Sát Hợp Đài
Sát Hợp Đài (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; k. 1183 – 1242) là một hoàng tử của Đế quốc Mông Cổ, con trai thứ của Thành Cát Tư Hãn và chính thất Bột Nhi Thiếp. Ông nổi tiếng vì thông thạo bộ luật truyền khẩu Mông Cổ và là người tuân thủ khắt khe truyền thống tổ tiên, cùng với một tính tình nóng nảy khinh suất. Vì sự cứng nhắc trong cung cách hành xử, đơn cử như việc không chấp nhận phụ hãn truyền ngôi cho anh trai ngoài giá thú Truật Xích, Thành Cát Tư đã gạt bỏ Sát Hợp Đài khỏi tước trữ quân. Dù vậy, ông vẫn là nhân vật cốt cán đảm bảo sự ổn định của đế quốc sau khi phụ hãn qua đời và trong thời gian em trai Oa Khoát Đài trị vì.
| Sát Hợp Đài | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Tập tin:Chagatai Khan (cropped).JPG Một pho tượng Sát Hợp Đài tại Mông Cổ | |||||
| Hãn của [[Hãn quốc Sát Hợp Đài|Bản mẫu:Transl Sát Hợp Đài]] | |||||
| Tại vị | 1227–1242 | ||||
| Tiền nhiệm | Đầu tiên | ||||
| Kế nhiệm | Hà Lạt Húc Liệt | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | k. 1184 | ||||
| Mất | 1242 | ||||
| Phối ngẫu |
| ||||
| Hậu duệ |
| ||||
| |||||
| Hoàng tộc | Bột Nhi Chỉ Cân | ||||
| Thân phụ | Thành Cát Tư Hãn | ||||
| Thân mẫu | Bột Nhi Thiếp | ||||
| Tôn giáo | Tengri giáo | ||||
| Binh nghiệp | |||||
| Tham chiến | Trang Bản mẫu:Tree list/styles.css không có nội dung. | ||||
Sát Hợp Đài suất lĩnh quân đội Mông Cổ cùng với huynh đệ trong cuộc xâm lược Kim năm 1211 và Khwarazm năm 1219. Tại chiến trường Khwarazm, ông đồng thời đảm nhận vai trò tiếp tế hậu cần và chỉ huy trận tiền, về sau bị chỉ trích vì xung đột với Truật Xích trong cuộc vây hãm Gurganj. Với chiến thắng quyết định của Mông Cổ tại Khwarazm, Sát Hợp Đài được cấp phong vùng Trung Á rộng lớn để cai trị cho đến khi mất. Bình sinh, ông tranh luận với liêu thuộc như Mahmud Yalavach về vấn đề pháp luật và hiến kế cho Oa Khoát Đài về vấn đề trị quốc. Sát Hợp Đài mất ít lâu sau khi em trai băng hà vào năm 1242; hậu duệ của ông sẽ thay nhau cai trị Hãn quốc Sát Hợp Đài trong những thập kỷ kế tiếp.
Tiểu sử
Cuộc đời kỳ thủy và tính cách
Thân mẫu của Sát Hợp Đài, Bột Nhi Thiếp, xuất thân từ thị Hoằng Cát Lặt bản địa của dãy Đại Hưng An phía nam sông Ergüne, Nội Mông hiện đại.[1] Bà kết hôn với thủ lĩnh Mông Cổ Thiết Mộc Chân vào k. 1178 sau một cuộc hứa hôn kéo dài 7 năm.Bản mẫu:Sfnm Sau khi đẻ đứa con gái đầu lòng tên Hỏa Thần Biệt Cát, Bột Nhi Thiếp bị tộc Miệt Nhi Khất bắt cóc và cưỡng hiếp — không rõ thân thế thực sự của cha đứa bé tên Truật Xích mà bà hạ sinh, song Thiết Mộc Chân coi nó như con đẻ và cưu mang nuôi nó khôn lớn.Bản mẫu:Sfnm Sát Hợp Đài, chào đời khoảng cuối năm 1183 hoặc đầu năm 1184, vì vậy có thể là con trai cả thực sự của Thiết Mộc Chân.Bản mẫu:Sfnm Ông trưởng thành cùng sáu người em ruột: hai em trai tên Oa Khoát Đài và Đà Lôi, và bốn em gái tên Xà Xà Cán, A Lạt Hải Biệt Cát, Thốc Mãn Luân, và Giả Lập An Độn.Bản mẫu:Sfnm
Năm 1206, Mông Cổ thống nhất, Thiết Mộc Chân cho triệu tập đại nghị quý tộc Bản mẫu:Transl và lấy hiệu "Thành Cát Tư Hãn".[2] Ông bắt đầu kiến dựng đất nước theo ý mình, chia chác thần dân bị trị cho con cháu và tùy tòng. Sát Hợp Đài được cấp phong đất xung quanh Dãy núi Altai, lãnh thổ cũ của tộc Nãi Man. Ông cũng được cấp cho 4.000–8.000 thần dân, bao gồm thành viên của các tộc Jalayir, Barla, Sulduz, Sonit, và Dughlat.Bản mẫu:Sfnm Hai người vợ cả của Sát Hợp Đài, Dã Tốc Luân và Tögen, đều xuất thân từ thị Hoằng Cát Lạt và là những người con gái của anh họ bà Bột Nhi Thiếp tên Qata; Dã Tốc Luân là ái phi của Sát Hợp Đài và là mẹ đẻ của người con trai Mạc Đồ Căn cũng được ông rất quý mến.Bản mẫu:Sfnm Những người con trai khác mà ta biết tên bao gồm Mochi Yaba — vốn hạ sinh từ một tì thiếp và vì vậy ít được để ý bởi thân phụ — Balgashi, Sarban, Dã Tốc Mông Kha, và Baidar — những người con mà thân mẫu không rõ tên tuổi.[3]
Sát Hợp Đài được biết là người rất thông thạo luật pháp và tập quán Mông Cổ, nhất là khi nó có liên quan đến ý nguyện của khả hãn.Bản mẫu:Sfnm Theo một số nguồn, Thành Cát Tư Hãn đã giao phó cho Sát Hợp Đài và em trai nuôi Thất Cát Hốt Đồ Hốt trông nom bộ luật Yasa.Bản mẫu:Sfnm Sử gia trung cổ như Juzjani cho rằng Sát Hợp Đài hết sức khắt khe khi diễn giải bộ luật này và cũng đã để ý đến tính cách khinh suất nóng nảy của ông.Bản mẫu:Sfnm
Hậu duệ
- Mộc A Thốc Kiền (木阿秃干, Bản mẫu:Mong; ? - 1221)
- Con trai: Bất Lý (不里, Bản mẫu:Mong; ? - 1252), sau được phong Việt vương, Uy Viễn vương.
