Tổng Thư ký NATO
Tổng thư ký NATO là viên chức dân sự cao nhất của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tổng thư ký là một nhà ngoại giao quốc tế, chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động của NATO, lãnh đạo đội ngũ nhân viên, chủ trì các cuộc họp của Hội đồng Bắc Đại Tây Dương và hầu hết các ủy ban chính của NATO (ngoại trừ Ủy ban Quân sự NATO) và là người phát ngôn của NATO. Tổng thư ký không có vai trò chỉ huy quân sự; các quyết định chính trị, quân sự và chiến lược cuối cùng thuộc về các nước thành viên. Tổng thư ký, chủ tịch Ủy ban Quân sự NATO và tư lệnh tối cao quân đồng minh châu Âu là những chức danh hàng đầu của NATO.
| Tổng Thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương | |
|---|---|
| Secrétaire général de l'OTAN (tiếng Pháp) | |
Biểu trưng NATO | |
| Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương | |
| Loại | |
| Viết tắt | NATO SecGen |
| Thành viên của | Hội đồng Bắc Đại Tây Dương |
| Trụ sở | Trụ sở NATO |
| Bổ nhiệm bởi | Các nước thành viên |
| Nhiệm kỳ | Bốn năm có thể được tái bổ nhiệm |
| Thành lập | 24 tháng 3 năm 1952 |
| Người đầu tiên giữ chức | Hastings Ismay, 1st Baron Ismay |
| Cấp phó | Phó Tổng Thư ký |
| Website | Office of the Secretary General |
Theo truyền thống, tổng thư ký NATO luôn là người châu Âu. Tổng thư ký đương nhiệm là Mark Rutte, cựu thủ tướng Hà Lan, nhậm chức vào ngày 1 tháng 10 năm 2024.[1]
Lịch sử
Hội đồng Bắc Đại Tây Dương được thành lập theo Điều 9 Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, yêu cầu các nước thành viên NATO "thành lập một Hội đồng gồm đại diện của mỗi nước."[2] Ban đầu, Hội đồng gồm các bộ trưởng ngoại giao của các nước thành viên và họp mỗi năm.[3] Tháng 5 năm 1950, các đại diện thường trực tại Luân Đôn được bổ nhiệm vào Hội đồng nhằm tăng cường phối hợp trong công việc hàng ngày và giám sát hoạt động của NATO. Các đại diện được trao toàn quyền quyết định trong Hội đồng, đồng thời họp không thường xuyên của các bộ trưởng ngoại giao NATO. Chủ tịch Hội đồng được giao nhiệm vụ "lãnh đạo tổ chức và công tác" của Hội đồng, bao gồm tất cả các cơ quan dân sự trực thuộc.[4]
Các đại diện Hội đồng họp lần đầu tiên vào ngày 25 tháng 7 năm 1950 và bầu Charles Spofford, đại diện của Hoa Kỳ, làm chủ tịch. Một số thay đổi về mặt tổ chức quan trọng nhanh chóng diễn ra sau khi Hội đồng trở thành một cơ quan thường trực, đáng chú ý nhất là việc thành lập một bộ tư lệnh thống nhất dưới quyền một tư lệnh tối cao quân đồng minh duy nhất. Sự thống nhất này và những thách thức ngày càng tăng mà NATO phải đối mặt dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của các thể chế của NATO. Năm 1951, NATO được cải tổ theo hướng tinh giản và tập trung hóa bộ máy hành chính. Các đại diện Hội đồng được trao quyền thay mặt các nước thành viên trong mọi lĩnh vực, bao gồm cả những lĩnh vực quốc phòng và tài chính, không chỉ là ngoại giao.
