Sẻ ngô xanh
Sẻ ngô xanh, sẻ ngô xanh Á Âu hay bạc má xanh (tên khoa học: Cyanistes caeruleus)[2] là một loài chim nhỏ trong họ Bạc má.[3] Loài có bộ lông xanh và vàng dễ nhận diện và phổ biến khắp Trung Âu.[4] Chúng thường không phải là một loài di cư[5] và ưa sinh sống ở các khu rừng hỗn hợp và rừng rụng lá, đặc biệt là những nơi có nhiều cây sồi, song vẫn hay được tìm thấy ở công viên hoặc trong các khu vườn.[6] Tầm sinh sống của sẻ ngô xanh trải rộng toàn châu Âu đến Tây Á và từng cùng sinh sống với loài sẻ ngô xanh châu Phi tại Bắc Phi và quần đảo Canary.[4]
| Sẻ ngô xanh | |
|---|---|
| Tập tin:Eurasian blue tit Lancashire.jpg | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Chordata |
| Lớp: | Aves |
| Bộ: | Passeriformes |
| Họ: | Paridae |
| Chi: | Cyanistes |
| Loài: | C. caeruleus
|
| Danh pháp hai phần | |
| Cyanistes caeruleus (Linnaeus, 1758) | |
| Tập tin:CyanistesCaeruleusDistribution.png | |
| Phạm vi sinh sống của sẻ ngô xanh Phạm vi sinh sống của sẻ ngô xanh châu Phi | |
| Các đồng nghĩa | |
Phân loại
Sẻ ngô xanh lần đầu tiên được Carl Linnaeus mô tả năm 1758 trong ấn bản lần thứ 10 của cuốn sách Systema Naturae với danh pháp hai phần Parus caeruleus.[7] Danh pháp này có nguồn gốc từ tiếng Latin cổ điển với Parus (bạc má) và caeruleus (màu xanh đậm hoặc xanh caerulean).[8] Tên gọi Parus caeruleus cũng được sử dụng để mô tả một loài bạc má xanh vào năm 1555 bởi nhà sử học tự nhiên người Thụy Sĩ Conrad Gessner trong cuốn Historiae animalium, trước cả khi danh pháp hai phần trở nên phổ biến trong giới khoa học. Nơi phát hiện lần đầu tiên của loài là Thụy Điển.
Sẻ ngô xanh trước đây thuộc chi Parus và thuộc phân chi Cyanistes. Vào năm 2005, do một phân tích DNA ty thể chuỗi cytochrome b của họ Bạc má cho thấy Cyanistes đã phân nhánh khỏi tổ tiên sớm hơn các loài bạc má khác, Cyanistes đã được tách khỏi chi Parus và hình thành một chi riêng biệt. Trước đây, sẻ ngô xanh châu Phi cũng bị ghép chung với sẻ ngô xanh Á Âu.
Phân loài
Có tổng cộng 9 phân loài được phát hiện và thống kê.[9] Điểm khác biệt giữa những phân loài này chủ yếu nằm ở màu của bộ lông nhưng không quá đáng kể.
9 phân loài có các tên như sau:
- C. c. obscurus – (Pražák, 1894): tìm thấy ở Ireland, Anh và quần đảo Channel
- C. c. caeruleus – (Linnaeus, 1758): được chọn làm loài điển hình, phân bố ở lục địa châu Âu đến phía bắc Tây Ban Nha, Sicily, phía bắc Thổ Nhĩ Kỳ và phía bắc dãy Ural
- C. c. balearicus – (von Jordans, 1913): loài bản địa của đảo Majorca (quần đảo Baleares)
- C. c. ogliastrae – (Hartert, 1905): được phát hiện ở Bồ Đào Nha, phía nam Tây Ban Nha, Corsica và Sardinia
- C. c. calamensis – (Parrot, 1908): được phát hiện ở phía Nam Hy Lạp, Pelopónnisos, Cyclades, Crete và Rhodes
- C. c. orientalis – Zarudny & Loudon, 1905: tìm thấy ở phía nam phần lãnh thổ châu Âu của Nga (từ sông Volga tới trung tâm và phía nam dãy Ural)
- C. c. satunini – Zarudny, 1908: tìm thấy ở bán đảo Crimea, Kavkaz, vùng Nam Kavkaz và trải rộng từ đông bắc Iran tới phía đông Thổ Nhĩ Kỳ
- C. c. raddei – Zarudny, 1908: tìm thấy ở phía bắc Iran
- C. c. persicus – (Blanford, 1873): tìm thấy tại dãy núi Zagros và tây nam Iran
Cá thể lai
Sẻ ngô xanh thường lai với Cyanistes cyanus, một loài anh em sống tại phía tây nước Nga để tạo ra bạc má Pleske (Cyanistes × pleskei), một số sẽ nhìn giống Cyanistes cyanus nhưng sẽ có ít lông trắng ở phần đuôi và phần ngực có màu ngả vàng hoặc nhìn giống sẻ ngô xanh nhưng phần thân dưới sẽ trắng hơn.[10][11]