- Mạc Cơ Nhã (莫基雅)
- Biệt Lợi Hắc Thất (别利黑失)
- Tát Ban (撒班)
- Dã Tốc Mông Ca (也速蒙哥)
- Bối Đạt Nhi (贝达儿)
Gia phả
Tham khảo
- ^ Atwood 2004, tr. 456.
- ^ Atwood 2004, tr. 98–99.
- ^ May 2017, tr. 138–139.
Thư mục
- Allsen, Thomas T. (1993). "Mahmud Yalavac, Mas'ud Beg, 'Ali Beg, Safaliq, Bujir". Trong de Rachewiltz, Igor (biên tập). In the Service of the Khan: Eminent Personalities of the Early Mongol-Yüan Period (1200–1300). Wiesbaden: Harrassowitz Verlag. tr. 122–135. ISBN 978-3-4470-3339-8.
- Atwood, Christopher P. (2004). Encyclopedia of Mongolia and the Mongol Empire. New York: Facts on File. ISBN 978-0-8160-4671-3. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2025.
- Atwood, Christopher P. (2017). "Jochi and the Early Western Campaigns". Trong Rossabi, Morris (biên tập). How Mongolia Matters: War, Law, and Society. Leiden: Brill. tr. 35–56. ISBN 978-9-0043-4340-5.
- Barthold, Vasily (1992) [1900]. Bosworth, Clifford E. (biên tập). Turkestan Down To The Mongol Invasion . New Delhi: Munshiram Manoharlal. ISBN 978-8-1215-0544-4.
- Batbayar, Bat-Erdene (2000). Twentieth Century Mongolia. Leiden: Brill. ISBN 978-1-8742-6740-9.
- Bản mẫu:Encyclopædia Iranica OnlineBản mẫu:Sfn whitelist
- Biran, Michal (2009). "The Mongols in Central Asia from Chinggis Khan's invasion to the rise of Temür: the Ögödeid and Chaghadaid realms". The Chinggisid Age. The Cambridge History of Inner Asia. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 46–66. ISBN 978-1-1390-5604-5.
- Biran, Michal; Kim, Hodong, biên tập (2023). The Cambridge History of the Mongol Empire. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-1-3163-3742-4.
- Boyle, John Andrew (2007) [1968]. Boyle, J. A. (biên tập). The Cambridge History of Iran Volume 5: The Saljuq and Mongol Periods. Cambridge: Cambridge University Press. doi:10.1017/CHOL9780521069366. ISBN 978-1-1390-5497-3.
- Broadbridge, Anne F. (2018). Women and the Making of the Mongol Empire. Cambridge Studies in Islamic Civilization. Great Barrington: Cambridge University Press. ISBN 978-1-1086-3662-9.
- Hope, Michael (2017). "Quriltai". Trong May, Timothy (biên tập). The Mongol Empire: A Historical Encyclopedia. Quyển I. Santa Barbara: ABC-CLIO. tr. 31–33. ISBN 978-1-6106-9339-4.
- Hope, Michael (2022). "The Middle Empire". Trong May, Timothy; Hope, Michael (biên tập). The Mongol World. Abingdon: Routledge. tr. 298–316. ISBN 978-1-3151-6517-2.
- Bản mẫu:Encyclopædia Iranica Online
- May, Timothy (2017). "Chagatai Khan (d. 1242)". Trong May, Timothy (biên tập). The Mongol Empire: A Historical Encyclopedia. Quyển I. Santa Barbara: ABC-CLIO. tr. 138–139. ISBN 978-1-6106-9339-4.
- May, Timothy (2018). The Mongol Empire. Edinburgh: Edinburgh University Press. ISBN 978-0-7486-4237-3. JSTOR 10.3366/j.ctv1kz4g68.
- Morgan, David (1986). The Mongols. The Peoples of Europe. Oxford: Blackwell Publishing. ISBN 978-0-6311-7563-6.
- Ratchnevsky, Paul (1991). Genghis Khan: His Life and Legacy. Thomas Haining biên dịch. Oxford: Blackwell Publishing. ISBN 978-0-6311-6785-3.