Khi quyền hạn của các đại diện gia tăng và quy mô của tổ chức phát triển, NATO thành lập Ủy ban Hội đồng Lâm thời, do W. Averell Harriman làm chủ tịch. Ủy ban Hội đồng Lâm thời thành lập một ban thư ký tại Paris để lãnh đạo bộ máy hành chính của NATO. Ủy ban cũng khuyến nghị rằng "các cơ quan của NATO cần được tăng cường và phối hợp", và đề xuất thiết lập một chức vụ khác ngoài chủ tịch Hội đồng Bắc Đại Tây Dương làm lãnh đạo cấp cao của NATO. Tháng 2 năm 1952, Hội đồng Bắc Đại Tây Dương thành lập chức vụ tổng thư ký để quản lý tất cả các cơ quan dân sự, đội ngũ nhân viên dân sự của NATO và phục vụ Hội đồng Bắc Đại Tây Dương.
Sau Hội nghị Lisboa, NATO bắt đầu tìm kiếm một người có thể đảm nhiệm vai trò tổng thư ký. Đại sứ Anh tại Hoa Kỳ Oliver Franks ban đầu được đề cử nhưng từ chối. Ngày 12 tháng 3 năm 1952, Hội đồng Bắc Đại Tây Dương chọn Đại tướng Anh Hastings Ismay, quốc vụ khanh phụ trách quan hệ Khối Thịnh vượng chung, làm tổng thư ký.[5] Khác với những tổng thư ký sau này giữ chức chủ tịch Hội đồng Bắc Đại Tây Dương, Ismay giữ chức phó chủ tịch Hội đồng, trong khi Spofford tiếp tục giữ chức chủ tịch. Ismay được chọn vì vai trò của ông trong Chiến tranh thế giới thứ hai và vì ông đã tháp tùng Churchill đến các hội nghị của Khối Đồng Minh. Là một quân nhân và một nhà ngoại giao, Ismay được coi là có năng lực vượt trội để làm tổng thư ký và được tất cả các thành viên NATO nhất trí ủng hộ.[6] Sau khi Spofford nghỉ hưu, cơ cấu tổ chức Hội đồng Bắc Đại Tây Dương được thay đổi: các thành viên Hội đồng luân phiên giữ chức chủ tịch Hội đồng (một vai trò chủ yếu mang tính nghi lễ) với nhiệm kỳ một năm, tổng thư ký chính thức trở thành phó chủ tịch Hội đồng và chủ trì các phiên họp Hội đồng. Ismay nghỉ hưu vào tháng 5 năm 1957.
Cựu thủ tướng Bỉ Paul-Henri Spaak được bầu chọn làm tổng thư ký thứ hai. Việc bầu chọn Spaak thể hiện "sự giảm bớt tầm quan trọng của khía cạnh quân sự" của NATO vì ông không có kinh nghiệm quân sự.[7] Khi xác nhận bổ nhiệm Spaak vào tháng 12 năm 1956, Hội đồng Bắc Đại Tây Dương cũng mở rộng vai trò của tổng thư ký. Sau khi Khủng hoảng Kênh đào Suez làm căng thẳng quan hệ nội bộ liên minh, Hội đồng thông qua một nghị quyết cho phép tổng thư ký "cung cấp sự hỗ trợ không chính thức bất cứ lúc nào cho các chính phủ thành viên liên quan đến tranh chấp và khởi xướng, tạo điều kiện thuận lợi cho các thủ tục điều tra, hòa giải, dàn xếp hoặc trọng tài với sự đồng ý của chính phủ thành viên."[8]
Danh sách tổng thư ký NATO
NATO bầu chọn tổng thư ký đầu tiên vào ngày 4 tháng 4 năm 1952. Tính đến năm 2016, đã có 12 tổng thư ký NATO. Bốn tổng thư ký là người Hà Lan, ba tổng thư ký là người Anh, hai tổng thư ký là người Bỉ và mỗi nước Ý, Đức, Tây Ban Nha, Đan Mạch và Na Uy có một tổng thư ký. Đã có ba lần một người giữ quyền tổng thư ký.
