu cao nhất của bóng đá ngoài hệ thống giải chuyên nghiệp, câu lạc bộ trải qua năm mùa giải cố gắng giành quyền lên Football League, lần lượt kết thúc ở vị trí thứ 12 trong mùa giải 1996-97, rồi thứ tư, thứ 4 và thứ 2 tại Football Conference, trước khi cuối cùng giành quyền thăng hạng lên Football League với tư cách nhà vô địch vào năm 2001. Cũng trong giai đoạn này, đội đạt thành tích tốt nhất tại Cúp FA khi hai lần vào đến vòng Ba. Ở mùa giải 1998-99, The Diamonds cầm hòa Leeds United 0-0 đầy ấn tượng tại Nene Park, trước lượng khán giả kỷ lục 6.431 người. Sau khi bất ngờ vươn lên dẫn trước từ sớm ở trận đá lại tại Elland Road, đội rốt cuộc thua 1-3. Trong mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ được bốc thăm gặp Sheffield United trên sân khách ở vòng Ba. The Diamonds giành trận hòa 1-1 tại Bramall Lane để buộc đối thủ phải đá lại. Ở trận lượt về, hai đội phải bước vào loạt sút luân lưu sau khi hòa 1-1 cả sau hiệp phụ. Tuy nhiên, chính The Blades là đội vượt qua The Diamonds với tỷ số 6-5 để đi tiếp.

The Football League

Trong mùa giải đầu tiên ở môi trường mới, The Diamonds đã vào tới trận chung kết play-off của Division Three. Sau khi vượt qua Rochdale với tổng tỷ số 4-3 sau hai lượt trận bán kết, câu lạc bộ thua Cheltenham Town 1-3 trong trận chung kết tại Sân vận động Thiên niên kỷ. Năm 2003, đội vô địch hạng đấu này, vượt qua Hartlepool United để giành chức vô địch Division Three ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải – danh hiệu thăng hạng/vô địch giải đấu thứ ba của đội trong vòng tám mùa giải.

Mùa giải 2003-04 tại Division Two là một mùa giải đầy khó khăn với Rushden & Diamonds. Dù khởi đầu khá hứa hẹn, một chuỗi kết quả tệ hại trong giai đoạn mùa đông khiến đội tụt xuống bảng xếp hạng, và vào tháng 3 năm 2004, Brian Talbot rời câu lạc bộ sau bảy năm làm huấn luyện viên. Kỳ chuyển nhượng chứng kiến các cầu thủ ngôi sao Paul Underwood, Onandi Lowe, Paul HallMarcus Bignot đồng loạt ra đi khi những vấn đề ngoài sân cỏ ngày càng chồng chất, và đội bóng gặp rất nhiều khó khăn trong phần còn lại của mùa giải. Barry Hunter tiếp quản trong vai trò cầu thủ kiêm huấn luyện viên tạm quyền, nhưng đội vẫn xuống hạng ở vị trí thứ 22 sau khi thua ba trận cuối cùng của mùa giải.

Ernie Tippett được xác nhận là huấn luyện viên chính thức trước khi mùa giải 2004-05 bắt đầu. Tuy nhiên, sau một chuỗi kết quả tệ hại khiến đội bóng vốn được truyền thông dự đoán là ứng viên thăng hạng rơi xuống vị trí thứ 22 tại League Two, ông bị sa thải và được thay bằng Barry Hunter, người sau đó được bổ nhiệm chính thức. Câu lạc bộ tránh được việc xuống hạng. Tuy nhiên, ở mùa giải tiếp theo, sau một mùa hè mà Max Griggs chuyển giao câu lạc bộ cho Supporters' Trust, đội vẫn tiếp tục chật vật, và vào ngày 29 tháng 4, Rushden bị rớt trở lại Football Conference sau thất bại 0-2 trên sân khách trước Boston United. Hợp đồng của Hunter không được gia hạn trong mùa hè năm đó.

Trở lại Conference

Tập tin:Ketteringconcede.jpg
Rushden & Diamonds thi đấu với Kettering vào năm 2008.