Ngoại hình
Sẻ ngô xanh có kích cỡ khoảng 12 cm, đầu chim hơi vuông vức và đuôi tương đối ngắn. Ở đỉnh đầu có phần lông màu lam sẫm tự nhiên hoặc màu xanh caerulean.[10] Sẻ ngô xanh là một loài dị hình giới tính, tuy trước đó từng bị coi là đơn hình giới tính[a] do màu sắc và ngoại hình giữa con cái và con đực quá giống nhau.[12] Phần lông trên đầu phản chiếu tia cực tím và được chúng phô bày trước con cái qua tư thế xù lông ở phía gáy.[12]
Nguồn thức ăn
Thức ăn của sẻ ngô xanh chủ yếu gồm côn trùng và nhện, tuy nhiên chúng cũng ăn hạt giống và các sản phẩm từ thực vật trừ khi chúng đang vào mùa sinh sản.[6][13] Chúng cực kỳ nhanh nhạy và linh hoạt khi tìm kiếm thức ăn với khả năng bám vào các đầu cành cây nhỏ và thậm chí có thể chổng ngược xuống để tìm mồi.[6] Sẻ ngô xanh trong tự nhiên thường sống trong các hốc cây nhưng khá thân thiện và thoải mái với việc sống trong các hộp làm tổ nhân tạo. Vì sống chung môi trường với bạc má lớn, chúng thường phải tranh giành tài nguyên thức ăn và chỗ ở cho mùa đông với loài chim này. Dù vốn có kích thước lớn hơn và hung hãn hơn, kết quả lại thường cho thấy bạc má lớn không thể ngăn cản sự gia tăng số lượng cá thể sẻ ngô xanh.[14][15] Tuy vậy, cũng vì sự tranh đua này mà quy mô quần thể sinh sản của sẻ ngô xanh bị giới hạn trong mùa đông.[15]
Xây tổ
Sẻ ngô xanh thường bắt đầu tìm kiếm tổ ấm của mình ngay từ tháng 1 và sẽ bắt tay vào xây tổ vào cuối tháng 3.[b] Những nơi ở ấm cúng thường sẽ là lựa chọn ưu tiên của chúng, như các hốc cây bị mục rữa hay những vết nứt trong thân cây, kẽ đá. Đôi khi, chúng cũng sẽ lựa chọn tổ cũ của gõ kiến và thậm chí là các hộp làm tổ của con người.[6] Chúng có xu hướng hay chọn các hốc tự nhiên với lối vào hẹp để tránh bị tấn công bởi các kẻ săn mồi cũng như tránh để tổ bị ngập nước khi mưa xuống.[16] Từ cuối tháng 3 đến tháng 4, con cái xây tổ trong vài ngày hoặc trong một hai tuần với sự trợ giúp rất ít đến không có từ con đực. Con cái hay đi tìm rêu trong những khu vườn để làm nguyên liệu chính, ngoài ra còn gồm những lông chim mềm mại, tóc và bông len để xây tổ.[5][6]
Các nghiên cứu khoa học gần đây đã ghi nhận việc các cá thể sẻ ngô xanh sử dụng tàn thuốc lá để hỗ trợ xây tổ của mình trong các khu vực đô thị.[17] Trong tự nhiên, sẻ ngô xanh hay chọn lựa các cành của các loài cây có mùi thơm như oải hương hay bạc hà để tránh và giết chết các ký sinh trùng ngoài da khi xây tổ.[18] Ở các thành phố có ít loài cây thơm này nên sẻ ngô xanh dùng chất nicotin trong thuốc lá như một chất thay thế để ngăn chặn hoặc giết chết các ký sinh trùng và côn trùng gây hại lẻn vào trong tổ. Phương pháp thích ứng này cho thấy hiệu quả tích cực trong ngắn hạn khi con non có sức khỏe sinh lý tốt hơn. Tuy nhiên, các nhà khoa học lo ngại rằng kim loại nặng và arsen trong thuốc lá có thể sẽ gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe của con non.[17]
Chú giải
- ^ Đơn hình giới tính (sexual monomorphism) là hiện tượng trái ngược của dị hình giới tính, miêu tả tình trạng trong một loài cá thể đực và cá thể cái có ngoại hình và đặc điểm giống nhau.
- ^ Có nguồn cho rằng chúng bắt đầu tìm và xây tổ ấm vào tháng 2.[5]
Chú thích
- ^ BirdLife International (2017). "Cyanistes caeruleus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2017: e.T103761667A118689415. doi:10.2305/IUCN.UK.2017-3.RLTS.T103761667A118689415.en. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2021.
