Tái Liêm (chữ Hán: 載濂; 1854 - 1917), Tông thất nhà Thanh, được biết đến nhiều nhất với tư cách là một trong những nhà lãnh đạo của Nghĩa Hòa Đoàn vào những năm 1899 – 1901.

Tiểu sử

Tái Liêm sinh vào ngày 17 tháng 8 năm Hàm Phong thứ 4 (1854), là con trai lớn nhất của Đôn Cần Thân vương Dịch Thông, con trai Đạo Quang Đế. Sinh mẫu của ông là Hách Xá Lý thị (赫舍里氏), Trắc Phúc tấn của Dịch Thông, con gái của Lĩnh đội Đại thần Quý Văn (贵文). Năm Hàm Phong thứ 7 (1857) được ban thưởng Đỉnh đái Đầu phẩm, Hoa lĩnh hai mắt. Năm Đồng Trị thứ nhất (1862), phong Trấn quốc tướng quân. Năm Đồng Trị thứ 3 (1864), tấn phong Bất nhập bát phân Trấn quốc công, đến năm thứ 11 (1872) lại thăng Phụng ân Phụ quốc công. Những năm Quang Tự, ông giữ chức Tổng tộc trưởng Chính Lam kỳ, sau gia phong Bối lặc, Nội đại thần, Đô thống Hán quân Tương Hồng kỳ, Lĩnh thị vệ Nội đại thần, kế thừa Thanh Hoa viên của cha.[cần dẫn nguồn]

Năm Quang Tự thứ 25 (1899), diễn ra sự kiện "Kỷ Hợi kiến trữ" (tiếng Trung: 己亥建储), tâm điểm chính là em trai ông Tái Y và cháu trai Phổ Tuấn. Năm 1900, Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn bùng phát, gia đình của Tái Y ủng hộ phong trào nên bị triều đình bị buộc đi lưu đày ở Tân Cương[1][2]. Cùng năm, ngày 25 tháng 9, Từ Hi Thái hậu nhân danh Quang Tự Đế hạ dụ chỉ trừng phạt các vương công tông thất và quan viên liên quan đến Sự biến Canh Tý: "Trang Thân vương Tải Huân, Di Thân vương Phổ Tĩnh, Bối lặc Tải Lương, Tải Huỳnh đều bị cách tuột chức tước. Đoan Quận vương Tải Y được khoan hồng cho thôi các chức vụ, giao Tông Nhân phủ nghiêm nghị xử lý và đình chỉ bổng lộc"[3]. Ông mất vào ngày 29 tháng 9 năm Dân Quốc thứ 6 (1917).

Gia quyến

Thê thiếp

Con cái

  1. Trưởng tử Phổ Xưng (溥偁, 18931931), mẹ là Đích Phúc tấn A Lỗ Đặc thị. Thụ Đỉnh đái Đầu phẩm, được phép hành tẩu tại Càn Thanh môn, vợ là Phú Sát thị (富察氏).
    1. Trưởng nữ: Dục Cúc Anh (毓菊英)
    2. Trưởng tử: Dục Đại (毓岱, 19131946)
    3. Nhị tử: Dục Nham (毓嵒, 19181999)
  2. Nhị tử Phổ Tu (溥修, 18961956), mẹ là Kế Phúc tấn Phí Mạc thị. Được nhận làm con thừa tự của thúc phụ Tải Tân (載津), thụ Nhị đẳng Trấn quốc Tướng quân, năm 1915 thì khôi phục tông tịch. Vợ là Phí Mạc thị (費莫氏), có hai con trai.

Tham khảo

  1. ^ Nhã Sắt, 雅瑟; Vương Mục, 王牧 (ngày 1 tháng 5 năm 2011). 大太监李莲英:从宫廷太监到封建社会最后的权宦 [Đại thái giám Lý Liên Anh: Từ một thái giám cung đình đến hoạn quan quyền lực cuối cùng của chế độ phong kiến] (bằng tiếng Trung). Beijing Book Co. Inc. ISBN 9787560969879.
  2. ^ Chu Hiên (2004), tr. 40.
  3. ^ Thanh thực lục, tập 470: 光绪二十六年。庚子。闰八月[……]○辛丑[……]○又谕、此次中外开衅。变出非常[……]庄亲王载勋、怡亲王溥静、贝勒载濂、载滢均著革去爵职。端郡王载漪著从宽撤去一切差使。交宗人府严加议处。并著停俸。辅国公载澜、都察院左都御史英年、均著交该衙门严加议处。协办大学士吏部尚书刚毅、刑部尚书赵舒翘、著交都察院吏部议处。以示惩儆[……]