Stoke City F.C.
Bản mẫu:Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá
Câu lạc bộ bóng đá Stoke City (tiếng Anh: Stoke City Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Stoke-on-Trent, Staffordshire, Anh. Đội hiện thi đấu tại Bản mẫu:English football updater, hạng đấu cao thứ hai của bóng đá Anh.
Được thành lập với tên gọi Stoke Ramblers vào năm 1863, câu lạc bộ đổi tên thành Stoke vào năm 1878, rồi thành Stoke City vào năm 1925 sau khi Stoke-on-Trent được trao tư cách thành phố. Sân nhà của Stoke là Sân vận động bet365 với sức chứa 30.089 chỗ ngồi. Trước khi sân này được khánh thành vào năm 1997, câu lạc bộ thi đấu tại Victoria Ground, sân nhà của họ kể từ năm 1878. Biệt danh của câu lạc bộ là The Potters, bắt nguồn từ ngành gốm sứ tại Stoke-on-Trent, còn trang phục sân nhà truyền thống là áo sọc dọc đỏ-trắng, quần trắng và tất trắng. Các đối thủ truyền thống của họ là những đội bóng vùng Midlands như West Bromwich Albion và Wolverhampton Wanderers, trong khi đối thủ địa phương là Port Vale, đội mà họ cùng tạo nên derby Potteries.
Stoke là một trong mười hai thành viên sáng lập của Football League vào năm 1888. Họ không tái đắc cử vào năm 1890, nhưng được nhận lại sau khi giành chức vô địch 1890-91 của Football Alliance. Câu lạc bộ xuống hạng khỏi First Division vào năm 1907 và rơi vào tình trạng thanh lí vào năm sau đó. Dù được cứu vãn, họ chỉ được tái đắc cử vào năm 1915; trong quãng thời gian xen giữa, đội thi đấu tại Birmingham & District League và Southern League. Sau khi thăng hạng từ Second Division ở mùa giải 1921-22, câu lạc bộ lại xuống hạng hai lần trong bốn năm vào năm 1926. Stoke giành chức vô địch Third Division North ở mùa giải 1926-27, rồi vô địch Second Division ở mùa giải 1932-33. Họ ở lại hạng đấu cao nhất trong hai mươi năm, sau đó trải qua một thập kỉ ở Second Division trước khi giành quyền thăng hạng với tư cách nhà vô địch vào mùa giải 1962-63.
Dưới sự dẫn dắt của Tony Waddington, Stoke giành Cúp Liên đoàn năm 1972 với chiến thắng 2-1 trước Chelsea. Stoke cũng từng vào chung kết nhưng thất bại vào năm 1964. Câu lạc bộ trải qua mười bốn năm ở hạng đấu cao nhất, rồi giành quyền thăng hạng ở mùa giải 1978-79 sau khi xuống hạng hai năm trước đó. Stoke tiếp tục thi đấu ở hạng đấu cao nhất từ năm 1979 đến năm 1985, nhưng rồi rơi xuống Third Division vào năm 1990. Sau khi vô địch Football League Trophy vào năm 1992, họ giành quyền thăng hạng với tư cách nhà vô địch ở mùa giải 1992-93. Việc xuống hạng vào năm 1998 lại mở đường để câu lạc bộ giành thêm một danh hiệu Football League Trophy khác vào năm 2000, trước khi giành quyền thăng hạng nhờ chiến thắng trong chung kết play-off năm 2002. Huấn luyện viên Tony Pulis đưa Stoke lên Premier League vào cuối mùa giải 2007-08. Họ vào trận chung kết Cúp FA năm 2011, kết thúc với vị trí á quân sau Manchester City, qua đó giành quyền tham dự cúp châu Âu. Mười năm thi đấu tại Premier League kết thúc bằng việc xuống hạng xuống EFL Championship vào năm 2018.
Lịch sử
Thành lập và những năm đầu (1863-1919)
Mặc dù có những ghi nhận về việc môn thể thao này được chơi tại Stoke vào năm 1863 và câu lạc bộ cũng lấy đây làm năm thành lập chính thức,[1][2][3][4] nhưng câu lạc bộ Stoke Ramblers thực sự được thành lập vào năm 1868 bởi Henry Almond, người từng là học sinh tại trường Charterhouse, nơi lối chơi rê bóng của môn này rất thịnh hành.[5] Almond tới khu vực này để làm học việc cho Công ty Đường sắt North Staffordshire, và vì muốn tiếp tục chơi môn thể thao mà ông từng yêu thích khi còn đi học, ông đã thành lập câu lạc bộ bóng đá theo luật bóng đá hiện đại chính thức đầu tiên tại khu vực.[2] Trận đấu đầu tiên được ghi chép lại của câu lạc bộ diễn ra vào tháng 10 năm 1868, gặp một đội bóng tập hợp riêng cho dịp này bởi E.W. May. Harry Almond là đội trưởng của Stoke Ramblers và cũng ghi bàn thắng đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ.[2] Trận sân khách đầu tiên được ghi nhận của câu lạc bộ là tại Congleton, một câu lạc bộ bóng bầu dục đã được thuyết phục chơi một trận giao hữu duy nhất theo luật bóng đá vào tháng 12 năm 1868.[6] Từ thập niên 1860, câu lạc bộ thi đấu tại sân của Victoria Cricket Club; tuy nhiên, họ chuyển sang một sân gần đó tại Sweetings Field vào năm 1875 để đáp ứng lượng khán giả ngày càng tăng.[1]
Năm 1870, sau hai mùa giải với tên gọi Ramblers, câu lạc bộ bỏ hậu tố này khỏi tên và được biết đến với tên Stoke Football Club.[7] Đội gắn bó chặt chẽ với Stoke Victoria Cricket Club, chia sẻ cơ sở vật chất cũng như một số trách nhiệm quản lí.[1] Câu lạc bộ thi đấu tại sân của Athletic Club, nơi nhanh chóng được biết đến với tên gọi Victoria Ground.[2] Cũng vào giai đoạn này, câu lạc bộ sử dụng bộ trang phục sọc đỏ-trắng truyền thống. Tháng 8 năm 1885, câu lạc bộ chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp.[1]
Stoke là một trong mười hai thành viên sáng lập của Football League khi giải đấu này ra đời vào năm 1888.[2] Câu lạc bộ gặp nhiều khó khăn trong hai mùa giải đầu tiên, 1888-89 và 1889-90, đều đứng cuối bảng ở cả hai mùa.[8] Năm 1890, Stoke không được tái đắc cử, trở thành câu lạc bộ đầu tiên rơi vào trường hợp này,[9] và gia nhập Football Alliance, giải đấu mà họ sau đó vô địch, qua đó được tái kết nạp vào Football League. Stoke trải qua 15 mùa giải tiếp theo tại First Division và vào tới bán kết Cúp FA ở mùa giải 1898-99 trước khi xuống hạng vào năm 1907 trong bối cảnh khó khăn tài chính nghiêm trọng. Stoke phá sản vào cuối mùa giải 1907-08 và rời khỏi hệ thống chuyên nghiệp, thi đấu tại Birmingham & District League và Southern League cho đến năm 1915, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất khiến Football League bị đình chỉ trong bốn năm. Tuy nhiên, tại Đại hội đồng thường niên của Liên đoàn trong năm đó, Stoke được tái đắc cử vào Second Division thay cho Glossop. Trong thời kì chiến tranh, Stoke còn tham dự Lancashire Primary and Secondary leagues.[10] Khi bóng đá trở lại vào tháng 8 năm 1919, Stoke đã trở lại Football League.
