Sắc tướng

(Đổi hướng từ Tướng màu)

Trong lý thuyết màu, sắc tướng, tướng màu hay màu thuần (từ tiếng Anh hue theo nghĩa kỹ thuật / công nghệ của từ này) là một thuộc tính (gọi là thông số biểu thị màu) của một màu sắc, được định nghĩa trong mô hình CIECAM02 như là "mức độ mà một kích thích có thể được mô tả như là tương tự hoặc khác biệt với các kích thích được mô tả như là màu đỏ, màu da cam, màu vàng, màu xanh lục, màu xanh lam, màu tím,"[1] trong một số lý thuyết nhất định về thị giác màu.

Tập tin:Colors-i54-ring.png
Tất cả các màu trên vòng tròn màu này đều có cùng một độ sáng tối và một độ bão hoà màu, chỉ khác nhau ở sắc tướng.

Từ nguyên

Một số từ điển Anh – Việt dịch từ hue của tiếng Anh thành màu sắc, độ màu, độ màu sắc, màu (sắc), sắc, sắc độ, sắc thái, vẻ v.v...; nhưng điều này gây lộn xộn, nhầm lẫn khi xem xét về mặt kỹ thuật; do rất khó hoặc không thể phân biệt về nội hàm cũng như ngoại diên với các từ tiếng Anh khác như color / colour, chroma, chromaticity, chrominance v.v...

Như định nghĩa trên đây của từ hue theo nghĩa kỹ thuật / công nghệ thì nó là một trong các thuộc tính của một màu sắc, giúp người ta phân biệt màu sắc này với màu sắc khác theo tên gọi - ở đây là biểu hiện ra bên ngoài (ngoại diên) của một màu sắc nhất định. Như thế các tên gọi như sắc tướng (色相), tướng màu (相牟 / 相𬜝) dường như là phù hợp hơn với định nghĩa này; với sắc (色) nghĩa là màu / màu sắc, tướng (相) nghĩa là chất, bản chất, dung mạo, hình dạng ngoài / hình ảnh ngoài, biểu thị ngoài.

Biểu diễn định lượng

Sắc tướng thường có thể được biểu diễn định lượng bằng một con số duy nhất, thường tương ứng với vị trí góc xung quanh một điểm hay một trục trung tâm hoặc trung tính trên biểu đồ tọa độ không gian màu (chẳng hạn như trong biểu đồ sắc độ) hoặc vòng tròn màu, hoặc bằng bước sóng chủ đạo của nó hoặc bằng bước sóng của màu bù của nó. Các thông số biểu thị màu khác là độ rực rỡ màu, độ bão hòa (còn được gọi là cường độ hoặc sắc),[2] độ nhạt sángđộ chói sáng. Thông thường, các màu với cùng một sắc tướng được phân biệt với các tính từ bổ trợ để nói về độ nhạt sáng hay độ sặc sỡ của chúng – chẳng hạn: "màu lam nhạt", "màu tùng lam", "màu lam chói" hay "màu lam coban". Ngoại lệ về tên gọi có lẽ là màu nâu, vì thực tế nó là một loại màu da cam tối màu với độ bão hoà màu và độ chói thấp.[3]

Trong hội hoạ, sắc tướng là một sắc tố thuần – sắc tố không bị nhạt hay đậm màu (tương ứng là bổ sung sắc tố trắng hay đen).[4]

Não người đầu tiên xử lý sắc tướng tại các vùng trong vùng thị giác V4 mở rộng được gọi là glob.[5][6]

Suy ra một sắc tướng

Tập tin:Munsell hue wheel equal value and chroma.png
Vòng tròn màu Munsell có độ dốc ở giá trị đậm nhạt 5 và sắc không đổi ở 6,24.

Khái niệm về hệ thống màu sắc với sắc tướng đã được khám phá từ rất sớm, vào năm 1830 với quyển màu của Philipp Otto Runge. Hệ màu Munsell từ thập niên 1930 là một bước tiến lớn, vì người ta nhận ra rằng tính đồng nhất cảm nhận có nghĩa là không gian màu không còn có thể là một hình cầu nữa.

Theo quy ước, sắc tướng cho màu đỏ được đặt tại góc 0° trong phần lớn các không gian màu với sắc tướng.

Các không gian màu đối lập

Trong các không gian màu đối lập trong đó hai trục vuông góc với độ sáng về mặt tri giác, như các không gian màu CIE 1976 - CIELAB (L*, a*, b*) và CIELUV (L*, u*, v*), sắc tướng có thể được tính toán cùng với sắc bằng cách chuyển đổi các tọa độ này từ dạng hình chữ nhật sang dạng cực. Sắc tướng là thành phần góc của biểu diễn toạ độ cực, trong khi sắc là thành phần bán kính.