- ^ Wright, Gill, Frank and Minturn (2006). Birds of the World: Recommended English Names (ấn bản thứ 1). Princeton University Press. tr. ix + 259. ISBN 0-691-12827-8.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ^ Clements, J. F.; Schulenberg, T. S.; Iliff, M. J.; Wood, C. L.; Roberson, D.; Sullivan, B.L. (2012). "The eBird/Clements checklist of birds of the world: Version 6.7". Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ a b BirdLife International (2018) [2017]. "Cyanistes caeruleus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2017: e.T22735924A132001507. doi:10.2305/IUCN.UK.2017-3.RLTS.T22735924A132001507.en. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
- ^ a b c "Blue Tit". BTO (British Trust for Ornithology) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
- ^ a b c d e "Blue Tit (Cyanistes caeruleus) - British Birds". Woodland Trust. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
- ^ Linnaeus, C. (1758). Systema naturae per regna tria naturae, secundum classes, ordines, genera, species, cum characteribus, differentiis, synonymis, locis. Tomus I. Editio decima, reformata (bằng tiếng La-tinh). Quyển v.1. Holmiae [Stockholm]: Laurentii Salvii. tr. 190.
P. remigibus caerulescentibus : primoribus margine exteriore albis, fronte alba, vertice caeruleo.
- ^ Jobling, James A. (2010). The Helm dictionary of scientific bird names. London : Christopher Helm. tr. 83, 293. ISBN 978-1-4081-3326-2.
- ^ "Waxwings and allies, tits, penduline tits – IOC World Bird List". IOC World Bird List Version 15.2. International Ornithologists' Union (bằng tiếng Anh). International Ornithologists' Union. tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
- ^ a b Harrap, Simon (1996). Tits, nuthatches & treecreepers (bằng tiếng Anh). Internet Archive. London : Christopher Helm. tr. 385–394. ISBN 978-1-4081-3518-1.
- ^ van Duivendijk, Nils; Dixon, Ric (tháng 1 năm 2012). "Azure Tits and hybrids in the Western Palearctic: identification and status" (PDF). Dutch Birding. Quyển 34 số 5. tr. 1–5 – qua ResearchGate.
- ^ a b Andersson, Staffan; Örnborg, Jonas; Ottosson, Ulf (1998). "Ultraviolet sexual dimorphism and assortative mating in blue tits". Proceedings of the Royal Society of London. Series B: Biological Sciences. Quyển 265 số 1395. tr. 445–450. doi:10.1098/rspb.1998.0315.
- ^ "A Blue Tit Diary". BTO (British Trust for Ornithology) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
- ^ André A. Dhondt; Frank Adriaensen. "Interspecific competition in tits". International Ornithology. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
- ^ a b Dhondt, André A.; Eyckerman, Roman (1980). "Competition Between the Great Tit and the Blue Tit Outside the Breeding Season in Field Experiments". Ecology. Quyển 61 số 6. tr. Abstract. doi:10.2307/1939036. ISSN 0012-9658.
- ^ "The breeding performance of Blue Tits Cyanistes caeruleus in relation to the attributes of natural holes in a primeval forest". www.tandfonline.com. doi:10.1080/00063657.2012.722189#d1e303. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2026.
- ^ a b Glądalski, Michał; Norte, Ana Cláudia; Bartos, Maciej; Demeško, Iwona; Kaliński, Adam; Markowski, Marcin; Skwarska, Joanna; Wawrzyniak, Jarosław; Zieliński, Piotr (ngày 1 tháng 3 năm 2026). "Urban blue tit nests and cigarette butts: accidental litter or adaptive behaviour?". Animal Behaviour. Quyển 233. tr. Abstract. doi:10.1016/j.anbehav.2026.123464. ISSN 0003-3472. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
- ^ Pires, Bárbara A.; Belo, Anabela F.; Rabaça, João E. (ngày 1 tháng 3 năm 2012). "Aromatic Plants in Eurasian Blue Tit Nests: The 'Nest Protection Hypothesis' Revisited". The Wilson Journal of Ornithology. Quyển 124 số 1. tr. Abstract. doi:10.1676/11-102.1. ISSN 1559-4491.
Xem thêm
- Dữ liệu liên quan tới Parus caeruleus tại Wikispecies
- Tư liệu liên quan tới Parus caeruleus tại Wikimedia Commons
- The Royal Society for the Protection of Birds (Blue Tit)
- Blue Tit videos, photos & sounds Lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2016 tại Wayback Machine on the Internet Bird Collection.
- Blasco-Zumeta, Javier; Heinze, Gerd-Michael. "Blue Tit: Aging and sexing" (PDF). Laboratorio Virtual Ibercaja. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2014.
- Feathers of Eurasian blue tit (Parus caeruleus) Lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2014 tại Wayback Machine
- Bảng thông tin loài BirdLife cho Cyanistes caeruleus
- "Common blue tit media". Internet Bird Collection.
- Thư viện ảnh về Sẻ ngô xanh tại VIREO (Đại học Drexel)
- Tài liệu về Sẻ ngô xanh tại ARKive
Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).