| No. | Hình | Họ tên | Nhậm chức | Rời chức | Thời gian tại nhiệm | Chức vụ trước | Quốc gia |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Đại tướng Hastings Ismay 1st Baron Ismay (1887–1965) | 24 tháng 3 năm 1952 | 16 tháng 5 năm 1957 | 5 năm, 53 ngày | Quốc vụ khanh phụ trách Quan hệ Khối Thịnh vượng chung | Vương quốc Anh | |
| 2 | Paul-Henri Spaak (1899–1972) | 16 tháng 5 năm 1957 | 21 tháng 4 năm 1961 | 3 năm, 340 ngày | Thủ tướng Bỉ | Bỉ | |
| 3 | Dirk Stikker (1897–1979) [a] | 21 tháng 4 năm 1961 | 1 tháng 8 năm 1964 | 3 năm, 102 ngày | Bộ trưởng Ngoại giao | Hà Lan | |
| 4 | Manlio Brosio (1897–1980) | 1 tháng 8 năm 1964 | 1 tháng 10 năm 1971 | 7 năm, 61 ngày | Đại sứ tại Vương quốc Anh | Ý | |
| 5 | Joseph Luns (1911–2002) | 1 tháng 10 năm 1971 | 25 tháng 6 năm 1984 | 12 năm, 268 ngày | Bộ trưởng Ngoại giao | Hà Lan | |
| 6 | Peter Carington 6th Baron Carrington (1919–2018) | 25 tháng 6 năm 1984 | 1 tháng 7 năm 1988 | 4 năm, 6 ngày | Bộ trưởng Ngoại giao và Thịnh vượng chung | Vương quốc Anh | |
| 7 | Manfred Wörner (1934–1994) [b] | 1 tháng 7 năm 1988 | 13 tháng 8 năm 1994 † | 6 năm, 43 ngày | Bộ trưởng Quốc phòng | Đức | |
| – | Sergio Balanzino (1934–2018) Quyền | 13 tháng 8 năm 1994 | 17 tháng 10 năm 1994 | 65 ngày | Phó Tổng Thư ký NATO | Ý | |
| 8 | Willy Claes (1938–) [c] | 17 tháng 10 năm 1994 | 20 tháng 10 năm 1995 | 1 năm, 3 ngày | Bộ trưởng Ngoại giao | Bỉ | |
| – | Sergio Balanzino (1934–2018) Quyền | 20 tháng 10 năm 1995 | 5 tháng 12 năm 1995 | 46 ngày | Phó Tổng Thư ký NATO | Ý | |
| 9 | Javier Solana (1942–) | 5 tháng 12 năm 1995 | 14 tháng 10 năm 1999 | 3 năm, 313 ngày | Bộ trưởng Ngoại giao | Tây Ban Nha | |
| 10 | George Robertson Baron Robertson of Port Ellen (1946–) [d] | 14 tháng 10 năm 1999 | 17 tháng 12 năm 2003 | 4 năm, 64 ngày | Bộ trưởng Quốc phòng | Vương quốc Anh | |
| – | Alessandro Minuto-Rizzo (1940–) Quyền | 17 December 2003 | 1 tháng 1 năm 2004 | 15 ngày | Phó Tổng Thư ký NATO | Ý | |
| 11 | Jaap de Hoop Scheffer (1948–) [e] | 1 tháng 1 năm 2004 | 1 tháng 8 năm 2009 | 5 năm, 212 ngày | Bộ trưởng Ngoại giao | Hà Lan | |
| 12 | Anders Fogh Rasmussen (1953–) | 1 tháng 8 năm 2009 | 1 tháng 10 năm 2014 | 5 năm, 61 ngày | Thủ tướng Đan Mạch | Đan Mạch | |
| 13 | Jens Stoltenberg (1959–) | 1 tháng 10 năm 2014 | 1 tháng 10 năm 2024 | 10 năm, 0 ngày | Thủ tướng Na Uy | Na Uy | |
| 14 | Mark Rutte (1967–) | 1 tháng 10 năm 2024 | Đương nhiệm | 1 năm, 313 ngày | Thủ tướng Hà Lan | Hà Lan |
Trách nhiệm
Tổng thư ký NATO là chủ tịch Hội đồng Bắc Đại Tây Dương và chủ trì một số cơ quan quyết định cấp cao của NATO. Tổng thư ký từng là chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Quốc phòng trước khi ủy ban này bị giải thể vào năm 2010 và chủ tịch Nhóm Kế hoạch Hạt nhân, hai tổ chức quân sự quan trọng của NATO. Tổng thư ký cũng lãnh đạo Hội đồng Đối tác châu Âu - Đại Tây Dương, Nhóm Hợp tác Địa Trung Hải và giữ chức đồng chủ tịch Hội đồng Liên hợp Thường trực và Ủy ban NATO-Ukraina.
