Túc Thuận (chữ Hán: 肃顺, chữ Mãn: Uksun Sušūn, 26 tháng 11, 1816 - 8 tháng 11, 1861), tự Vũ Đình (雨亭), là một hoàng thân của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc, đồng thời là người đứng đầu trong 8 vị Cố mệnh Bát đại thần của Hàm Phong Đế[1].

Túc Thuận
肃顺
Thông tin chung
Sinh1816
Mất1861
Hoàng tộcnhà Thanh
Thân phụTrịnh Thân vương Ô Nhĩ Cung A
Thân mẫuTrắc Phúc tấn Hồ Giai thị (瑚佳氏)

Cuộc đời

Túc Thuận sinh vào ngày 8 tháng 10 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 21 (1816), là con trai thứ sáu của Trịnh Thân vương Ô Nhĩ Cung A - người thừa kế 1 trong 12 tước vị Thiết mạo tử vương. Sinh mẫu của ông là Trắc Phúc tấn Hồ Giai thị (瑚佳氏)[2], con gái của Ngọc Quý (玉貴), ngoài ông ra thì Hồ Giai thị còn sinh anh trai Đoan Hoa cũng là một trong Cố mệnh Bát đại thần sau này. Đích mẫu của ông là Phú Sát thị (富察氏), con gái của Phúc Khang An – con trai của Đại học sĩ Phó Hằng, tuy nhiên đã qua đời từ năm Gia Khánh thứ 5 (1800), Trịnh Thân vương từ đấy không lập kế thất nữa. Với tư cách là Trắc Phúc tấn cũng như là sinh mẫu của người kế vị, Hồ Giai thị từ năm Gia Khánh thứ 6 đã chủ trương quản lý hậu viện của Ô Nhĩ Cung A, nhờ đó mà sinh tiền cả ông và anh trai đều rất được cha quý mến, tích cực bồi dưỡng.

Những năm Đạo Quang, ông thụ tước Tam đẳng Trấn quốc tướng quân (三等輔國將軍) kiêm chức Tán trật đại thần.

Đến khi Hàm Phong Đế lên ngôi, ông được thăng chức Nội các học sĩ kiêm Phó Đô thống, Hộ quân Thống lĩnh. Năm Hàm Phong thứ 4 (1854), thụ chức Ngự tiền Thị vệ, thăng Công bộ Thị lang, kinh qua Lễ bộ và Hộ bộ, đến năm Hàm Phong thứ 7 (1857) thăng Tả đô ngự sử, Lý Phiên viện Thượng thư. Khi liên quân Anh-Pháp xâm lược Quảng Châu, Túc Thuận đứng trong phái chủ chiến, phản đối lập trường chủ hòa của Cung Thân vương. Năm Hàm Phong thứ 9 (1859), chủ khảo khoa thi năm đó là Văn Uyên các Đại học sĩ Bách Tuấn (柏葰) cố ý gian lận nên bị Túc Thuận kiên trì kiến nghị Hoàng đế xử trảm, được chuẩn y. Kể từ đó, kỷ cương khoa cử được thắt chặt suốt 30 năm[3].

Năm Hàm Phong thứ 10 (1860), quân Thái Bình Thiên Quốc đánh chiếm Tô ChâuThường Châu, ông tiến cử tướng Tăng Quốc Phiên làm Tổng đốc Lưỡng Quảng. Cùng năm đó, liên quân Anh-Pháp tấn công kinh sư, ông tháp tùng Hàm Phong Đế đến Nhiệt Hà. Tháng 7 năm sau, Hàm Phong Đế bệnh nặng, truyền ông cùng Tái Viên, Đoan Hoa và 4 đại thần khác cùng nhau phò trợ, nhiếp chính cho Hoàng thái tử Tải Thuần, sử gọi là Cố mệnh Bát đại thần. Sau khi Tải Thuần kế vị, tức Đồng Trị Đế, Lưỡng cung Thái hậu cùng Cung Thân vương Dịch Hân (Hoàng tử thứ 6 của Đạo Quang Đế) và Thuần Quận vương Dịch Hoàn (Hoàng tử thứ 7 của Đạo Quang Đế) phát động Tân Dậu Chính biến (辛酉政變) nhằm đoạt lại quyền nhiếp chính từ tay nhóm Bát đại thần. Sau chính biến, ông bị bắt tại Mật Vân và bị chém đầu thị chúng vào tháng 10 cùng năm, anh trai ông Đoan Hoa và Tái Viên thì bị cách tước và ban tự sát[4]. Khi ra pháp trường, dân chúng Bắc Kinh vốn oán hận ông vì việc cắt giảm bổng lộc của con em Bát kỳ đã tranh nhau ném đá vụn vào ông. Túc Thuận trước khi chết vẫn lớn tiếng chửi rủa: "Không ngờ lại bị lũ đàn bà (tiểu nương môn) tính kế."[5] Vì ông không chịu quỳ, quân lính đã phải dùng sắt đập gãy ống chân để bắt ông quỳ xuống trước khi chém.

Gia quyến

Thê thiếp

Con cái

Con trai

  1. Hy Thiện (熙善, 1848 - 1870), mẹ là Lưu Giai thị, vô tự.
  2. Chinh Thiện (征善, 1853 - 1896), mẹ là Mạnh thị, được đem làm con thừa tự cho Đoan Hoa. Có hai con trai.
  3. Thừa Thiện (承善, 1854 - 1904), mẹ là Kim thị. Có một con trai.
  4. Đồng Thiện (同善, 1856 - 1899), mẹ là Mạnh thị, vô tự.

Con gái

  1. Trưởng nữ (1840 - ?), mẹ là Lưu Giai thị. Năm Hàm Phong thứ 6 (1856) lấy Nhị đẳng Đài cát Đạt Nhĩ Mã (达尔玛) thuộc tộc Khắc Thập Khắc Đằng (克什克腾).
  2. Nhị nữ (1842 - ?), mẹ là Kim thị.
  3. Tam nữ (1851 - ?), mẹ là Mạnh thị.
  4. Tứ nữ (1860 - 1861), mẹ là Mạnh thị, chết yểu.

Chú thích

  1. ^ Ngọc điệp, tr. 8346, Quyển 6, Đinh 4
  2. ^ 其母故回民富商之女。烏爾恭阿羨其母美貌,計殺其外祖,更以其母為妾,生肅順。見《清代筆記小説大観》(上海古籍出版社)。
  3. ^ 清史稿.列傳 ,389卷 載:“出於肅順等之搆陷。自此,司文衡者懔懔畏法,科場清肅,歷三十年,至光緒中始漸弛,終未至如前此之甚者。”
  4. ^ 信修明. 《老太监的回忆》. 北京燕山出版社. 1987: 第11页 [2012-12-29]. (原始内容存档于2018-03-03).
  5. ^ 《正說清朝十二帝》