Những mùa giải sau khi The Diamonds trở lại Football Conference bị phủ bóng bởi sự bất ổn cả trong lẫn ngoài sân cỏ. Keith Cousins tiếp quản câu lạc bộ vào tháng 11 năm 2006 [2] và từ chức vào năm 2011.[3] Ông được thay thế bởi Liam Beasant và Gary Calder, nhưng chính Calder cũng rời câu lạc bộ chỉ vài tuần sau khi tiếp quản.[4] Trong khi đó, năm huấn luyện viên (Paul Hart, Tony Godden, Graham Westley, Garry HillJustin Edinburgh) lần lượt nắm quyền ở những thời điểm khác nhau.

Trong ba mùa giải đầu tiên trở lại hạng Năm của bóng đá Anh, The Diamonds đều không thể kết thúc trong top 10. Đến cuối mùa giải 2008-09, lượng khán giả trung bình đã giảm xuống còn chưa tới 50% so với mùa giải cuối cùng của đội tại Football League.[5][6] Điểm sáng duy nhất trong ba năm này là việc đội vào đến chung kết Conference League Cup gặp Aldershot Town vào năm 2007. Sau khi hòa 3-3 sau hiệp phụ, The Diamonds thua 3-4 ở loạt sút luân lưu.[7]

Tuy nhiên, vận mệnh của The Diamonds đã đổi khác sau khi Garry Hill từ chức vào tháng 2 năm 2009, và Justin Edinburgh sau đó được bổ nhiệm làm huấn luyện viên – ban đầu là tạm quyền, rồi sau đó là chính thức. Trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên dẫn dắt đội, ông đã đưa câu lạc bộ vào vòng play-off của Football Conference nhờ kết thúc ở vị trí thứ tư - lần đầu tiên đội có mặt trong top 10 kể từ năm 2003. Cuối cùng, đội để thua với tổng tỷ số 1-3 trước Oxford United, đội sau đó giành chiến thắng ở loạt play-off. The Diamonds cũng tiến tới vòng Hai Cúp FA, sau khi đánh bại WorkingtonHinckley United, trước khi bị Brighton & Hove Albion loại tại Sân vận động Withdean.

The Diamonds gặp khó khăn trong việc tái lập những thành công của mình ở mùa giải tiếp theo. Trong mùa hè và xuyên suốt mùa giải, một số cầu thủ có ảnh hưởng lớn nhất của mùa bóng trước đã rời Nene Park, trong đó có Lee Tomlin, Mark Byrne, Jamie Stuart, Andrew Lawton và Paul Terry. Vì những mất mát đó, The Diamonds chật vật trong việc tạo nên một cuộc đua thực sự cho suất play-off, và đến giữa tháng 4 thì đội đứng thứ 10 trên bảng xếp hạng, kém vị trí thăng hạng khoảng 13 điểm. Những chiến dịch thất vọng tại Cúp FA, FA TrophyHillier Cup cũng không giúp mùa giải này trở nên tích cực hơn..

Tuy nhiên, các sự kiện ngoài sân cỏ mới là yếu tố định hình mùa giải. Mọi nỗi thất vọng về chuyên môn đều bị lu mờ bởi sự ra đi của thủ môn đội một Dale Roberts vào ngày 14 tháng 12 năm 2010; anh cũng chính là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2010 của Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh C.[8] Trong khi đó, chủ tịch Keith Cousins từ chức và được thay thế bởi Gary Calder cùng Liam Beasant.[9] Chỉ hơn một tháng sau, phó chủ tịch Helen Thompson cũng từ chức,[10] còn đến tháng 3 – chỉ ba tháng sau khi tiếp quản – chính Calder cũng rời câu lạc bộ.[4] Khi mùa giải dần khép lại, người ta cũng tiết lộ rằng câu lạc bộ đang bị cấm chuyển nhượng,[11] và chỉ nhờ sự can thiệp của PFA mà các cầu thủ The Diamonds không từ chối ra sân trong trận gặp Mansfield Town vào tháng 3 vì bị nợ lương.[12] Trước đó, ngay từ đầu mùa giải, câu lạc bộ cũng đã vướng vào một cuộc khẩu chiến rất công khai với cựu cầu thủ Leon Knight, người đã lên Twitter để bày tỏ những bất bình của mình đối với câu lạc bộ.[13]