Tổng thư ký lãnh đạo đội ngũ nhân viên của NATO và Văn phòng Tổng thư ký. Tổng thư ký cũng điều hành văn phòng riêng. Nhân sự của tất cả các cơ quan này đều do các thành viên NATO cung cấp, nên tổng thư ký phải phối hợp cẩn thận.[17] Phó tổng thư ký giúp tổng thư ký thực hiện nhiệm vụ, do NATO bổ nhiệm.
Bầu chọn
Không có quy trình chính thức nào để bầu chọn tổng thư ký. Theo truyền thống, các thành viên NATO bầu chọn tổng thư ký theo sự đồng thuận. Quy trình bầu chọn thường diễn ra thông qua các kênh ngoại giao không chính thức, nhưng vẫn có thể gây tranh cãi. Ví dụ, vào năm 2009, Thổ Nhĩ Kỳ phản đối việc bầu chọn Anders Fogh Rasmussen làm tổng thư ký.[18]
Theo truyền thống, tổng tư lệnh đồng minh tối cao châu Âu luôn là người Mỹ, trong khi tổng thư ký NATO luôn là người châu Âu.[19]
Danh sách phó tổng thư ký NATO
| # | Họ tên | Quốc gia | Nhiệm kỳ |
|---|---|---|---|
| 1 | Jonkheer van Vredenburch | Hà Lan | 1952–1956 |
| 2 | Baron Adolph Bentinck | 1956–1958 | |
| 3 | Alberico Casardi | Ý | 1958–1962 |
| 4 | Guido Colonna di Paliano | 1962–1964 | |
| 5 | James A. Roberts | Canada | 1964–1968 |
| 6 | Osman Esim Olcay | Thổ Nhĩ Kỳ | 1969–1971 |
| 7 | Paolo Pansa Cedronio | Ý | 1971–1978 |
| 8 | Rinaldo Petrignani | 1978–1981 | |
| 9 | Eric da Rin | 1981–1985 | |
| 10 | Marcello Guidi | 1985–1989 | |
| 11 | Amedeo de Franchis | 1989–1994 | |
| 12 | Sergio Balanzino | 1994–2001 | |
| 13 | Alessandro Minuto-Rizzo | 2001–2007 | |
| 14 | Claudio Bisogniero | 2007–2012 | |
| 15 | Alexander Vershbow | Hoa Kỳ | 2012–2016 |
| 16 | Rose Gottemoeller | 2016–2019 | |
| 17 | Mircea Geoană | Romania | 2019–2024 |
| 18 | Radmila Šekerinska | Bắc Macedonia | 2024–nay |
Xem thêm
Ghi chú
- ^ Stikker từ chức sớm một năm do kém sức khỏe.[9]
- ^ Wörner qua đời khi đang giữ chức vụ vào ngày 13 tháng 8 năm 1994 vì ung thư. Phó Tổng Thư ký Sergio Balanzino đảm nhận các công việc thường nhật của ông trong vài tháng cuối đời và sau đó giữ quyền Tổng Thư ký khi ông qua đời cho đến khi Willy Claes được bầu chọn.[10]
- ^ Claes từ chức sau một vụ bê bối hối lộ từ thời ông tham gia nội các Bỉ vào thập niên 1980. Sau khi ông từ chức, Phó Tổng Thư ký Sergio Balanzino giữ quyền Tổng Thư ký cho đến khi Javier Solana được bổ nhiệm.[11]
- ^ Tháng 1 năm 2003, George Robertson tuyên bố sẽ từ chức vào tháng 12.[12] Jaap de Hoop Scheffer được bầu chọn làm người kế nhiệm, nhưng chỉ nhậm chức vào tháng 1 năm 2004 do ông đang công tác trong Quốc hội Hà Lan.[13] Robertson được yêu cầu tiếp tục giữ chức vụ cho đến khi Scheffer có thể nhậm chức, nhưng từ chối, nên Phó Tổng Thư ký Minuto-Rizzo giữ quyền Tổng Thư ký.