Cụ thể, trong CIELAB[7]

hab=atan2(b,a),

Tương tự, trong CIELUV[7]

huv=atan2(v,u)=atan2(v,u),

Trong đó atan2 là hàm nghịch đảo hai đối số của hàm lượng giác tang.

Định nghĩa sắc tướng theo hệ màu RGB

Tập tin:HSV cone.jpg
Không gian màu HSV như một vật thể hình nón
Tập tin:HSV-RGB-comparison.svg
Hình minh họa mối quan hệ giữa "sắc tướng" của các màu với độ bão hòa tối đa trong hệ màu HSV và HSL với tọa độ RGB tương ứng của chúng.
Tập tin:RGB color wheel 24.svg
Vòng tròn sắc tướng với 24 màu (15°).

Preucil[8] mô tả một lục giác màu, tương tự như biểu đồ ba tuyến tính được mô tả bởi Evans, Hanson và Brewer,[9] có thể được sử dụng để tính toán sắc tướng từ mô hình màu RGB. Khi đặt màu đỏ ở 0°, màu xanh lục ở 120° và màu xanh lam ở 240° ta có:

hrgb=atan2(3(GB),2RGB).

Tương đương, người ta có thể giải

tan(hrgb)=3(GB)2RGB.

Preucil đã sử dụng biểu đồ cực, được ông gọi là vòng tròn màu.[8] Sử dụng các giá trị R, G và B, người ta có thể tính góc sắc tướng bằng cách sử dụng sơ đồ sau: xác định thứ tự nào trong sáu thứ tự có thể có của R, G và B chiếm ưu thế, sau đó áp dụng công thức được đưa ra trong bảng dưới đây.

Trật tự Vùng sắc tướng hvòng tròn Preucil
RGB Da cam 60GBRB
G>RB Xanh nõn chuối 60(2RBGB)
GB>R Xanh mùa xuân 60(2+BRGR)
 B>G>R  Xanh da trời (thiên lam) 60(4GRBR)
B>RG Tím 60(4+RGBG)
RB>G Đỏ mai côi 60(6BGRG)

Trong mỗi trường hợp, công thức đều chứa phân số MLHL, trong đó H là giá trị lớn nhất của R, G, B; L là giá trị nhỏ nhất, và M là giá trị nằm giữa hai giá trị lớn nhất và nhỏ nhất. Điều này được gọi là "sai số màu Preucil" và được sử dụng trong việc tính toán cường độ của mặt nạ trong quá trình tái tạo màu quang cơ.[10]

Góc sắc tướng được tính toán cho vòng tròn Preucil trùng khớp với góc sắc tướng được tính toán cho lục giác Preucil ở các bội số nguyên của 30° (đỏ, vàng, xanh lục, xanh lơ, xanh lam, hồng đậm (magenta) và các màu nằm giữa các cặp màu liền kề) và khác nhau khoảng 1,2° ở các bội số nguyên lẻ của 15° (dựa trên công thức vòng tròn), đây là độ lệch tối đa giữa hai giá trị.

Quá trình chuyển đổi màu RGB sang không gian màu HSL hoặc HSV thường dựa trên ánh xạ từng phần 6 mảnh, coi nón HSV như một hình chóp lục giác, hoặc nón kép HSL như một hình chóp lục giác kép.[11] Các công thức được sử dụng là những công thức trong bảng nói trên.

Có thể nhận thấy rằng "vòng tròn" sắc tướng HSL/HSV dường như không có cùng độ sáng tối. Đây là một vấn đề đã biết của phương pháp xác định sắc tướng dựa trên RGB này.[12]

Sử dụng trong nghệ thuật

Các nhà sản xuất chất màu sử dụng từ "sắc tướng", chẳng hạn như "(sắc tướng) vàng cadmi", để chỉ ra rằng thành phần tạo màu ban đầu, thường là chất độc hại, đã được thay thế bằng các chất thay thế an toàn hơn (hoặc rẻ hơn) mà vẫn giữ được sắc tướng của chất ban đầu. Các chất thay thế thường được sử dụng cho chromi, cadmializarin.

