Sự tận tâm
Sự tận tâm (Conscientiousness) hay tận tình là đặc điểm tính cách của tinh thần trách nhiệm, cẩn thận, siêng năng. Tính tận tâm hàm ý mong muốn hoàn thành tốt một nhiệm vụ và coi trọng nghĩa vụ đối với người khác. Những người tận tâm thường hiệu quả và có tổ chức hơn những người dễ dãi và bừa bộn. Họ có xu hướng thể hiện tính tự kỷ luật tự giác, hành động có trách nhiệm, theo bổn phận và hướng tới thành tựu, họ thể hiện hành vi có kế hoạch hơn là tự phát, và họ thường đáng tin cậy. Tính tận tâm thể hiện ở những hành vi đặc trưng như tác phong làm việc gọn gàng, lối suy nghĩ có hệ thống, cẩn thận, tỉ mỹ, kỹ lưỡng và cẩn trọng (có xu hướng suy nghĩ kỹ trước khi hành động).[1]

Đại cương
Sự tận tâm là một trong năm đặc điểm của cả Mô hình 5 yếu tố (Big Five personality traits) và mô hình HEXACO về nhân cách và là một khía cạnh của cái thường được gọi là có tính cách. Những cá nhân tận tâm thường chăm chỉ và đáng tin cậy. Khi bị đẩy lên mức cực đoan, họ cũng có thể là "người tham công tiếc việc", người cầu toàn, và có biểu hiện quyết liệt.[2] Những người có điểm số thấp về sự tận tâm có xu hướng thoải mái, ít hướng đến mục tiêu và ít bị thúc đẩy vì chuyện thành công, thành đạt, nếu họ cũng có điểm cao về tính dễ chịu (Agreeableness) trong Big Five, nếu không, họ cũng có nhiều khả năng tham gia vào hành vi chống đối xã hội và phạm tội phạm cổ cồn xanh cũng như tội phạm do kích động.[3] Sự tận tâm là một trong năm chiều chính trong Mô hình 5 yếu tố của nhân cách (còn gọi là Mô hình Năm Yếu tố hoặc OCEAN), bao gồm sự cởi mở với trải nghiệm, sự tận tâm, tính hướng ngoại, tính dễ chịu, và tính tâm lý bất ổn. Hai trong số nhiều trắc nghiệm tâm lý đánh giá các đặc điểm này là NEO PI-R của Costa và McCrae[4] và NEO-IPIP của Goldberg.[5] Theo các mô hình này, sự tận tâm là một chiều liên tục của nhân cách, thay vì là một "loại" người theo phân loại.
Các đặc điểm nhân cách Big Five khác như tính hướng ngoại thấp, tính dễ chịu cao, sự cởi mở thấp, và tính tâm lý bất ổn thấp có liên quan đến sự tận tâm cao.[4] Các thuật ngữ như "chăm chỉ", "đáng tin cậy" và "kiên trì" mô tả những khía cạnh mong muốn của tính cách. Vì sự tận tâm từng được cho là một đánh giá đạo đức, nó đã bị bỏ qua như một thuộc tính tâm lý. Thực tế về sự khác biệt cá nhân trong sự tận tâm hiện đã được thiết lập rõ ràng bởi các nghiên cứu về sự đồng thuận giữa các quan sát viên chéo. Đánh giá của đồng nghiệp và chuyên gia xác nhận các báo cáo tự thân mà mọi người đưa ra về mức độ tận tâm của họ. Hơn nữa, cả báo cáo tự thân và đánh giá của người quan sát về sự tận tâm đều dự đoán các kết quả thực tế trong cuộc sống như thành công trong học tập.[6] Trong phần lớn thế kỷ XX, các nhà tâm lý học tin rằng các đặc điểm nhân cách có thể được chia thành hai loại gồm khí chất và tính cách. Các đặc điểm khí chất được cho là dựa trên sinh học, trong khi các đặc điểm tính cách được cho là học được trong thời thơ ấu hoặc suốt đời. Với sự ra đời của FFM (Mô hình Năm Yếu tố), các nhà di truyền học hành vi bắt đầu các nghiên cứu có hệ thống về toàn bộ phạm vi các đặc điểm nhân cách, và sớm trở nên rõ ràng rằng cả năm yếu tố đều có tính di truyền đáng kể. Các cặp song sinh cùng trứng cho thấy các đặc điểm nhân cách rất giống nhau ngay cả khi chúng bị tách ra từ khi sinh và nuôi dưỡng riêng biệt, và điều này đúng cho cả các đặc điểm tính cách và đặc điểm khí chất. Cha mẹ và cộng đồng ảnh hưởng đến cách thức thể hiện sự tận tâm và nhiệt tình, nhưng dường như họ không ảnh hưởng đến mức độ của nó.[7]
Chú thích
- ^ Thompson, E.R. (tháng 10 năm 2008). "Development and Validation of an International English Big-Five Mini-Markers". Personality and Individual Differences. 45 (6): 542–548. doi:10.1016/j.paid.2008.06.013.
- ^ Carter, Nathan L.; Guan, Li; Maples, Jessica L.; Williamson, Rachel L.; Miller, Joshua D. (2015). "The downsides of extreme conscientiousness for psychological wellbeing: The role of obsessive compulsive tendencies". Journal of Personality. 84 (4): 510–522. doi:10.1111/jopy.12177. PMID 25858019.
- ^ Ozer, D. J.; Benet-Martínez, V. (2006). "Personality and the prediction of consequential outcomes". Annual Review of Psychology. 57: 401–421. doi:10.1146/annurev.psych.57.102904.190127. PMID 16318601. S2CID 20451934.
- ^ a b Costa, P.T.; McCrae, R.R. (1992). NEO personality Inventory professional manual. Odessa, Fla.: Psychological Assessment Resources.
- ^ "International Personality Item Pool". ipip.ori.org.
- ^ Kim, Lisa E.; Poropat, Arthur E.; MacCann, Carolyn (2016), "Conscientiousness in Education: Its Conceptualization, Assessment, and Utility", The Springer Series on Human Exceptionality, Cham: Springer International Publishing, tr. 155–185, doi:10.1007/978-3-319-28606-8_7, ISBN 978-3-319-28604-4
- ^ McCrae, Robert (2004). "Conscientiousness". Encyclopedia of Applied Psychology. Academic Press. tr. 470.Bản mẫu:Volume needed