Tạ Phú Trị
Tạ Phú Trị (giản thể: 谢富治; phồn thể: 謝富治; bính âm: Xiè Fùzhì; Wade–Giles: Hsieh Fu-chih; 26 tháng 9 năm 1909 – 26 tháng 3 năm 1972) là chỉ huy quân sự, chính ủy, chính khách và chuyên gia an ninh quốc gia của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông nổi tiếng về mức độ tàn nhẫn và lòng trung thành với Mao Trạch Đông. Trong Cách mạng Văn hóa, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Công an từ năm 1959 đến năm 1972, ông đã đóng vai trò chủ chốt trong việc thanh trừng kẻ thù chính trị của Mao.
Tạ Phú Trị | |
|---|---|
| 谢富治 | |
| Tập tin:1965-11 1965年 谢富治 参加西藏自治区第一届人大第一次会议.jpg Tạ Phú Trị năm 1965 | |
| Phó Thủ tướng Quốc vụ viện | |
| Nhiệm kỳ Tháng 1 năm 1965 – Tháng 3 năm 1972 | |
| Bộ trưởng Bộ Công an | |
| Nhiệm kỳ 17 tháng 9 năm 1959 – 26 tháng 3 năm 1972 | |
| Tiền nhiệm | La Thụy Khanh |
| Kế nhiệm | Lý Chấn |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | 26 tháng 9, 1909 Hồng An, Hồ Bắc, Trung Quốc |
| Mất | 26 tháng 3, 1972 Bắc Kinh, Trung Quốc |
| Quốc tịch | Trung Quốc |
| Đảng chính trị | Đảng Cộng sản Trung Quốc (1931–1972) |
| Phục vụ trong quân đội | |
| Thuộc | |
| Phục vụ | |
| Năm tại ngũ | 1930–1972 |
| Cấp bậc | Tập tin:General rank insignia (PRC, 1955-1965).jpg Thượng tướng |
Tiểu sử
Sự nghiệp cách mạng ban đầu
Tạ Phú Trị sinh ngày 26 tháng 9 năm 1909 tại Hồng An, Hồ Bắc dưới thời Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1926, ông gia nhập Hội Nông dân tại quê nhà. Tháng 11 năm 1927, ông tham dự cuộc Khởi nghĩa Hoàng Ma nhưng do gặp thất bại nên đành trở về quê nhà lẩn tránh. Tháng 2 năm 1930, ông gia nhập đội Cận vệ Đỏ tại Hoàng An (nay là Hồng An) và Binh đoàn số 1 Hồng quân Công Nông Trung Quốc, năm sau trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc.[1] Ông từng giữ các chức vụ như đội trưởng đội tuyên truyền, rồi chính trị viên đại đội Phương diện quân 4 Hồng quân. Tạ Phú Trị đã tham gia chiến dịch trấn áp phản cách mạng của Phương diện quân 4 Hồng quân và đưa ra khẩu hiệu "Phải mạnh dạn nghi ngờ tất cả", khẩu hiệu này được Trương Quốc Đào đánh giá cao.
Tháng 10 năm 1932, ông cùng chủ lực Hồng quân phương diện quân 4 tiến về phía tây đến khu vực biên giới Tứ Xuyên - Thiểm Tây, lần lượt giữ các chức vụ như chủ nhiệm chính trị trung đoàn, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 26 Quân đoàn 9 Hồng quân, trưởng ban tổ chức Tổng cục Chính trị Phương diện quân 4 Hồng quân, trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy Xuyên Thiểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông đã tham gia các chiến dịch chống tiễu trừ vây quét ở Khu Xô viết Xuyên Thiểm. Năm 1935, ông tham gia cuộc Vạn lý Trường chinh của Phương diện quân 4 Hồng quân, giữ chức chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 9 Hồng quân và Bí thư Huyện ủy trung tâm Mao Công Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau khi đến Thiểm Bắc, ông vào học tại Đại học Hồng quân kháng Nhật.[1] Ông cũng tích cực tham gia vào việc chỉ trích và vạch trần Trương Quốc Đào.