Suy tàn

Câu lạc bộ bị khai trừ khỏi Conference National vào ngày 11 tháng 6 năm 2011, क्योंकि tình hình tài chính bất ổn khiến đội không thể bảo đảm rằng mình sẽ hoàn thành toàn bộ các trận đấu trong mùa giải 2011-12. Câu lạc bộ phải đối mặt với đơn yêu cầu giải thể do HM Revenue and Customs đệ trình trong tuần bắt đầu từ ngày 13 tháng 6 năm 2011, với khoản nợ được cho là lên tới 750.000 bảng Anh.[14] Đơn xin vào thi đấu tại Southern Football League vào tháng 7 đã không thành công,[15] và câu lạc bộ bị đặt vào diện quản lý tài chính đặc biệt vào ngày 7 tháng 7 năm 2011.[16] Người hâm mộ ngay lập tức tuyên bố mong muốn thành lập một câu lạc bộ mới thuộc sở hữu của chính người hâm mộ mang tên AFC Rushden & Diamonds, đội bóng dự kiến sẽ có một đội ra sân từ năm 2012.[17] Câu lạc bộ mới bắt đầu thi đấu tại United Counties League Division One.

Huy hiệu câu lạc bộ

Màu sắc truyền thống của câu lạc bộ là đỏ, trắng và xanh lam, và điều này cũng được phản ánh trên huy hiệu. Huy hiệu kết hợp những yếu tố lấy từ cả huy hiệu của Rushden TownIrthlingborough Diamonds. Huy hiệu có hình dạng như một tấm khiên, bên dưới là dòng chữ 'R&DFC' ở dạng băng rôn. Ở góc trên bên trái là hình Sư tử chồm, tượng trưng cho gia đình Sartoris, những người đã hiến tặng một phần đất tại Hayden Road cho Rushden Sports Club vào năm 1922.

Ở phía đối diện trên cùng là hình hai chìa khóa của Nhà thờ St. Peter tại Irthlingborough. Được lấy từ huy hiệu cũ của Irthlingborough Diamonds, đó là hai chiếc chìa khóa, một cho thiên đường và một cho địa ngục. Bên dưới con sư tử, ở góc phần tư dưới bên trái của huy hiệu, là hình 'Những viên kim cương xanh', lấy từ biểu trưng cũ của Irthlingborough Diamonds. Tương tự, ba 'vòng sọc đỏ và trắng' nằm bên phải có nguồn gốc từ huy hiệu của Rushden Town. Hình minh họa của dòng sông Nene địa phương chạy qua trung tâm huy hiệu, còn quả bóng đá nằm giữa phần Kim cương và phần Vòng sọc thì mang ý nghĩa quá rõ ràng.[18]

Sân vận động

Tập tin:Nenepark.jpg
Nene Park

Rushden & Diamonds thi đấu các trận sân nhà tại Nene Park, nằm ở rìa Irthlingborough, Northamptonshire, ngay cạnh đường A6,[19] sân vận động này có sức chứa 6.441 chỗ, trong đó có 4.641 chỗ ngồi.

Ban đầu đây là sân nhà của Irthlingborough Diamonds (khu sân này được tiếp quản từ cơ quan quản lý nước vào năm 1969, và là sân nhà của Irthlingborough Diamonds trong hơn 20 năm.[20]), sân vận động này trở thành sân nhà của Rushden and Diamonds sau sáp nhập, và đã trải qua những đợt nâng cấp lớn trong thập niên 1990 và đầu những năm 2000 khi đội bóng thăng tiến qua các hạng đấu.

Sân này cũng từng đăng cai các trận đấu của đội tuyển U21 Anh, cũng như các trận quốc tế của đội tuyển Anh C. Nơi đây còn được sử dụng làm trại tập luyện cho các vận động viên tham dự Thế vận hội mùa hè 2012.[21]

Kình địch

Kettering Town

Đối thủ chính của Rushden là đội bóng ở gần Kettering Town. Hai đội đã gặp nhau 17 trận chính thức, gồm 16 trận tại Conference National và một trận ở Cúp FA. Trận đấu chính thức đầu tiên giữa hai bên diễn ra vào ngày 8 tháng 3 năm 1997, khi Rushden thắng 5-1 tại Rockingham Road.[22] Trong những năm đầu, các trận derby giữa hai đội thường xuyên thu hút lượng khán giả vượt quá 4.500 người. Hai đội cùng chơi chung hạng trong 5 mùa giải trước khi, vào năm 2001, Rushden giành quyền thăng hạng lên Football League, còn Kettering lại xuống hạng khỏi Conference ngay trong mùa giải đó. Sau khoảng cách 7 năm, ở mùa giải 2008-09, hai đội lại cùng xuất hiện ở một hạng đấu, sau khi Rushden phải nhận 2 lần xuống hạng liên tiếp còn Kettering giành quyền thăng hạng từ Conference North.