Victoria Ground và Stanley Matthews (1919-1937)
Câu lạc bộ trở thành chủ sở hữu của Victoria Ground vào năm 1919. Tiếp đó là việc xây dựng khán đài Butler Street, giúp nâng tổng sức chứa của sân lên 50.000 chỗ.[11] Năm 1925, Stoke-on-Trent được trao quy chế thành phố, và điều này khiến câu lạc bộ đổi tên thành Stoke City F.C.[12]
Thập niên 1930 chứng kiến màn ra mắt của cầu thủ nổi tiếng nhất trong lịch sử câu lạc bộ, Stanley Matthews. Matthews, người lớn lên ở Hanley, là học việc tại câu lạc bộ và có lần đầu ra sân vào tháng 3 năm 1932,[13] trong trận gặp Bury, khi mới 17 tuổi.[14] Đến cuối thập niên, Matthews đã khẳng định vị thế là một tuyển thủ Anh và là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất thế hệ của mình. Stoke giành quyền thăng hạng từ Second Division ở mùa giải 1932-33 với tư cách nhà vô địch, dù Matthews chỉ ra sân mười lăm trận ở mùa đó. Tuy nhiên, ông đã ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 3-1 trước đối thủ địa phương Port Vale.[14]
Đến năm 1934, lượng khán giả trung bình của câu lạc bộ đã vượt 23.000 người, nhờ đó câu lạc bộ có thể trao cho huấn luyện viên Tom Mather ngân sách chuyển nhượng lớn hơn. Khi ấy, câu lạc bộ được xem là một trong những đội bóng hàng đầu đất nước. Chính trong giai đoạn này, câu lạc bộ ghi chiến thắng đậm nhất của mình tại giải vô địch quốc gia, đánh bại West Bromwich Albion 10-3 vào tháng 2 năm 1937. Tháng 4 cùng năm, câu lạc bộ thiết lập kỉ lục khán giả tại giải vô địch quốc gia – 51.373 người trong trận gặp Arsenal. Freddie Steele ghi 33 bàn tại giải trong mùa giải 1936-37, một kỉ lục của câu lạc bộ cho tới nay.[14]
Cuộc đua vô địch và sự sa sút ở giải vô địch quốc gia (1937-1960)
Sau khi Cúp FA được nối lại sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thảm kịch ập đến vào ngày 9 tháng 3 năm 1946, khi 33 cổ động viên thiệt mạng và 520 người bị thương trong trận đấu thuộc vòng Sáu trên sân khách gặp Bolton Wanderers. Sự kiện này được gọi là thảm họa Burnden Park.[15] Ở mùa giải 1946-47, Stoke có một cuộc đua vô địch nghiêm túc. Câu lạc bộ chỉ cần thắng trận cuối cùng của mùa giải để giành chức vô địch First Division. Tuy nhiên, thất bại 1-2 trước Sheffield United khiến danh hiệu rơi vào tay Liverpool. Stanley Matthews rời câu lạc bộ khi mùa giải 1946-47 còn ba trận, chọn gia nhập Blackpool ở tuổi 32.[15]
Stoke xuống hạng khỏi First Division ở mùa giải 1952-53; trong mùa này, Bob McGrory từ chức huấn luyện viên trưởng sau 17 năm tại vị.[16][17] Cựu hậu vệ Wolverhampton Wanderers Frank Taylor tiếp quản câu lạc bộ với mục tiêu đưa đội trở lại First Division. Tuy nhiên, sau bảy mùa giải tại Second Division mà không thể thăng hạng, Taylor bị sa thải. Ông bị sốc trước quyết định này và thề sẽ không còn dính líu tới bóng đá nữa.[2]
Những năm tháng dưới thời Tony Waddington (1960-1977)
Tony Waddington được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ vào tháng 6 năm 1960.[18] Ông gia nhập câu lạc bộ vào năm 1952 với vai trò huấn luyện viên, trước khi được thăng làm trợ lí huấn luyện viên vào năm 1957. Waddington tạo nên một thương vụ đáng chú ý khi thuyết phục Stanley Matthews – khi đó đã 46 tuổi – trở lại câu lạc bộ, 14 năm sau ngày ông ra đi.[19] Sự trở lại của Matthews giúp Stoke cải thiện thành tích với vị trí thứ tám ở mùa giải 1961-62. Quyền thăng hạng được giành ở mùa giải tiếp theo, khi Stoke kết thúc mùa giải với tư cách nhà vô địch.[19] Trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất, mùa giải 1963-64, đội bóng kỉ niệm 100 năm thành lập[20] và Waddington đưa Stoke cán đích ở nhóm giữa bảng. Stoke vào tới Chung kết Football League Cup 1964, nơi họ thua Leicester City 3-4 sau hai lượt trận.[19]
Waddington trọng dụng kinh nghiệm; Dennis Viollet, Jackie Mudie, Roy Vernon, Maurice Setters và Jimmy McIlroy đều là những cầu thủ được chiêu mộ khi đã ở giai đoạn cuối sự nghiệp. Matthews được phong tước hiệp sĩ vì những cống hiến cho bóng đá trong danh sách Vinh danh Năm mới 1965. Sau đó là lần ra sân cuối cùng của ông cho câu lạc bộ trong trận gặp Fulham vào tháng 2 năm 1965, không lâu sau sinh nhật lần thứ 50. Gordon Banks, thủ môn vô địch World Cup 1966 của đội tuyển Anh, gia nhập vào năm 1967 từ Leicester với giá 52.000 bảng Anh.[19] Được xem là thủ môn xuất sắc nhất thế giới,[21][22] Banks chứng tỏ là một bản hợp đồng khôn ngoan của Waddington khi giúp câu lạc bộ duy trì sự ổn định tại First Division.[19] Trong giai đoạn nghỉ giữa mùa năm 1967, Stoke City tham dự giải đấu một lần duy nhất United Soccer Association, giải đấu đã mời các câu lạc bộ từ châu Âu và Nam Mĩ sang thi đấu. Stoke thi đấu dưới tên gọi Cleveland Stokers và kết thúc với vị trí á quân của khu vực Eastern Division.[23]
Câu lạc bộ giành danh hiệu lớn đầu tiên trong lịch sử vào ngày 4 tháng 3 năm 1972, tại trận chung kết Cúp Liên đoàn gặp Chelsea.[24] Stoke thắng 2-1 trước 97.852 khán giả tại Wembley nhờ các bàn thắng của Terry Conroy và George Eastham.[25] Trước chiến thắng này, Stoke đã phải trải qua 11 trận để vào tới chung kết. Trong đó có bốn trận gặp West Ham United ở vòng bán kết; cặp đấu hai lượt này đã phải đá lại tới hai lần. Stoke cũng thi đấu tốt tại Cúp FA; câu lạc bộ vào tới bán kết ở cả mùa giải 1970-71 lẫn mùa giải 1971-72. Tuy nhiên, ở cả hai lần, Stoke đều thua Arsenal trong trận đá lại.[25] Stoke cũng tham dự Cúp UEFA vào các năm 1972 và 1974, nhưng đều bị loại ngay ở lần đầu tiên bởi 1. FC Kaiserslautern và Ajax.[25]
Tháng 1 năm 1976, mái che của khán đài Butler Street bị bão thổi bay.[26] Chi phí sửa chữa gần 250.000 bảng Anh khiến câu lạc bộ lâm vào khó khăn tài chính; những cầu thủ quan trọng như Alan Hudson, Mike Pejic và Jimmy Greenhoff bị bán đi để trang trải chi phí. Khi đội hình bị suy yếu, Stoke xuống hạng ở mùa giải 1976-77. Waddington, sau 17 năm dẫn dắt, rời câu lạc bộ sau thất bại 0-1 trên sân nhà trước Leicester vào tháng 3 năm 1977.[25]
Vòng xoay huấn luyện viên (1977-1997)
Người thay thế Waddington là George Eastham, rời đi vào tháng 1 năm 1978 chỉ sau mười tháng cầm quân, và được thay thế bởi Alan Durban từ Shrewsbury Town. Durban giúp Stoke thăng hạng lên First Division ở mùa giải 1978-79,[25] nhưng sau khi giúp câu lạc bộ trụ vững tại First Division, ông rời đi để dẫn dắt Sunderland vào năm 1981.[27] Richie Barker được bổ nhiệm cho mùa giải 1981-82, nhưng bị sa thải vào tháng 12 năm 1983 và được thay thế bởi Bill Asprey. Asprey quyết định đưa lão tướng Alan Hudson trở lại, và quyết định này đã phát huy hiệu quả khi sự khởi sắc ở nửa sau mùa giải giúp Stoke tránh xuống hạng ở vòng cuối cùng của mùa giải 1983-84.[27]
