Tác phẩm
Tác phẩm (tiếng Anh: creative work, dịch sát nghĩa là tác phẩm sáng tạo) là công trình do nhà văn hoá, nghệ thuật hoặc khoa học sáng tạo ra.[1] Thuật ngữ này bao gồm tác phẩm nghệ thuật, mỹ thuật (điêu khắc, hội họa, vẽ, phác thảo, nghệ thuật trình diễn), nhảy múa, viết (văn học), làm phim và sáng tác âm nhạc. Thuật ngữ này thường được sử dụng trong bối cảnh về quyền tác giả.[2] Đây là một khái niệm quan trọng trong cả triết học và luật pháp.
Các tác phẩm đòi hỏi một quá trình tư duy sáng tạo và thường không được tạo ra một cách tùy tiện, mặc dù các tác phẩm có thể thể hiện (tức là có điểm chung) một mức độ tùy tiện nhất định, đến mức khó có khả năng hai người có thể độc lập lại tạo ra cùng một tác phẩm. Như vậy, cả định nghĩa và tính chất của tác phẩm đều bao hàm việc "sáng tạo", do đó nếu viết "tác phẩm sáng tạo" là thừa từ. Về cơ bản, công việc sáng tạo bao gồm hai bước chính: có một ý tưởng, sau đó biến ý tưởng đó thành một hình thức hoặc quy trình cụ thể. Thông thường, quá trình sáng tạo tạo ra tác phẩm có giá trị thẩm mỹ nào đó, được xác định là một biểu hiện sáng tạo. Biểu hiện này thường gợi lên những kích thích bên ngoài (ví dụ: ảnh hưởng và kinh nghiệm) mà một người sử dụng vì họ coi tác phẩm là nguồn sáng tạo hoặc truyền cảm hứng cho họ; mức độ phản ánh điều này có thể được sử dụng để xác định tác phẩm phái sinh. Ngoài ra, người sáng tạo có thể dựa vào tưởng tượng để tạo ra tác phẩm.
Định nghĩa pháp lý
Việt Nam
Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH ngày 09/09/2025 của Văn phòng Quốc hội: Luật Sở hữu trí tuệ, điều 4 quy định: Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.[3]
Ngoài ra, điều 14 cũng quy định cụ thể các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo văn bản hợp nhất này, gồm:[3]
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học: a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; c) Tác phẩm báo chí; d) Tác phẩm âm nhạc; đ) Tác phẩm sân khấu; e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (gọi chung là tác phẩm điện ảnh); g) Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng; h) Tác phẩm nhiếp ảnh; i) Tác phẩm kiến trúc; k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
Vương quốc Anh
Theo quy định tại điều 221(2)(c) của Đạo luật Thuế thu nhập (Kinh doanh và Thu nhập khác) năm 2005 (tạm dịch từ Income Tax (Trading and Other Income) Act 2005), thuật ngữ "creative work" có nghĩa là:
(a) các tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc hoặc nghệ thuật, hoặc
(b) các thiết kế,
do người nộp thuế tự mình tạo ra hoặc, nếu ngành nghề, chuyên môn hoặc hoạt động kinh doanh đủ điều kiện được thực hiện theo hình thức hợp tác, do một hoặc nhiều đối tác cùng nhau tạo ra.[4]
Liên bang Nga
Bộ luật Dân sự Liên bang Nga không dành một điều khoản riêng để đưa ra định nghĩa khái quát về tác phẩm. Tuy nhiên, một số đặc điểm pháp lý của tác phẩm được thể hiện tại Phần IV của Bộ luật này. Theo Điều 1257 và Điều 1259 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga, Phần IV, ngày 18 tháng 12 năm 2006, số 230-FZ, được sửa đổi ngày 23 tháng 7 năm 2025 có quy định:
Điều 1257: tác giả của tác phẩm khoa học, văn học hoặc nghệ thuật là công dân đã tạo ra tác phẩm bằng lao động sáng tạo;
Khoản 1 Điều 1259 xác định các tác phẩm khoa học, văn học và nghệ thuật là đối tượng của quyền tác giả, không phụ thuộc vào giá trị và mục đích của tác phẩm cũng như phương thức biểu đạt. Khoản 3 Điều 1259 quy định quyền tác giả áp dụng đối với cả tác phẩm đã công bố và chưa công bố, với điều kiện tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức khách quan, bao gồm hình thức văn bản, lời nói, hình ảnh, bản ghi âm hoặc ghi hình và hình thức không gian. Theo khoản 5 Điều 1259, quyền tác giả không áp dụng đối với các ý tưởng, khái niệm, nguyên tắc, phương pháp, quy trình, hệ thống, phương thức, giải pháp cho các nhiệm vụ kỹ thuật, tổ chức hoặc nhiệm vụ khác, các phát hiện, sự kiện, ngôn ngữ lập trình và thông tin địa chất về lòng đất.
Khoản 80 Nghị quyết số 10 ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Hội nghị toàn thể Tòa án Tối cao Liên bang Nga (nguyên văn: Пленума Верховного Суда РФ) về việc áp dụng Phần IV Bộ luật Dân sự Liên bang Nga xác định rằng danh mục đối tượng quyền tác giả tại khoản 1 Điều 1259 không mang tính liệt kê đầy đủ. Khi xem xét một kết quả hoạt động trí tuệ có phải là đối tượng của quyền tác giả hay không, tòa án phải xác định kết quả đó có được tạo ra bằng lao động sáng tạo hay không. Kết quả hoạt động trí tuệ được suy đoán là do lao động sáng tạo tạo ra cho đến khi có chứng cứ ngược lại.
Các quy định trên xác định những dấu hiệu pháp lý cơ bản của tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại Nga, bao gồm việc được tạo ra bằng lao động sáng tạo, thuộc lĩnh vực khoa học, văn học hoặc nghệ thuật và được thể hiện dưới một hình thức khách quan.
Hoa Kỳ
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Hoàng Phê (chủ biên) (2003). Từ điển tiếng Việt. TP. Hồ Chí Minh: Nxb Đà Nẵng. tr. 883.
- ^ Stim, Rich (ngày 27 tháng 3 năm 2013). "Copyright Basics FAQ | Stanford Copyright and Fair Use Center". Fair Use. Stanford Libraries. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2015 – qua Robert Crown Law Library.
- ^ a b Văn phòng Quốc hội (2025). "Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH của Văn phòng Quốc hội: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ". Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
- ^ The Income Tax (Trading and Other Income) Act 2005, section 221(2)(c)