Thời kỳ kháng chiến chống Nhật
Sau khi kháng chiến chống Nhật bùng nổ vào năm 1937, ông giữ chức Chủ nhiệm chính trị, rồi Chính ủy Trung đoàn 772, Sư đoàn 129, Bát lộ quân. Từ năm 1938, Tạ Phú Trị đảm nhiệm chức Chính ủy Lữ đoàn 385, Sư đoàn 129. Năm 1940, ông tham gia Đại chiến Bách Đoàn, kiên cường giữ vững trận địa núi Sư Não và bị trúng độc trong trận chiến. Sau đó, Tạ Phú Trị tiếp tục giữ chức Bí thư Địa khu ủy số 6 Thái Hành Sơn.[1] Năm 1942, Tạ Phú Trị được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu Thái Nhạc. Tháng 7 cùng năm, Quân đoàn Thái Nhạc phát động Chiến dịch vây hãm Sấm Nguyên, dùng chiến thuật tiêu hao nhằm làm mài mòn nhuệ khí quân Nhật, cuối cùng chiếm được Sấm Nguyên. Một năm sau, ông lãnh đạo Quân đoàn Thái Nhạc phát động chiến dịch mùa thu. Cuối năm đó, sau khi Trần Canh rời khu vực Thái Nhạc đến Diên An, Tạ Phú Trị tạm thời giữ chức Tư lệnh.
Nội chiến Quốc - Cộng lần thứ hai
Năm 1945, tháng 8, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Một tháng sau, chủ lực của Quân khu Thái Nhạc hợp thành Quân đoàn Thái Nhạc thuộc Dã chiến quân Tấn Ký Lỗ Dự, Tạ Phú Trị được bổ nhiệm làm Chính ủy. Tháng 9, ông chỉ huy đơn vị tham gia Chiến dịch Thượng Đảng, tiêu diệt hơn 14.000 quân Quốc dân Đảng và bắt sống Tư lệnh Quân đoàn 19 Sử Trạch Ba. Tháng 12 năm 1945, Tạ Phú Trị đảm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn 8, sau đó được điều sang làm Chính ủy Quân đoàn 4. Tháng 7 năm 1946, ông cùng với Trần Canh phối hợp chỉ huy đơn vị tiêu diệt toàn bộ Lữ đoàn 31 thuộc đạo quân Hồ Tông Nam tại khu vực Văn Hỷ và Hạ Huyện. Ngày 9 tháng 8, đơn vị tiêu diệt hoàn toàn Sư đoàn 39 và Sư đoàn 69 của Quốc dân Đảng với tổng cộng hơn 12.000 quân, đồng thời chiếm được 5 huyện. Cuối tháng 9, trong Chiến dịch Lâm Phù, đơn vị của ông đã tiêu diệt hoàn toàn Lữ đoàn 1 của Quân đoàn 1 Quốc dân Cách mạng quân, một đơn vị tinh nhuệ được mệnh danh là "lữ đoàn số một thiên hạ", và bắt sống Lữ đoàn trưởng Hoàng Chính Thành.
Từ tháng 11 năm 1946 đến tháng 1 năm 1947, ông phát động Chiến dịch Tấn Tây Nam và Chiến dịch Phần Hiếu, chỉ huy đơn vị yểm trợ việc bảo vệ Diên An và phối hợp với quân đội Tấn Tuy tiến vào khu vực Lữ Lương, tiêu diệt hơn 26.000 quân Quốc dân Đảng. Tháng 7 năm 1947, Quân đoàn 4, Quân đoàn 9 của Dã chiến quân Tấn Ký Lỗ Dự và Quân đoàn 38 hợp thành Binh đoàn Trần Tạ, vượt sông Hoàng Hà tiến vào Hà Nam. Tháng 8 năm 1947, Tạ Phú Trị cùng Trần Canh chỉ huy đơn vị cắt đứt tuyến đường sắt Long Hải. Đến cuối tháng 10, họ đã tiêu diệt hơn 30.000 quân Quốc dân Đảng và chiếm 15 huyện. Cuối năm, ông phối hợp với Dã chiến quân Hoa Đông tấn công tuyến Bình Hán, chiếm 23 huyện và tiêu diệt hơn 10.000 quân Quốc dân Đảng. Năm 1948, ông chỉ huy đơn vị giao chiến với quân Quốc dân Đảng tại Lạc Dương, sau hai lần đổi chủ, quân Giải phóng cuối cùng đã chiếm được Lạc Dương, Hà Nam. Tháng 5 cùng năm, ông phát động Chiến dịch Uyển Tây và Chiến dịch Uyển Đông, thành lập Khu giải phóng Dự Thiểm Ngạc. Tháng 10, ông chỉ huy đơn vị đánh chiếm Trịnh Châu. Tháng 11, Binh đoàn Trần Tạ tham gia Chiến dịch Hoài Hải, tiêu diệt toàn bộ Binh đoàn 12 của quân Quốc dân Đảng. Sau đó, đơn vị này được sáp nhập vào Quân đoàn 14 mới thành lập thuộc Đại quân khu 2, trở thành Sư đoàn 41.[2] Cùng lúc đó, ông là chính ủy Binh đoàn 4 thuộc Đại quân khu 2 do Chính ủy Đại quân khu Đặng Tiểu Bình đứng đầu.[3] Năm 1949, Tạ Phú Trị giữ chức Chính ủy Binh đoàn 3 thuộc Dã chiến quân số 2, tham gia Chiến dịch vượt sông Dương Tử, sau đó chỉ huy đơn vị tiến vào Tây Nam, đánh chiếm Trùng Khánh.