Mùa giải 1984-85 chứng tỏ là một thảm họa. Stoke kết thúc mùa giải với chỉ 17 điểm, chỉ thắng ba trận trong cả mùa. Mick Mills được bổ nhiệm làm cầu thủ kiêm huấn luyện viên cho mùa giải 1985-86,[27] nhưng không thể duy trì một cuộc đua thăng hạng trong bốn mùa giải cầm quân và bị sa thải vào tháng 11 năm 1989. Người kế nhiệm ông, Alan Ball Jr., trở thành huấn luyện viên thứ năm của câu lạc bộ trong vòng mười năm.[27] Ball gặp khó khăn trong mùa đầu tiên dẫn dắt, mùa giải 1989-90, và Stoke bị xuống hạng xuống cấp độ thứ ba của bóng đá Anh sau khi đứng cuối Second Division. Ball vẫn được giữ lại vào đầu mùa giải tiếp theo, nhưng rời đi trong tháng 2 năm 1991, ở một mùa giải nhạt nhòa khiến Stoke kết thúc ở vị trí thứ 14 tại Third Division, vị trí thấp nhất của Stoke trong hệ thống giải vô địch quốc gia.[28]
Người kế nhiệm Ball là Lou Macari, được bổ nhiệm vào tháng 5 năm 1991, trước khi mùa giải 1991-92 khởi tranh. Ông mang về danh hiệu cho câu lạc bộ; Football League Trophy 1992 được giành nhờ chiến thắng 1-0 trước Stockport County tại Wembley, với Mark Stein ghi bàn duy nhất của trận đấu. Mùa giải kế tiếp, 1992-93, Stoke giành quyền thăng hạng từ cấp độ thứ ba. Macari rời đi để tới câu lạc bộ thuở nhỏ của mình là Celtic vào tháng 10 năm 1993 và được thay thế bởi Joe Jordan; Stein cũng ra đi, chuyển tới Chelsea với mức phí kỉ lục của câu lạc bộ là 1,5 triệu bảng Anh.[28] Giai đoạn Jordan cầm quân diễn ra ngắn ngủi, khi ông rời câu lạc bộ chưa đầy một năm sau khi tới nơi, và Stoke quyết định tái bổ nhiệm Lou Macari chỉ 12 tháng sau khi ông ra đi. Stoke kết thúc mùa giải 1995-96 ở vị trí thứ tư nhưng bị Leicester City đánh bại ở bán kết play-off. Macari rời câu lạc bộ vào cuối mùa giải sau đó. Trận cuối cùng của ông trên cương vị huấn luyện viên là trận đấu cuối cùng của câu lạc bộ tại Victoria Ground.[28] Mike Sheron, được chiêu mộ từ Norwich City hai năm trước đó, bị bán đi vào năm 1997 với mức phí chuyển nhượng kỉ lục của câu lạc bộ là 2,5 triệu bảng Anh.[29]
Sân vận động Britannia và cuộc tiếp quản của người Iceland (1997-2008)
Mùa giải 1997-98 chứng kiến Stoke chuyển tới sân mới của mình, Britannia Stadium,[30] sau 119 năm gắn bó với Victoria Ground. Chic Bates, trợ lí của Macari, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên cho mùa giải đầu tiên của câu lạc bộ tại sân mới. Tuy nhiên, ông không trụ lại lâu và được thay bởi Chris Kamara vào tháng 1 năm 1998. Kamara cũng không thể cải thiện tình hình của câu lạc bộ, và ông cũng rời đi vào tháng 4. Alan Durban, người từng dẫn dắt Stoke hai thập kỉ trước đó, tiếp quản đội trong phần còn lại của mùa giải. Bất chấp nỗ lực của ông, Durban không thể giúp câu lạc bộ trụ hạng, khi thất bại trước Manchester City ở vòng đấu cuối cùng khiến Stoke phải xuống hạng xuống cấp độ thứ ba.[28]
Brian Little, cựu huấn luyện viên của Aston Villa,[31] tiếp quản đội bóng ở mùa giải 1998-99.[32] Mặc dù khởi đầu ấn tượng, phong độ của đội sa sút rõ rệt ở giai đoạn cuối mùa, khiến Little rời câu lạc bộ khi mùa giải kết thúc. Người kế nhiệm ông, Gary Megson, chỉ tại vị trong bốn tháng. Megson buộc phải ra đi sau cuộc tiếp quản của Stoke Holding, một tập đoàn từ Iceland, mua 66% cổ phần của Stoke City F.C. với giá 6,6 triệu bảng Anh.[26] Stoke trở thành câu lạc bộ bóng đá đầu tiên bên ngoài Iceland thuộc sở hữu của người Iceland. Họ bổ nhiệm huấn luyện viên nước ngoài đầu tiên của câu lạc bộ, Guðjón Þórðarson, người đã giúp Stoke vô địch Football League Trophy ở mùa giải 1999-2000, với chiến thắng 2-1 trước Bristol City trước 85.057 khán giả tại Wembley.[12][33]
Guðjón giành quyền thăng hạng ở lần thử thứ ba trong mùa giải 2001-02, sau những thất bại ở play-off trước Gillingham và Walsall.[34] Cardiff City bị đánh bại ở bán kết trước khi chiến thắng 2-0 trước Brentford tại Sân vận động Thiên niên kỉ đem lại suất thăng hạng. Dù đạt được mục tiêu này, Guðjón bị Gunnar Gíslason sa thải chỉ năm ngày sau đó.[34][35]
Steve Cotterill được đưa về thay Guðjón trước khi mùa giải 2002-03 khởi tranh,[34] nhưng từ chức vào tháng 10 năm 2002 chỉ sau bốn tháng cầm quân. Tony Pulis được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của Stoke ngay sau đó.[12][36] Pulis giúp Stoke tránh xuống hạng,[34] với chiến thắng 1-0 trước Reading ở vòng cuối cùng giúp câu lạc bộ trụ lại hạng đấu này.[37] Tuy nhiên, Pulis bị sa thải vào cuối mùa giải 2004-05, sau những bất đồng giữa ông và giới chủ câu lạc bộ.[38]
Huấn luyện viên người Hà Lan Johan Boskamp được công bố là người kế nhiệm Pulis vào ngày 29 tháng 6 năm 2005, chỉ một ngày sau khi Pulis bị sa thải.[39] Boskamp mang về một số cầu thủ mới từ châu Âu, nhưng đội bóng của ông thi đấu thiếu ổn định và chỉ có thể kết thúc ở giữa bảng xếp hạng.[40] Boskamp rời câu lạc bộ vào cuối mùa giải 2005-06 trong bối cảnh cựu chủ tịch Peter Coates thực hiện một nỗ lực tiếp quản câu lạc bộ.[41] Ngày 23 tháng 5 năm 2006, Coates hoàn tất việc tiếp quản Stoke City, đánh dấu sự kết thúc nhiệm kì chủ tịch của Gunnar Gíslason tại câu lạc bộ.[42] Coates chọn cựu huấn luyện viên Tony Pulis làm người kế nhiệm Boskamp vào tháng 6 năm 2006.[43] Pulis đưa Stoke tiến sát tới một vị trí play-off, nhưng cuối cùng câu lạc bộ khép lại mùa giải 2006-07 ở vị trí thứ tám.[44]
Mười năm ở Premier League (2008-2018)
Stoke giành quyền thăng hạng trực tiếp lên Premier League ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải 2007-08, khi kết thúc ở vị trí thứ hai tại Championship.[45] Thất bại 1-3 trước Bolton Wanderers ở vòng mở màn của mùa giải 2008-09 khiến nhiều cơ quan truyền thông cho rằng Stoke chắc chắn sẽ xuống hạng.[46] Stoke đã biến Britannia Stadium thành một "pháo đài", khiến các đội bóng khác rất khó giành điểm tại đây. Trong trận sân nhà đầu tiên, Stoke đánh bại Aston Villa 3-2,[47] và sau đó còn có thêm các chiến thắng trước Tottenham Hotspur,[48] Arsenal,[49] Sunderland[50] và West Bromwich Albion.[51] Sau chiến thắng 2-1 trên sân Hull City,[52] Stoke chắc suất ở lại Premier League khi The Potters kết thúc mùa giải trở lại hạng đấu cao nhất ở vị trí thứ 12 với tổng cộng 45 điểm.[53] Stoke khép lại mùa giải 2009-10 tiếp theo ở vị trí thứ 11 đầy tôn trọng với 47 điểm. Stoke cũng lọt vào tứ kết Cúp FA lần đầu tiên kể từ năm 1972, đánh bại York City, Arsenal và Manchester City trước khi để thua nhà vô địch chung cuộc Chelsea.