- ^ Scheffer được chọn làm Tổng Thư ký NATO từ ngày 1 tháng 1 năm 2004,[14] nhưng nhậm chức vào ngày 5 tháng 1 năm 2004.[15][16]
Tham khảo
- ^ Foy, Henry (ngày 20 tháng 6 năm 2024). "Mark Rutte clears last hurdle for Nato top job". Financial Times. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2024.
- ^ "The North Atlantic Treaty".
- ^ Ismay, Lord. "NATO-The first 5 years 1949-1954". tr. 24.
- ^ "15th - 18th May: London". NATO Final Communiques 1949-1974. NATO Information Service. tr. 56.
- ^ "Resolution on the Appointement of Lord Ismay".
- ^ Daniel, Clifton (ngày 13 tháng 3 năm 1952). "Ismay Named Civilian Chief of Atlantic Pact Organization". The New York Times.
- ^ "Spaak for Ismay". The Washington Post. ngày 16 tháng 12 năm 1956.
- ^ "11th-14th December: Paris". NATO Final Communiques 1949-1974. NATO Information Service. tr. 104.
- ^ Cook, Don (ngày 3 tháng 4 năm 1964). "Resignation announced by Stikker". The Washington Post.
- ^ Marshall, Andrew (ngày 15 tháng 8 năm 1994). "Hunt is on to find new Nato chief". The Independent. London. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
- ^ Whitney, Craig (ngày 21 tháng 10 năm 1995). "Facing Charges, NATO Head Steps Down". The New York Times. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
- ^ Smith, Craig (ngày 23 tháng 1 năm 2003). "NATO Secretary General to Leave His Post in December After 4 Years". The New York Times. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
- ^ "Jaap de Hoop Scheffer". Newsmakers. Số 1. Thomson Gale. ngày 1 tháng 1 năm 2005.
- ^ Crouch, Gregory (ngày 23 tháng 9 năm 2003). "NATO Names a Dutchman To Be Its Secretary General". The New York Times. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
- ^ "NATO Chief Steps Down". The New York Times. ngày 18 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
- ^ Crouch, Gregory (ngày 6 tháng 1 năm 2004). "New NATO Chief Takes Over". The New York Times. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
- ^ "Civilian Organisation and Structures: The Secretary General". www.nato.int.
- ^ Kardas, Saban. "Ankara Debates Rasmussen's Candidacy for NATO Secretary-General". The Jamestown Foundation.
- ^ "NATO Secretary General: How is he or she selected and for how long".
- ^ "NATO Who's who? – Deputy Secretaries General of NATO". NATO. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2012.
Thư mục
- Brosio, Manlio (1969). NATO: Facts and Figures. NATO Information Service.
- Ismay, Hastings (1954). NATO: The First Five Years. NATO.
- Fedder, Edwin (1973). NATO:The Dynamics of the Alliance in the Postwar World. Dodd, Mead & Company. ISBN 0-396-06621-6.
- "Fonds. NATO Secretary General". NATO.
Liên kết ngoài
- Dataset: the NATO Secretary General Document (NATO-SGD) Corpus
- Tư liệu liên quan tới [[commons:Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataIB tại dòng 473: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).|Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataIB tại dòng 473: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).]] tại Wikimedia Commons
- Website chính thức