Thời kỳ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Tạ Phú Trị kiêm nhiệm Bí thư Khu ủy miền Đông Tứ Xuyên và Chính ủy Quân khu miền Đông Tứ Xuyên vào tháng 12 cùng năm. Tháng 7 năm 1952, ông nhậm chức Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam, tháng 7 năm 1956 là Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy; tháng 2 năm 1954, ông là Phó Chính ủy Quân khu Tây Nam, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Vân Nam (sau là Quân khu Côn Minh); tháng 3 năm 1955 là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Côn Minh. Năm 1955, ông được phong quân hàm Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.[1]
Năm 1956, ông được bầu làm Ủy viên Ủy ban Trung ương khóa VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm 1958, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Lực lượng Cảnh sát Vũ trang Nhân dân (năm 1962 đổi thành Lực lượng Công an). Đến tháng 9 năm 1959, ông lên làm Bộ trưởng Bộ Công an. Tháng 5 năm 1960, ông là Chủ nhiệm Ủy ban Bảo mật Trung ương. Tháng 4 năm 1963, ông giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Nội vụ Quốc vụ viện. Tháng 1 năm 1965 ông được bầu làm Phó Thủ tướng Quốc vụ viện. Ngoài ra ông còn là là Ủy viên Ủy ban Quốc phòng khóa III Quân ủy Trung ương Trung Quốc.[1]
Cách mạng Văn hóa
Sau khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu vào năm 1966, tháng 8 cùng năm, ông được bầu bổ sung làm Bí thư Ban Bí thư Trung ương và Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Trung ương. Tháng 3 năm 1967, ông là Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; tháng 4 là Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng thành phố Bắc Kinh; tháng 5 là Chính ủy Quân khu Bắc Kinh và Chính ủy thứ nhất Khu Cảnh vệ Bắc Kinh.[1] Ngày 7 tháng 8 cùng năm, trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Công an tại một cuộc họp toàn thể cán bộ Bộ Công an, Tạ Phú Trị đã có bài phát biểu phủ nhận công tác công an, kiểm sát và tòa án kể từ khi thành lập nước, cho rằng các cơ quan công an, kiểm sát và tòa án ở khắp mọi nơi đều đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, thực chất là để tấn công thế lực của Chu Ân Lai. Ông đổ lỗi cho La Thụy Khanh, Lưu Thiếu Kỳ và những người khác, và kêu gọi đập tan ngành công an, kiểm sát, tòa án. Sau đó, Tạ Phú Trị cùng với Khang Sinh đã tạo ra vụ án "Bộ Công an ngầm do La Thụy Khanh cầm đầu". Một số người cho rằng bài phát biểu của Tạ Phú Trị chính là ngòi nổ cho làn sóng bạo lực lan rộng ngay sau đó.[4] Sự ủng hộ kiên định của ông đối với Cách mạng Văn hóa đã giúp ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, và Ủy viên Thành ủy Bắc Kinh cải tổ vào cuối năm 1966. Ông cũng là thành viên Tiểu tổ Cách mạng Văn hóa Trung ương và hợp tác chặt chẽ với Bè lũ Bốn tên.