Stoke lần đầu tiên lọt vào chung kết Cúp FA vào năm 2011, sau khi vượt qua Cardiff City, Wolverhampton Wanderers, Brighton & Hove Albion, West Ham United và đặc biệt là chiến thắng 5-0 nổi tiếng trước Bolton, chiến thắng có cách biệt lớn nhất ở một trận bán kết Cúp FA sau Chiến tranh thế giới thứ hai.[54] Tuy nhiên, họ thua trận chung kết 0-1 trước Manchester City.[55] Nhờ vào chung kết, Stoke giành quyền tham dự UEFA Europa League 2011-12.[56] Ở Europa League, Stoke vượt qua Hajduk Split, Thun và một bảng đấu khó gồm Beşiktaş, Dynamo Kyiv và Maccabi Tel Aviv, nơi Stoke đi tiếp với vị trí thứ hai. Phần thưởng dành cho Stoke là cuộc đối đầu với ông lớn Tây Ban Nha Valencia; dù thể hiện tinh thần thi đấu mạnh mẽ ở trận lượt về, Stoke vẫn bị loại với tổng tỉ số 0-2. Tại Premier League, Stoke thực hiện thương vụ đáng chú ý với Peter Crouch và kết thúc mùa giải ở nhóm giữa bảng lần thứ tư liên tiếp. Mùa giải 2012-13 không chứng kiến nhiều bước tiến, và Pulis rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung vào ngày 21 tháng 5 năm 2013.[57]
Pulis được thay thế bởi người đồng hương xứ Wales Mark Hughes, người kí hợp đồng ba năm vào ngày 30 tháng 5 năm 2013.[58][59] Hughes đưa Stoke cán đích ở vị trí thứ chín tại mùa giải 2013-14, thành tích cao nhất của họ tại Premier League và là thứ hạng tốt nhất kể từ mùa giải 1974-75.[60] Mùa giải 2014-15 lại chứng kiến Stoke kết thúc ở vị trí thứ chín, lần này với 54 điểm.[61] Dù hai lần phá kỉ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ cho Xherdan Shaqiri rồi Giannelli Imbula, ở mùa giải 2015-16, Stoke vẫn không tạo ra bước tiến nào và khép lại mùa giải ở vị trí thứ chín mùa thứ ba liên tiếp.[62] Stoke sa sút ở mùa giải 2016-17, khi kết thúc ở vị trí thứ 13.[63] Tháng 1 năm 2018, Hughes bị sa thải sau một chuỗi kết quả tệ hại khiến câu lạc bộ rơi vào nhóm xuống hạng.[64] Ông được thay thế bởi Paul Lambert,[65] nhưng Lambert cũng không thể ngăn câu lạc bộ chấm dứt quãng thời gian 10 năm thi đấu tại Premier League.[66]
Trở lại Championship (2018-nay)
Sau khi xuống hạng xuống Championship, Lambert được thay thế bởi cựu huấn luyện viên Derby County Gary Rowett.[67] Mặc dù chi gần 50 triệu bảng Anh để chiêu mộ cầu thủ trong kì chuyển nhượng mùa hè, kết quả và màn trình diễn của đội đều nghèo nàn, và Rowett sau đó bị sa thải vào ngày 8 tháng 1 năm 2019 khi đội đang đứng thứ 14 trên bảng xếp hạng.[68] Ông được thay thế bởi huấn luyện viên của Luton Town là Nathan Jones.[69] Stoke khép lại mùa giải 2018-19 khá nhạt nhòa ở vị trí thứ 16, với số trận hòa kỉ lục là 22.[70] Sau khi chỉ giành được hai chiến thắng trong 14 trận mở màn của mùa giải tiếp theo, Jones bị sa thải vào ngày 1 tháng 11 năm 2019 khi đội đang nằm trong nhóm xuống hạng.[71] Huấn luyện viên trưởng đội tuyển Bắc Ireland Michael O'Neill được xác nhận là người thay thế ông một tuần sau đó.[72] Kết quả được cải thiện dưới thời O'Neill và đội bóng tránh được việc xuống hạng, kết thúc ở vị trí thứ 15.[73] Do đại dịch COVID-19, toàn bộ mùa giải 2020-21 diễn ra mà không có khán giả vào sân, và Stoke lại kết thúc ở nhóm giữa bảng.[74]
Mùa giải 2021-22 khởi đầu đầy hứa hẹn khi đội bóng cạnh tranh cho một vị trí play-off, nhưng một giai đoạn cuối mùa yếu kém khiến họ chỉ đứng thứ 14.[75][76] Khởi đầu chậm chạp ở mùa giải 2022-23 đánh dấu chấm hết cho quãng thời gian O'Neill cầm quân, và ông bị sa thải vào tháng 8 năm 2022, với huấn luyện viên của Sunderland là Alex Neil thay thế ông.[77][78] Neil không thể chấm dứt tình trạng lưng chừng bảng xếp hạng của Stoke và được thay thế bởi Plymouth Argyle's Steven Schumacher vào tháng 12 năm 2023, người cũng chỉ cầm quân chưa đầy một năm trước khi bị sa thải vào tháng 9 năm 2024.[79][80] Narcís Pèlach được công bố là huấn luyện viên mới của Stoke vào ngày 18 tháng 9 năm 2024,[81] nhưng bị sa thải vào tháng 12 năm 2024; Mark Robins được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào ngày 1 tháng 1 năm 2025.[82]
Sân vận động
Không rõ những sân chơi ban đầu của Stoke nằm ở đâu. Sân đầu tiên của họ chắc chắn nằm tại khu vực hiện nay là một nghĩa trang trên phố Lonsdale, mặc dù cũng có bằng chứng cho thấy họ từng thi đấu trên khu đất gần quán rượu Copeland Arms trên đường Campbell.[2] Năm 1875, họ chuyển tới Sweetings Field, sân thuộc sở hữu của thị trưởng Stoke, Alderman Sweeting.[2] Ước tính có khoảng 200-250 khán giả tới xem các trận sân nhà ở Sweetings Field và trả một xu để vào sân. Stoke gắn bó với Sweetings Field cho tới khi sáp nhập với Stoke Victoria Cricket Club vào tháng 3 năm 1878, thời điểm Stoke chuyển tới Victoria Ground.[2]
Trận đấu đầu tiên diễn ra tại Victoria Ground là trận chung kết đầu tiên của Staffordshire Cup gặp Talke Rangers vào ngày 28 tháng 3 năm 1878,[83] Stoke thắng 1-0 trước 2.500 khán giả[2] với bàn thắng được William Boddington ghi vào khoảng phút 80.[84] Ban đầu sân có hình bầu dục để phục vụ điền kinh, và hình dạng này được giữ nguyên trong 30 năm tiếp theo. Công cuộc cải tạo lớn bắt đầu từ thập niên 1920, và tới năm 1930 sân đã không còn giữ hình dáng ban đầu nữa.[2] Đến năm 1935, sức chứa của sân tăng lên 50.000. Kỉ lục khán giả 51.380 người chen kín sân vào ngày 29 tháng 3 năm 1937 để xem trận đấu tại giải vô địch quốc gia gặp Arsenal.[2]