Sắc tướng với bước sóng chủ yếu

Bước sóng chủ yếu (hoặc đôi khi là bước sóng tương đương) là một đại lượng vật lý tương tự như thuộc tính cảm nhận về sắc tướng. Trên biểu đồ sắc độ, một đường thẳng được vẽ từ điểm trắng đi qua các tọa độ của màu sắc đang xét, cho đến khi nó giao cắt với quỹ tích phổ. Bước sóng tại điểm mà đường thẳng giao cắt với quỹ tích phổ được xác định là bước sóng chủ yếu của màu sắc này nếu điểm đó nằm cùng phía với điểm trắng và quỹ tích phổ, và là bước sóng phụ của màu sắc này nếu điểm đó nằm ở phía đối diện.[13]

Ký hiệu khác biệt sắc tướng

Có hai cách chính để định lượng sự khác biệt về sắc tướng. Cách thứ nhất là sự khác biệt đơn giản giữa hai góc sắc tướng. Ký hiệu cho cách biểu thị sự khác biệt về sắc tướng này là Δhab trong CIELAB và Δhuv trong CIELUV. Cách thứ hai là tính toán là sai khác màu tổng cộng còn lại sau khi đã tính đến các khác biệt về độ sáng tối và sắc; ký hiệu của nó là ΔHab trong CIELAB và ΔHuv trong CIELUV.

Tên gọi và các ký hiệu khác

Tồn tại một sự tương ứng nào đó, với độ chính xác ít hay nhiều, giữa giá trị sắc tướng và các thuật ngữ màu sắc (tên màu sắc). Một cách tiếp cận trong khoa học màu sắc là sử dụng các thuật ngữ màu truyền thống nhưng cố gắng đưa ra các định nghĩa chính xác hơn. Xem Thuật ngữ màu quang phổ để biết tên của các màu có độ bão hòa màu cao với sắc tướng từ ≈ 0° (đỏ) đến ≈ 275° (tím), và Bảng các màu tía có độ bão hòa màu cao để biết các thuật ngữ màu của phần còn lại của vòng tròn màu.

Một cách tiếp cận khác là sử dụng ký hiệu hệ thống. Nó có thể là ký hiệu góc tiêu chuẩn cho một số mô hình màu nhất định, như HSL/HSV đề cập trên đây, CIELUV hoặc CIECAM02. Các ký hiệu chữ số như của Hệ màu Munsell, NCSHệ phối màu Pantone cũng được sử dụng.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Mark Fairchild, "Color Appearance Models: CIECAM02 and Beyond". Tutorial slides for IS&T/SID 12th Color Imaging Conference.
  2. ^ "Hue, Value, Saturation | learn". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017.
  3. ^ C. J. Bartleson, 1976. Brown. Color Research and Application, 1(4): 181–191, doi:10.1111/j.1520-6378.1976.tb00041.x.
  4. ^ "The Color Wheel and Color Theory". Creative Curio. ngày 16 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011.
  5. ^ Conway, B. R.; Moeller, S.; Tsao, D. Y. (2007). "Specialized color modules in macaque extrastriate cortex" (PDF). Neuron. 56 (3): 560–573. doi:10.1016/j.neuron.2007.10.008. PMC 8162777. PMID 17988638. S2CID 11724926. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2020.
  6. ^ Conway, B. R.; Tsao, D. Y. (2009). "Color-tuned neurons are spatially clustered according to color preference within alert macaque posterior inferior temporal cortex". Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America. 106 (42): 18034–18039. Bibcode:2009PNAS..10618034C. doi:10.1073/pnas.0810943106. PMC 2764907. PMID 19805195.
  7. ^ a b Colorimetry, second edition: CIE Publication 15.2. Vienna: Bureau Central of the CIE, 1986.
  8. ^ a b Frank Preucil, 1953. "Color Hue and Ink Transfer ... Their Relation to Perfect Reproduction", TAGA Proceedings, p. 102-110. [TAGA article #T530102, Đăng ký có thu phí tại TAGA].
  9. ^ Ralph Merrill Evans, W. T. Hanson & W. Lyle Brewer, 1953. Principles of Color Photography. New York: Wiley.
  10. ^ Miles Southworth, Color Separation Techniques, second edition. Livonia, New York: Graphic Arts Publishing, 1979.
  11. ^ Max K. Agoston (2004). Computer Graphics and Geometric Modeling v. 1: Implementation and Algorithms. Springer. tr. 301–304. ISBN 1-85233-818-0. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2017.
  12. ^ Brewer, Cynthia A. (1999). "Color Use Guidelines for Data Representation". Proceedings of the Section on Statistical Graphics. Alexandria, VA: American Statistical Association. tr. 55–60. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  13. ^ Deane B. Judd & Günter Wyszecki, 1976. Color in Business, Science, and Industry. New York: Wiley.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Color topics Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).