Trong 16 trận đấu tại giải và hơn 1.000 phút bóng đá tại giải giữa hai đội, Kettering chỉ thắng hai lần, trong khi Rushden có chín chiến thắng. Cũng trong số trận đấu đó, Rushden ghi 25 bàn còn The Poppies chỉ ghi được tám bàn. Vào ngày 3 tháng 1 năm 2011, trong trận đấu gần nhất giữa hai đội, Kettering chấm dứt quãng chờ đợi 11 năm để đánh bại The Diamonds, khi thắng Rushden lần thứ hai trong lịch sử bằng chiến thắng 2-1 tại Nene Park.[23] Trong suốt lịch sử cặp đấu này, Rushden & Diamonds duy trì một thành tích rất ấn tượng là chưa từng thua một trận chính thức nào trên sân khách trước Kettering Town.[24]

Các cuộc đối đầu trước đây giữa hai đội từng xảy ra một số sự cố không đẹp. Tiền đạo Duane Darby của The Diamonds bị buộc tội hành hung vào tháng 11 năm 2000, sau một vụ húc đầu trong đường hầm cầu thủ sau trận sân nhà gặp Kettering ngày 23 tháng 9 năm 2000.[25] Trong một trận giao hữu giữa hai đội tại sân của Kettering vào năm 2005, đã có hai quả pháo sáng bị ném xuống sân. Trong một trận đấu khác giữa hai bên tại Rockingham Road vào ngày Shrove Tuesday năm 1998, trứng và bột mì đã bị ném qua tường về phía người hâm mộ Rushden.[26] Trong một trận đấu giữa hai đội tại Nene Park vào năm 2009, một quả pháo sáng đã bị ném xuống mặt sân từ khu vực của người hâm mộ Rushden, dẫn đến một cuộc điều tra. Trận đấu đó cũng chứng kiến chín vụ bắt giữ, cùng với việc huy động 60 cảnh sát và một trực thăng cảnh sát..

Northampton Town

Mối kình địch giữa The Diamonds và Northampton Town diễn ra trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006, khi hai câu lạc bộ cùng thi đấu tại League Two trong hai mùa giải. Hai đội đã gặp nhau 8 lần – 4 trận chính thức tại giải đấu và 4 trận cúp tiền mùa giải. The Diamonds chỉ có một chiến thắng tại giải trước Northampton, đó là trận thắng 3-2 tại Nene Park trong mùa giải 2004-05 nhờ bàn thắng ở phút cuối của Billy Sharp.[27] Đội cũng đánh bại đối thủ này trong hai trận Maunsell Cup tiền mùa giải. Sau khi The Diamonds xuống hạng khỏi Football League, mối kình địch này giảm dần ý nghĩa, đặc biệt khi việc xuống hạng ấy dẫn tới sự tái bùng lên của mối kình địch giữa Rushden và Kettering.

Các đối thủ địa phương khác

Rushden cũng có những mối kình địch với nhiều câu lạc bộ khác trong suốt lịch sử của mình. Peterborough UnitedLuton Town được xem là những đối thủ nhỏ trong thời gian đội còn thi đấu tại Football League, do vị trí địa lý tương đối gần nhau của ba câu lạc bộ. Tuy nhiên, sau khi The Diamonds xuống hạng xuống Conference, bất chấp việc Luton cũng hiện diện ở đó từ năm 2009, những mối kình địch này đã giảm đi đáng kể

Rushden cũng từng có những mối kình địch từ thời kỳ đầu của câu lạc bộ với Kidderminster Harriers, Cheltenham TownYeovil Town, khi ba đội này thường xuyên cạnh tranh với nhau trong các cuộc đua play-off và vô địch khác nhau