Hệ thống đèn chiếu sáng được lắp đặt vào năm 1956 và một khán đài chính mới cũng được xây dựng. Trong cuối tuần ngày 3 và 4 tháng 1 năm 1976, gió bão mạnh đã thổi bay mái của khán đài Butler Street.[2] Stoke phải đá một trận sân nhà tại giải vô địch quốc gia gặp Middlesbrough ở Vale Park trong thời gian công việc sửa chữa diễn ra.[2] Khán đài Stoke End được nâng cấp vào năm 1979, và trong suốt thập niên 1980 còn có thêm nhiều cải tạo khác. Đến năm 1995, Stoke lập kế hoạch biến sân thành một sân vận động toàn ghế ngồi để đáp ứng Taylor Report. Tuy nhiên, câu lạc bộ quyết định rằng rời Victoria Ground và chuyển tới một địa điểm mới sẽ là lựa chọn tốt hơn.[2]
Năm 1997, Stoke rời Victoria Ground sau 119 năm và chuyển tới Sân vận động Britannia, sân vận động hiện đại toàn ghế ngồi với 28.384 chỗ, được xây dựng với chi phí 14,7 triệu bảng Anh. Stoke ban đầu gặp khó khăn trong việc thích nghi với môi trường mới và bị xuống hạng xuống cấp độ thứ ba ngay trong mùa giải đầu tiên ở sân mới. Năm 2002, kỉ lục 28.218 khán giả đã tới xem trận Cúp FA gặp Everton. Khi Stoke giành quyền thăng hạng lên Premier League vào năm 2008, lượng khán giả tăng lên. Tuy nhiên, sức chứa bị giảm xuống còn 27.500 do yêu cầu phân khu cổ động viên.[85] Tên sân được đổi thành bet365 Stadium vào tháng 6 năm 2016.[86] Công việc mở rộng sân lên hơn 30.000 chỗ bắt đầu vào tháng 2 năm 2017 và hoàn tất vào mùa hè năm 2017.[87]
Cổ động viên
Trong khi phần lớn sự ủng hộ mà câu lạc bộ nhận được đến từ khu vực Stoke-on-Trent địa phương, vẫn có một số hội cổ động viên của những người sống xa quê, đặc biệt ở London, và trải dài từ Scandinavia đến những quốc gia xa hơn như Nga, Canada, Hoa Kỳ và Úc.[88] Những khán đài chật kín thường xuyên xuất hiện để cổ vũ họ trong thời gian thi đấu tại Premier League.[89]
Stoke từng gặp vấn đề với Hooligan trong bóng đá từ thập niên 1970 đến đầu những năm 2000, do hành động của nhóm "Naughty Forty" tự gắn mình với câu lạc bộ và được thành lập bởi cổ động viên Mark Chester.[90][91][92] Sau đó Chester đã thay đổi bản thân và hiện làm công việc thúc đẩy hòa nhập cho thanh thiếu niên.[93] Năm 2003, BBC mô tả Stoke City là có "một trong những nhóm hooligan bóng đá năng động và có tổ chức nhất nước Anh". Đáp lại các chỉ trích này, câu lạc bộ đã áp dụng hệ thống thẻ nhận diện di chuyển sân khách.[94] Hệ thống này sau đó bị hủy bỏ vào năm 2008 nhờ hành vi được cải thiện và danh tiếng tốt hơn.[95] Gần đây hơn, người hâm mộ và sân vận động của Stoke City được nhìn nhận là ồn ào, thân thiện, cuồng nhiệt và hiện đại,[96] từng đón tiếp những vị khách như Sugar Ray Leonard[97] và Diego Maradona.[98] Trên truyền thông hiện nay còn có "sự ngưỡng mộ thực sự đối với âm lượng và sức nóng từ sự ủng hộ trung thành của câu lạc bộ".[96] Stoke thông báo rằng họ sẽ cung cấp dịch vụ xe buýt miễn phí cho người hâm mộ tới mọi trận sân khách tại Premier League trong các mùa giải 2013-14 và 2014-15.[99]
Vào tháng 11 năm 2008, một nhóm cổ động viên Stoke bị Cảnh sát Đại Manchester buộc phải rời khỏi Manchester trước một trận đấu tại giải vô địch quốc gia gặp Manchester United.[100] Tổ chức nhân quyền Liberty đã đứng ra tiếp nhận vụ việc của họ,[101] và cảnh sát Greater Manchester cuối cùng đã xin lỗi về hành động của mình, còn các cổ động viên nhận được tiền bồi thường.[102][103]
Người hâm mộ của câu lạc bộ đã chọn "Delilah" làm bài hát truyền thống của mình từ thập niên 1970, sau khi một cổ động viên được nghe hát ca khúc này trong một quán rượu địa phương. Một phần lời bài hát đã được chỉnh sửa để phù hợp với khán đài, nhưng phần lớn vẫn được giữ nguyên.[104] Bài hát chính thức của câu lạc bộ Stoke là "We'll be with you", được các cầu thủ Stoke thu âm trước Chung kết Football League Cup 1972.[2]
Trong giai đoạn 2008-2011, người hâm mộ địa phương "Pottermouth" đã đóng góp một loạt bản rap cho BBC Radio Stoke về việc Stoke thăng hạng, cuộc chiến trụ lại Premier League và hành trình tới Chung kết Cúp FA 2011.[105]
Kình địch
Đối thủ địa phương của Stoke là Port Vale, đội bóng có trụ sở tại khu vực Burslem của Stoke-on-Trent. Do hai câu lạc bộ thường xuyên thi đấu ở các hạng đấu khác nhau, mới chỉ có 46 trận tại giải vô địch quốc gia giữa hai bên, trong đó trận gần nhất diễn ra vào năm 2002.[106] Bất chấp việc hiếm khi đối đầu, derby Potteries thường là những trận đấu căng thẳng và sít sao, với rất ít bàn thắng được ghi. Stoke thắng 19 trận, trong khi Vale thắng 15 trận.[107]
Do trận đấu này hiếm khi diễn ra, Stoke có những mối kình địch được xác lập rõ ràng hơn với các đội bóng vùng Midlands như Derby County, West Bromwich Albion và Wolverhampton Wanderers.[2][108][109] Một mối kình địch với đội bóng xứ Wales Cardiff City hình thành ở mùa giải 2001-02, khi hai đội gặp nhau tại vòng play-off Second Division.[110][111]
Trang phục và huy hiệu
Trang phục
Trang phục truyền thống của Stoke là áo sọc đỏ-trắng cùng quần trắng và tất trắng.[2] Bộ trang phục đầu tiên của họ là áo kẻ ngang xanh hải quân và đỏ thẫm cùng quần bó trắng và tất kẻ sọc.[2] Sau đó, bộ trang phục này đổi sang kẻ ngang đen-xanh trước khi câu lạc bộ ổn định với áo sọc đỏ-trắng vào năm 1883.[2] Tuy nhiên, vào năm 1891, Football League quyết định rằng trong mỗi mùa giải chỉ một câu lạc bộ được sử dụng một kiểu trang phục, và Sunderland được phép dùng áo sọc đỏ-trắng. Vì vậy, từ năm 1891 đến năm 1908, Stoke sử dụng nhiều bộ trang phục khác nhau, trong đó màu đỏ nâu trơn là kiểu phổ biến nhất.[2] Năm 1908, Stoke mất tư cách thành viên tại Football League và cuối cùng có thể trở lại với màu đỏ-trắng; khi tái gia nhập giải đấu vào năm 1919, quy định này cũng bị bãi bỏ.[2] Kể từ đó, Stoke luôn sử dụng áo sọc đỏ-trắng, ngoại trừ hai mùa giải vào giữa thập niên 1980 khi họ mặc áo sọc kim.