Vào tháng 7 năm 1967, Tư lệnh Quân khu Vũ Hán, Tướng Trần Tái Đạo đã ủng hộ phe Hồng vệ binh mang tên Bách vạn Hùng sư chống lại phe đối địch gọi là Tổng Bộ Công nhân Vũ Hán trong sự kiện Vũ Hán gây chấn động toàn quốc lúc đó. Thủ tướng Chu Ân Lai đã ra lệnh cho Trần Tái Đạo ngừng hỗ trợ Bách vạn Hùng sư và chuyển sang ủng hộ Tổng Bộ Công nhân Vũ Hán, nhưng ông từ chối tuân theo. Tạ Phú Trị và Vương Lực được cử đến Vũ Hán để thuyết phục Trần Tái Đạo chấp hành mệnh lệnh của Chu Ân Lai. Tuy nhiên, vào ngày 20 tháng 7, lực lượng Quân Giải phóng tại Vũ Hán đã giam giữ, tát và làm nhục Tạ Phú Trị, đồng thời cho phép phe Bách vạn Hùng sư bắt giữ Vương Lực. Thủ tướng Chu Ân Lai đã bay đến Vũ Hán nhưng bị ngăn không cho hạ cánh do sự thị uy quân sự tại sân bay. Trước tình hình đó, quân đội trung ương đã điều động ba sư đoàn bộ binh cùng các đơn vị khác đến Vũ Hán và buộc Tướng Trần Tái Đạo đầu hàng mà không nổ súng. Sau sự kiện này, Tạ Phú Trị và Vương Lực được chào đón trở lại Bắc Kinh trong một buổi mít tinh lớn tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 25 tháng 7.[5]:290 Sau khi trở về Bắc Kinh, Tạ Phú Trị đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vũ khí quân sự cho các phe Hồng vệ binh thân cận với trung ương, bao gồm cả việc cấp 500 khẩu súng trường cho Công xã Tỉnh Cương Sơn của Đại học Sư phạm Bắc Kinh.[5]:289
Khi các cuộc nổi dậy lan rộng từ Thượng Hải ra khắp cả nước, toàn bộ quyền lực tại Bắc Kinh được chuyển giao cho một ủy ban cách mạng mới do Tạ Phú Trị làm chủ tịch. Ông được lựa chọn thay vì Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Lý Tuyết Phong, người bị cho là có lập trường thù địch với Hồng vệ binh. Đồng thời, ông cũng giữ chức Chính ủy thứ nhất Quân khu Bắc Kinh. Nhờ sự ủng hộ tích cực đối với Cách mạng Văn hóa, ông được bầu làm Ủy viên Ủy ban Trung ương khóa IX và Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương tại Đại hội Đảng lần thứ IX năm 1969. Đến năm 1971, khi Thành ủy Bắc Kinh được tái lập, ông được bổ nhiệm làm Bí thư thứ nhất Thành ủy Bắc Kinh.[1]
Cuối đời
Đầu năm 1972, Tạ Phú Trị qua đời tại Bắc Kinh vì ung thư dạ dày. Ngày 16 tháng 10 năm 1980, dựa trên báo cáo điều tra của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã khai trừ đảng tịch của Tạ Phú Trị, hủy bỏ điếu văn tưởng niệm ông và di dời tro cốt của ông ra khỏi Nghĩa trang Cách mạng Bát Bảo Sơn. Ngày 20 tháng 11 năm 1980, vụ án Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu, Giang Thanh bắt đầu được xét xử, Tạ Phú Trị bị phán là một trong những kẻ chủ mưu. Ngày 25 tháng 1 năm 1981, Tòa án đặc biệt của Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc xác nhận ông là chủ mưu chính trong Tập đoàn phản cách mạng này. Vì ông đã qua đời nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.[1]
Tham khảo
- ^ a b c d e f g h Lưu Hiển Tuấn; Điền Vi Bản (2004). 57 Thủ tướng và Phó Thủ tướng Trung Quốc (1949–1999). Đoàn Như Trác biên dịch. Hà Nội: Nxb. Công an Nhân dân. tr. 560–566.
- ^ Xinhui (ngày 16 tháng 5 năm 2008). "People's Liberation Army Order of Battle". China Defense. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2008.
- ^ "A review of the history of the second field army". English--People's Daily Online. ngày 20 tháng 11 năm 1989. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2023.
- ^ "Association for Asia Research- the perpetual victims and the momentum of victimization". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008.
- ^ a b Michael Schoenhals (2005). ""Why don't we arm the left?" Mao's culpability for the Cultural Revolution's "Great Chaos" of 1967". The China Quarterly. 182: 277–300. doi:10.1017/S0305741005000196. S2CID 144058908.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).