Huấn luyện viên

Giai đoạn Huấn luyện viên Ghi chú % Thắng
1992-97 Roger Ashby Vô địch Southern League Midland Division 1994

Vô địch Southern League Premier Division 1996

56%
1997-2004 Brian Talbot Vô địch Conference National 2001

Vào chung kết play-off Football League Third Division 2002

Vô địch Football League Third Division 2003

48%
2004 Barry Hunter Tạm quyền
2004-05 Ernie Tippett 17%
2005 Barry Hunter Tạm quyền
2005-06 Barry Hunter 24%
2006 Paul Hart 25%
2006 Tony Godden Tạm quyền 44%
2006-07 Graham Westley 62%
2007-09 Garry Hill Á quân Conference Cup 2008 33%
2009 Justin Edinburgh Tạm quyền 42%
2009-11 Justin Edinburgh Vào bán kết play-off Conference National 2010 46%

Cầu thủ

Số áo được treo

1 - Anh Dale Roberts, Thủ môn (2008-10) - vinh danh sau khi qua đời.[28]

Số lần ra sân nhiều nhất

Có 8 cầu thủ đã có hơn 200 lần ra sân cho câu lạc bộ:

# Cầu thủ Sự nghiệp Số lần ra sân
1 Anh Garry Butterworth 1994-2002 371
2 Anh Andy Burgess 1999-2006 & 2007-09 333
3 Anh Paul Underwood 1997-2004 301
4 Anh Darren Collins 1994-2000 286
5 Anh Billy Turley 1999-2004 253
6 Anh Tim Wooding 1997-2000 247
7 Anh Jim Rodwell 1996-2002 207
8 Anh Andy Peaks 1992-1997 205

Ghi nhiều bàn nhất

Top 10 cầu thủ ghi nhiều bàn nhất mọi thời đại:

# Cầu thủ Sự nghiệp Số lần ra sân Số bàn thắng Tỉ lệ số bàn thắng mỗi trận
1 Anh Darren Collins 1994-2000 286 152 0.53
2 Anh Dale Watkins 1993-96 162 98 0.60
3 Anh Mickey Nuttel 1993-96 115 63 0.55
4 Jamaica Onandi Lowe 2001-04 97 52 0.54
5 Anh Duane Darby 2000-03 130 51 0.39
6 Anh Andy Kirkup 1992-96 166 48 0.29
7 Anh Adie Mann 1992-95 130 44 0.34
8 Canada Simeon Jackson 2004-08 104 43 0.41
8 Anh Kevin Wilkin 1995-97 95 43 0.45
10 Anh Michael Rankine 2006-09 144 40 0.28

Các kỉ lục khác

  • Chiến thắng sân nhà đậm nhất: Rushden & Diamonds 8-0 Gateshead, ngày 13 tháng 3 năm 2010.[29]
  • Chiến thắng sân khách đậm nhất: Weymouth 0-9 Rushden & Diamonds, ngày 21 tháng 2 năm 2009.[30]
  • Thất bại đậm nhất: Coventry City 8-0 Rushden & Diamonds, Cúp Liên đoàn, ngày 2 tháng 10 năm 2002.[31]
  • Kỷ lục khán giả: 6.431, gặp Leeds United, vòng Ba Cúp FA, ngày 2 tháng 1 năm 1999.[32]
  • Nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải tại giải vô địch: Darren Collins, 30 bàn, 1995-96.[33]

Danh hiệu

League

Cúp

  • Conference League Cup
    • Á quân: 2007-08
  • NFA Hillier Cup
    • Vô địch: 1994, 1999, 2007, 2008
  • NFA Maunsell Cup
    • Vô địch: 1995, 2000, 2006, 2008
  • Conference Shield
    • Vô địch: 2001
  • Southern League Championship Cup
    • Vô địch: 1997