Huy hiệu
Huy hiệu đầu tiên của Stoke là một chữ "S" cách điệu, được các cầu thủ sử dụng vào năm 1882 bằng cách tự khâu lên áo đấu; tuy nhiên, cách làm này nhanh chóng mai một.[2] Từ thập niên 1950, Stoke bắt đầu sử dụng tấm khiên trong huy hiệu thành phố Stoke-on-Trent, dù nó chỉ được dùng không thường xuyên cho đến năm 1977.[2] Một huy hiệu mới đơn giản hơn sau đó được giới thiệu, trong đó có nút thắt Stafford và lò nung gốm tượng trưng cho truyền thống địa phương, đồng thời có thêm các sọc đỏ-trắng.[2] Huy hiệu này tồn tại đến năm 1992, khi câu lạc bộ quyết định sử dụng toàn bộ huy hiệu thành phố Stoke-on-Trent, trong đó tên câu lạc bộ được đặt ở phần trên cùng của huy hiệu.[2] Họ đổi sang huy hiệu hiện tại vào năm 2001, phiên bản có thêm biệt danh "The Potters". Ở mùa giải 2012-13, họ sử dụng một phiên bản đặc biệt để đánh dấu 150 năm thành lập câu lạc bộ, trong đó có khẩu hiệu tiếng Latinh "Vis Unita Fortior" ("Sức mạnh đoàn kết thì mạnh hơn"). Vào tháng 8 năm 2025, Stoke công bố một huy hiệu mới sẽ được sử dụng từ mùa giải 2026-27, dựa trên thiết kế được dùng trong giai đoạn 1977-1992, với hình lò nung chai, nút thắt Staffordshire, năm thành lập và các sọc đỏ-trắng.[112]
Nhà tài trợ
|
|
|
Các kỉ lục
Số lần ra sân nhiều nhất:
- Eric Skeels – 592 lần ra sân (giải vô địch quốc gia và cúp)
- John McCue – 675 lần ra sân (bao gồm cả các trận trong thời chiến)
Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất:
- John Ritchie – 176 bàn (giải vô địch quốc gia và cúp)
- Freddie Steele – 140 bàn (chỉ tính tại giải vô địch quốc gia)
Bản hợp đồng đắt giá nhất:
- Giannelli Imbula được chiêu mộ từ Porto: 18,3 triệu bảng Anh (1 tháng 2 năm 2016)[113]
Thương vụ bán cầu thủ đắt giá nhất:
- Marko Arnautović được bán cho West Ham United: 20 triệu bảng Anh (22 tháng 7 năm 2017)[114]
Các kết quả kỉ lục:
- Chiến thắng đậm nhất: 26-0 trước Mow Cop (1877)
- Chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch quốc gia: 10-3 trước West Bromwich Albion (4 tháng 2 năm 1937)
- Thất bại đậm nhất tại giải vô địch quốc gia: 0-10 trước Preston North End (14 tháng 9 năm 1889)
- Chiến thắng đậm nhất tại Premier League: 6-1 trước Liverpool (24 tháng 5 năm 2015)[115]
- Thất bại đậm nhất tại Premier League: 0-7 trước Chelsea (25 tháng 4 năm 2010)[116]
- Chiến thắng đậm nhất tại Cúp FA: 11-0 trước Stourbridge (26 tháng 9 năm 1914)
- Thất bại đậm nhất tại Cúp FA: 0-8 trước Wolverhampton Wanderers (22 tháng 2 năm 1890)
- Chiến thắng đậm nhất tại Cúp Liên đoàn: 6-1 trước Rotherham United (29 tháng 8 năm 2023)[117]
- Thất bại đậm nhất tại Cúp Liên đoàn: 0-8 trước Liverpool (29 tháng 11 năm 2000)
Kỉ lục khán giả:
- 51.130 người tại Victoria Ground trong trận gặp Arsenal (29 tháng 3 năm 1937)
- 30.022 người tại Sân vận động bet365 trong trận gặp Everton (17 tháng 3 năm 2018)[118]
Thành tích tại châu Âu
| Mùa giải | Giải đấu | Vòng | Đối thủ | Sân nhà | Sân khách | Tổng tỉ số |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1972-73 | Cúp UEFA | Vòng Một | 3-1 | 0-4 | 3-5 | |
| 1974-75 | Vòng Một | 1-1 | 0-0 | 1-1 (A) | ||
| 2011-12 | UEFA Europa League | Vòng loại thứ Ba | 1-0 | 1-0 | 2-0 | |
| Vòng play-off | 4-1 | 1-0 | 5-1 | |||
| Bảng E | 2-1 | 1-3 | thứ 2 | |||
| 1-1 | 1-1 | |||||
| 3-0 | 2-1 | |||||
| Vòng 32 đội | 0-1 | 0-1 | 0-2 |
Cầu thủ
Đội hình đội một
- Tính đến 2 tháng 4 năm 2026[119]
Trang Bản mẫu:Football squad player/styles.css không có nội dung. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
Cho mượn
Trang Bản mẫu:Football squad player/styles.css không có nội dung. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội U-21 và Học viện
Cầu thủ cũ
Để biết thêm chi tiết về các cựu cầu thủ, xem Danh sách cầu thủ bóng đá Stoke City F.C., Danh sách cầu thủ bóng đá Stoke City F.C. (25-99 lần ra sân), Danh sách cầu thủ bóng đá Stoke City F.C. (1-24 lần ra sân) và Thể loại:Cầu thủ bóng đá Stoke City F.C..
Kỉ lục cầu thủ
Để xem các kỉ lục cầu thủ, bao gồm cả các giải thưởng cá nhân, xem Danh sách kỉ lục và thống kê Stoke City F.C..
Stoke City Women
Cầu thủ xuất sắc nhất năm
Ban quản lí câu lạc bộ
- Tính đến 1 tháng 4 năm 2026[120]
| Chức vụ | Tên |
|---|---|
| Hội đồng quản trị và giám đốc | |
| Chủ tịch | John Coates |
| Phó chủ tịch | Richard Smith |
| Giám đốc | Peter Coates |
| Ban điều hành câu lạc bộ | |
| Giám đốc điều hành | Richard Smith |
| Giám đốc vận hành | Simon King |
| Giám đốc thể thao | Jonathan Walters |
| Trưởng bộ phận tuyển trạch | Ian Torrance[121] |
| Trưởng bộ phận vận hành an toàn | Clare Buckley |
| Trưởng bộ phận trải nghiệm người hâm mộ | Anthony Emmerson |
| Trưởng bộ phận đối tác | Steven Forrest |
| Trưởng bộ phận tài chính | David Heath |
| Trưởng bộ phận tiếp thị và truyền thông | Thomas Holdcroft |
| Trưởng bộ phận quản trị bóng đá | Chris Laird |
| Trưởng bộ phận bán lẻ và vé | Nathan Le-Moine |
| Giám đốc gắn kết cộng đồng | Laura Nicholls |
| Trưởng bộ phận bảo vệ và EDI | Paul Richards |
| Trưởng bộ phận cơ sở vật chất | Nick Robinson |
| Trưởng bộ phận địa điểm tổ chức | Craig Simmonds |
| Quản lí mặt sân | Andy Jackson |
| Ban huấn luyện đội một | |
| Huấn luyện viên | Mark Robins |
| Trợ lí huấn luyện viên | James Rowberry |
| Huấn luyện viên đội một | Ryan Shawcross |
| Huấn luyện viên thủ môn | Darren Behcet |
| Trưởng bộ phận y tế và thể lực | Damian Roden |
| Trưởng bộ phận thể lực | Joel Dawson |
| Trưởng bộ phận dịch vụ y tế | Matt Lancett |
| Quản lí trang phục | Max Shapland |
| Ban quản lí học viện | |
| Giám đốc học viện | Sam Stockley |
| Trưởng bộ phận tuyển trạch học viện | Andrew Frost |
| Trưởng bộ phận giáo dục học viện | Greg Briggs |
| Trưởng bộ phận y tế học viện | Jordan Beech |
| Trưởng bộ phận khoa học thể thao học viện | Ben Cope |
| Phụ trách bảo vệ học viện | Wayne Taylor |
| Huấn luyện viên trưởng đội dưới 21 tuổi (tạm quyền) | Liam Lawrence |
| Trợ lí huấn luyện viên trưởng đội dưới 21 tuổi | Đang để trống |
| Huấn luyện viên trưởng đội dưới 18 tuổi | Dean Marney |
| Ban quản lí đội nữ | |
| Giám đốc thành tích | Stephanie Wakelin |
| Huấn luyện viên trưởng | Sarah Richardson |
Lịch sử huấn luyện viên
| Thời gian | Tên | Ghi chú |
|---|---|---|
| tháng 8 năm 1874 – tháng 6 năm 1883 | ||
| tháng 6 năm 1883 – tháng 4 năm 1884 | ||
| tháng 4 năm 1884 – tháng 8 năm 1890 | ||
| tháng 8 năm 1890 – tháng 1 năm 1892 | ||
| tháng 1 năm 1892 – tháng 5 năm 1895 | ||
| tháng 5 năm 1895 – tháng 9 năm 1897 | ||
| tháng 9 năm 1897 – tháng 3 năm 1908 | ||
| tháng 5 năm 1908 – tháng 6 năm 1914 | ||
| tháng 6 năm 1914 – tháng 4 năm 1915 | Huấn luyện viên đầu tiên không đến từ Anh | |
| tháng 4 năm 1915 – tháng 2 năm 1919 | ||
| tháng 2 năm 1919 – tháng 3 năm 1923 | ||
| tháng 3 năm 1923 – tháng 4 năm 1923 | ||
| tháng 10 năm 1923 – tháng 6 năm 1935 | ||
| tháng 6 năm 1935 – tháng 5 năm 1952 | ||
| tháng 6 năm 1952 – tháng 6 năm 1960 | ||
| tháng 6 năm 1960 – tháng 3 năm 1977 | Giành nhiều danh hiệu nhất trên cương vị huấn luyện viên | |
| tháng 2 năm 1977 – tháng 1 năm 1978 | ||
| tháng 1 năm 1978 – tháng 2 năm 1978 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 2 năm 1978 – tháng 6 năm 1981 | ||
| tháng 6 năm 1981 – tháng 12 năm 1983 | ||
| tháng 12 năm 1983 – tháng 4 năm 1985 | ||
| tháng 4 năm 1985 – tháng 5 năm 1985 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 5 năm 1985 – tháng 11 năm 1989 | ||
| tháng 11 năm 1989 – tháng 2 năm 1991 | ||
| tháng 2 năm 1991 – tháng 5 năm 1991 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 5 năm 1991 – tháng 10 năm 1993 | ||
| tháng 11 năm 1993 – tháng 9 năm 1994 | ||
| tháng 9 năm 1994 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 10 năm 1994 – tháng 7 năm 1997 | ||
| tháng 7 năm 1997 – tháng 1 năm 1998 | ||
| tháng 1 năm 1998 – tháng 4 năm 1998 | ||
| tháng 4 năm 1998 – tháng 6 năm 1998 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 6 năm 1998 – tháng 6 năm 1999 | ||
| tháng 7 năm 1999 – tháng 11 năm 1999 | ||
| tháng 11 năm 1999 – tháng 5 năm 2002 | Huấn luyện viên đầu tiên đến từ ngoài Vương quốc Liên hiệp Anh | |
| tháng 5 năm 2002 – tháng 10 năm 2002 | ||
| tháng 10 năm 2002 – tháng 11 năm 2002 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 11 năm 2002 – tháng 6 năm 2005 | ||
| tháng 6 năm 2005 – tháng 5 năm 2006 | ||
| tháng 6 năm 2006 – tháng 5 năm 2013 | Huấn luyện viên đầu tiên đưa Stoke vào chung kết Cúp FA | |
| tháng 5 năm 2013 – tháng 1 năm 2018 | ||