Tham khảo

  1. ^ "Rushden expelled from Conference". BBC News. ngày 11 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2011.
  2. ^ "Rushden and Diamonds new owner Keith Cousins | Political Economy of Football | tháng 11 năm 2006". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011.
  3. ^ New owners 'ecstatic' at a chance to push on - Rushden & Diamonds - Evening Telegraph[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  4. ^ a b "Calder quits as Diamonds chairman". BBC News. ngày 3 tháng 3 năm 2011.
  5. ^ League Two Statistics
  6. ^ Historical attendances Lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2011 tại Wayback Machine. European-football-statistics.co.uk. Retrieved on 15 tháng 12 năm 2010.
  7. ^ Rushden & Diamonds | Match | Report | 3 tháng 4 năm 2008, Aldershot 3 - 3 Rushden & Diamonds Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2012 tại Wayback Machine
  8. ^ Rushden & Diamonds | Club | A-Z of Diamonds | A-Z of Diamonds | Dale Roberts
  9. ^ Rushden & Diamonds | News | Latest News | Latest News | Keith Cousins: Mixed Emotions[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  10. ^ "Diamonds executive Thompson quits". BBC News. ngày 10 tháng 1 năm 2011.
  11. ^ Diamonds under an embargo - Rushden & Diamonds - Evening Telegraph[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  12. ^ "We discussed strike - Rushden & Diamonds - Evening Telegraph". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011.
  13. ^ "Leon Knight launches furious Twitter attack on Rushden & Diamonds". The Guardian. London. ngày 21 tháng 9 năm 2010.
  14. ^ "Rushden and Diamonds expelled from the Conference for finanical [sic] reasons". The Daily Telegraph. London. ngày 11 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2022.
  15. ^ "Rushden & Diamonds fail in Evo-Stik Southern Premier bid". BBC Sport. ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  16. ^ "Rushden & Diamonds enter administration". BBC Sport. ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  17. ^ "Rushden & Diamonds fans plan to set up 'phoenix' club". BBC Sport. ngày 8 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  18. ^ Rushden & Diamonds F.C. Crest & Club History. Footballcrests.com (11 tháng 12 năm 2001). Retrieved on 15 tháng 12 năm 2010.
  19. ^ Rushden and Diamonds - Nene Park Lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2011 tại Wayback Machine. Rdfcnet.co.uk (16 July 1998). Retrieved on 15 tháng 12 năm 2010.
  20. ^ Rushden & Diamonds | Club | Nene Park | Nene Park Lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2009 tại Wayback Machine. Thediamondsfc.com. Retrieved on 15 tháng 12 năm 2010.
  21. ^ "Olympic training venues - East Midlands". BBC News. ngày 3 tháng 3 năm 2008.
  22. ^ "Kettering Town 1 Rushden & Diamonds 5". ngày 8 tháng 3 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2026.
  23. ^ "Rushden & Diamonds 1 Kettering Town 2". ngày 3 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2026.
  24. ^ "Rushden & Diamonds Match History". ngày 4 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2026.
  25. ^ "Darby pays for derby madness". BBC News. ngày 28 tháng 11 năm 2000.
  26. ^ "Kettering Town 0 Rushden & Diamonds 4". ngày 21 tháng 2 năm 1998.
  27. ^ "Rushden and Diamonds 3 Northampton Town 2". ngày 12 tháng 3 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2026.
  28. ^ "Justin Edinburgh: Dale touched our lives". Rushden & Diamonds F.C. ngày 19 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010.
  29. ^ Rushden & Diamonds | Match | Report | 13 tháng 3 năm 2010, Rushden & Diamonds 8 - 0 Gateshead Lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2010 tại Wayback Machine. Thediamondsfc.com. Retrieved on 15 tháng 12 năm 2010.
  30. ^ Rushden & Diamonds | Match | Report | 21 tháng 2 năm 2009, Weymouth 0 - 9 Rushden & Diamonds Lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2009 tại Wayback Machine. Thediamondsfc.com. Retrieved on 15 tháng 12 năm 2010.
  31. ^ Rushden & Diamonds | Match | Report | 2 tháng 10 năm 2002, Coventry 8 - 0 Rushden & Diamonds[liên kết hỏng vĩnh viễn]. Thediamondsfc.com. Retrieved on 15 tháng 12 năm 2010.
  32. ^ Rushden & Diamonds | Club | Club History | Official Club History Lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2010 tại Wayback Machine. Thediamondsfc.com. Retrieved on 15 tháng 12 năm 2010.
  33. ^ "Rushden & Diamonds Football Club History". ngày 13 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2026.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Rushden & Diamonds F.C.