| tháng 1 năm 2018 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 1 năm 2018 – tháng 5 năm 2018 | ||
| tháng 5 năm 2018 – tháng 1 năm 2019 | ||
| tháng 1 năm 2019 – tháng 11 năm 2019 | ||
| tháng 11 năm 2019 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 11 năm 2019 – tháng 8 năm 2022 | ||
| tháng 8 năm 2022 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 8 năm 2022 – tháng 12 năm 2023 | ||
| tháng 12 năm 2023 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 12 năm 2023 – tháng 9 năm 2024 | ||
| tháng 9 năm 2024 | Các huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 9 năm 2024 – tháng 12 năm 2024 | ||
| tháng 12 năm 2024 – tháng 1 năm 2025 | Huấn luyện viên tạm quyền | |
| tháng 1 năm 2025 – |
Danh hiệu
Các danh hiệu của Stoke City gồm có như sau:[122]
Giải đấu
- Second Division / Championship (cấp độ 2)
- Third Division North / Second Division (cấp độ 3)
- Football Alliance
- Vô địch: 1890-91
- Birmingham & District League
- Vô địch: 1910-11
- Southern League Division Two
Cúp
- Cúp FA
- Á quân: 2010-11
- Cúp Liên đoàn
- Football League Trophy
- Watney Cup
- Vô địch: 1973
Danh hiệu nhỏ
- Staffordshire Senior Cup
- Vô địch (19): 1877-78, 1878-79, 1903-04, 1913-14, 1920-21, 1929-30, 1933-34, 1938-39, 1947-48, 1964-65, 1968-69, 1970-71, 1974-75, 1975-76, 1981-82, 1992-93, 1994-95, 1998-99, 2016-17
- Á quân: 1882-83, 1885-86, 1890-91, 1895-96, 1896-97, 1900-01, 1901-02, 1902-03, 1923-24, 1925-26, 1934-35, 1951-52, 1971-72, 1973-74, 1980-81, 2002-03, 2005-06, 2010-11
- Birmingham Senior Cup
- Vô địch: 1901, 1914
- Á quân: 1910, 1915, 1920, 1921
- Isle of Man Trophy
Tham khảo
Ghi chú
Chú thích
- ^ a ă â b "1863-1888 In the Beginning". Stoke City. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2019.
The story goes that in 1863, former pupils of the Charterhouse School formed a Football Club whilst working as apprentices at the North Staffordshire Railway in Stoke. Little evidence still exists of any official matches taking place, even though at that time some form of soccer may have already existed in the area as the headmaster of Stoke St Peter's School, J. Thomas, was an active sportsman and secretary of the local Victoria Athletic Club. Five years following the Club's official formation, a report in The Field magazine of September 1868, it was stated a new Association Football Club had been registered in Stoke-on-Trent ...and its founder member was ex-Charterhouse School pupil Henry Almond. Evidence proves that Almond had played for the Club during the five years prior to 1868. In terms of official records, though, the first game played by Almond's team, known as Stoke Ramblers and consisting largely of railway employees, was in October 1868. The historic match, against an EW May XV, ended in a 1-1 draw and was played at the Victoria Cricket Club ground, near to Lonsdale Street and Church Street. Almond, the skipper, scored the first-ever goal by a Stoke player, although he was soon to leave the Club and the area to pursue his career as a civil engineer.
- ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư Matthews, Tony (1994). The Encyclopaedia of Stoke City Football Club 1868-1994. Lion Press. ISBN 0-9524151-0-0.
- ^ Brown, Paul (ngày 29 tháng 5 năm 2013). The Victorian Football Miscellany. Superelastic. ISBN 9780956227058.
- ^ Goldblatt, David (2002). World Soccer Yearbook: The Complete Guide to the Game. Dorling Kindersley.
- ^ Cooke, Martyn. "Myths and truths in the history of sport: exploring the origins of Stoke City Football Club". Playing Pasts. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Football Match". Birmingham Daily Post. ngày 11 tháng 12 năm 1868.
- ^ "Stoke Football Club". Staffordshire Sentinel and Commercial & General Advertiser. ngày 15 tháng 10 năm 1870. tr. 5. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2022.
- ^ "1888-1900 Election Fever". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ Coleman, Michael (2001). Legendary Leagues. London: Scholastic Children's Books. tr. 29.
- ^ "1910-1920 Rebirth". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ "1920-1930 The Fall And Rise". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ a ă â The Oatcake (ngày 19 tháng 7 năm 2000). "SCFC History". oatcake.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2009.
- ^ "The first gentleman of soccer". BBC News. British Broadcasting Corporation. ngày 23 tháng 2 năm 2000. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2007.
- ^ a ă â "1930-1940 Stan's The Man". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ a ă "1940-1950 So Near, So Far". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ "1950-1960 A Foreign Affair". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ "Bob McGrory's managerial career". Soccerbase. Centurycomm Limited. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Tony Waddington's managerial career". Soccerbase. Centurycomm Limited. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2007.
- ^ a ă â b c "1960-1970 Waddo You Believe It (Part One)". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ "Stoke F.C. Centenary 1863-1963". The Staffordshire Weekly Sentinel. Stoke-upon-Trent. ngày 26 tháng 4 năm 1963. tr. 13–18. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2024 – qua British Newspaper Archive.
- ^ "Gordon Banks". International Footballer Hall of Fame. IFOF West LLC. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Gordon Banks (England)". Planet World Cup. Jan Alsos. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ Holroyd, Steve; Litterer, Dave. "The Year in American Soccer – 1967". USA Soccer History Archives. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2007.
- ^ "The English League Cup". Napit.co.uk. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2007.
- ^ a ă â b c "1970-1980 Waddo You Believe It (Part Two)". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ a ă "The History of Stoke City Football Club". Red Stripe. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2007.
- ^ a ă â b "1980-1990 Five Managers, Five Chairmen". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ a ă â b "1990-2000 Two Relegations, A Promotion & A Takeover". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2013.
- ^ "Mike Sheron". ex-canaries.co.uk. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Britannia Stadium". The Stadium Guide. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Little resigns from Villa". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 24 tháng 2 năm 1998. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Brian Little's managerial career". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Wembley glory for Stoke City". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 29 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
- ^ a ă â b "2000-2009 The Decade of Success". Stoke City Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ "Stoke sack Thordarson". BBC Sport. ngày 16 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2017.
- ^ "Pulis gets Stoke job". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 1 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Akinbiyi keeps Stoke up". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 4 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2007.
- ^ "Manager Pulis is sacked by Stoke". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 28 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Boskamp named as new Stoke boss". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 29 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2007.
- ^ "English League Championship Table – 2005/06". ESPN. Disney Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Boskamp confirms exit from Stoke". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 30 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Coates takes over as Stoke owner". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 23 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Pulis confirmed as Stoke manager". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 14 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
- ^ "English League Championship 2006-2007". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Stoke 0-0 Leicester". BBC Sport. ngày 4 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2017.
- ^ Phillips, Owen (ngày 16 tháng 8 năm 2008). "Bolton 3-1 Stoke". BBC Sport. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2008.
- ^ May, John (ngày 23 tháng 8 năm 2008). "Stoke 3-2 Aston Villa". BBC Sport. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2008.
- ^ Hughes, Ian (ngày 19 tháng 10 năm 2008). "Stoke 2-1 Tottenham". BBC Sport. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2008.
- ^ Hughes, Ian (ngày 1 tháng 11 năm 2008). "Stoke 2-1 Arsenal". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009.
- ^ Lewis, Aimee (ngày 31 tháng 10 năm 2008). "Stoke 1-0 Sunderland". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009.
- ^ Phillips, Owen (ngày 22 tháng 11 năm 2008). "Stoke 1-0 West Brom". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009.
- ^ "Hull City 1-2 Stoke". BBC Sport. ngày 9 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009.
- ^ "Stoke 2-0 Wigan". BBC Sport. ngày 16 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009.
- ^ "The long wait is finally over for Potters". thisisstaffordshire.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011.
- ^ "Man City 1 – 0 Stoke". BBC Sport. ngày 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2011.
- ^ "City Boosted By Europa League Spot". stokecityfc.com. Stoke City FC. ngày 11 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011.
- ^ "Tony Pulis leaves Stoke City after seven years in charge". BBC Sport. ngày 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2013.
- ^ "Mark Hughes: Stoke City appoint former QPR manager". BBC Sport. ngày 30 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013.
- ^ "Three-year deal for Mark Hughes as new Stoke City era begins". The Sentinel. ngày 30 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013.
- ^ "West Brom 1-2 Stoke". BBC Sport. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2014.
- ^ "Stoke 6-1 Liverpool". BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Stoke 2-1 West Ham". BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.
- ^ "Southampton 0-1 Stoke". BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
- ^ "Mark Hughes: Stoke City sack manager after poor run". BBC Sport. ngày 6 tháng 1 năm 2018.
- ^ "Paul Lambert appointed Stoke manager". BBC Sport. ngày 16 tháng 1 năm 2018.
- ^ Henson, Mike (ngày 5 tháng 5 năm 2018). "Stoke City 1-2 Crystal Palace". BBC Sport. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2018.
- ^ "Gary Rowett: Stoke City name Derby County boss as their new manager". ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018.
- ^ "Gary Rowett: Stoke City manager sacked after less than eight months". ngày 8 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- ^ Nicholson, Fraser (ngày 9 tháng 1 năm 2019). "Jones named new manager". Stoke City F.C. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019.
- ^ "Revealed: Stoke City have drawn more games than anyone else in world football". Stoke Sentinel. ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
- ^ "Nathan Jones: Stoke City sack manager with Potters second bottom of the Championship". BBC Sport. tháng 11 năm 2019.
- ^ "Michael O'Neill: Stoke City appoint Northern Ireland boss as new manager". BBC Sport. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2019.
- ^ "Nottingham Forest 1-4 Stoke City". BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2020.
- ^ "AFC Bournemouth 0-2 Stoke City". BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2022.
- ^ "Michael O'Neill: Stoke City boss says it's a testing time for under-pressure Potters". BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Stoke City 1-1 Coventry City". BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Michael O'Neill: Stoke City sack manager after poor start to the season". BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
- ^ "Alex Neil: Sunderland boss leaves to become Stoke City's new manager". BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
- ^ "Steven Schumacher: Stoke City name Plymouth Argyle boss as head coach". BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- ^ "Schumacher departs Potters". Stoke City. ngày 16 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Stoke appoint Norwich's Pelach as new Potters boss". BBC Sport. ngày 18 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Stoke appoint ex-Coventry boss Robins as manager". BBC Sport. ngày 1 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.
- ^ "The Challenge Cup of North Staffordshire". The Staffordshire Daily Sentinel. Số 1.513. Stoke-upon-Trent. ngày 25 tháng 3 năm 1878. tr. 4. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2024 – qua British Newspaper Archive.
- ^ Smith, Peter (ngày 10 tháng 4 năm 2019). "Stoke City's origin story as historian claims Nottingham Forest are older". The Sentinel. Stoke-upon-Trent. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2024.
- ^ "The Britannia Stadium". merseysidepotters.com. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Home of Stoke City Now Known As bet365 Stadium". Stoke City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.
- ^ "Redevelopment to boost access at Stoke City". Premier League. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2017.
- ^ "Stoke City Supporters Clubs". Stoke City F.C. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2012.
- ^ "Record Breaking Attendances". stokecityfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011.
- ^ "Running with the 'Naughty Forty'". BBC News. ngày 2 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2010.
- ^ "Hooligan Troublespots". BBC News. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
- ^ "More 'thugs' banned from Cardiff City". BBC. BBC. ngày 11 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009.
- ^ "Reformed Naughty Forty hooligan tells his tale". BBC News. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2012.
- ^ "ID scheme 'big success'". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 22 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2008.
- ^ "Stoke axe ID cards for away fans". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 24 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2008.
- ^ a ă "Fanatical supporters backing City to hilt". thisisstaffordshire.co.uk. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Sugar Ray's Surprise Visit". stokecityfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011.
- ^ McNulty, Phil (ngày 10 tháng 1 năm 2009). "Stoke 0-0 Liverpool". BBC Sport. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011.
- ^ "Stoke City fans offered free travel for away games". BBC Sport. ngày 19 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2013.
- ^ Porter, Henry (ngày 24 tháng 11 năm 2008). "The phantom fan menace". The Guardian. London. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2010.
- ^ "Liberty fight for football fans' rights". politics.co.uk. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Police apologise to Stoke City fans". Sentinel. Sentinel. ngày 14 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009.
- ^ "Stoke City fans receive £185.000 after police bar them from Man Utd game". thisisstaffordshire.co.uk. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Stoke City fans back Tom Jones's Delilah to top charts". BBC. ngày 5 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011.
- ^ "Pottermouth – the story". BBC Radio Stoke. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2021.
- ^ "Stoke City v Port Vale". footballderbies.com. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Potteries Derby Records". stokecityfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Stoke City: When will the ugly truth finally dawn on Baggies?". thisisstaffordshire.co.uk. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
- ^ Heaven, Frank. "Unexpected Rivalries 4: Stoke City and West Bromwich Albion". The Two Unfortunates. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2020.
- ^ Doolan, Rob. "Unexpected Rivalries 7: Stoke City And Cardiff City". The Two Unfortunates. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2020.
- ^ "Rivalries set to resume in Cardiff". ESPN. ngày 17 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2020.
- ^ "New Stoke City Club Crest Confirmed". Stoke City. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2025.
- ^ "Transfer deadline day: Stoke City sign Giannelli Imbula from Porto". tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2016.
- ^ "Marko Arnautovic: West Ham sign Stoke City and Austria forward for £20m". ngày 22 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
- ^ "Stoke 6 – 1 Liverpool". BBC Sport. ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015.
- ^ "Chelsea 7 – 0 Stoke". BBC Sport. ngày 25 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011.
- ^ "Stoke City 6-1 Rotherham United". BBC Sport. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2023.
- ^ "Stoke 1-2 Everton". BBC Sport.
- ^ "Teams: First-team". Stoke City F.C. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Club Directory". Stoke City.
- ^ "Potters appoint Torrance as Head of Recruitment". Stoke City. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Club Honours". Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2022.
Liên kết ngoài
- Website chính thức
- Bản mẫu:BBC football info
- Stoke City trên Sky Sports
- Stoke City trên Premier League
Bản mẫu:Stoke City F.C. Bản mẫu:Mùa giải Stoke City F.C. Bản mẫu:EFL Championship
- Trang có lỗi bảng kiểu bản mẫu
- CS1: URL không phù hợp
- Bài có mô tả ngắn
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Bài viết có văn bản tiếng Anh
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Website chính thức không có trên Wikidata
- Stoke City F.C.
- Khởi đầu năm 1868 ở Anh
- Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1863
- Thể thao Stoke-on-Trent
- Câu lạc bộ bóng đá Staffordshire
- Câu lạc bộ bóng đá Anh
- Câu lạc bộ English Football League
- Câu lạc bộ Southern Football League
- Câu lạc bộ Premier League
- Vô địch Cúp EFL
- Vô địch EFL Trophy
- Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh