Tự kỷ (tiếng Anh: autism), còn được biết với tên gọi rối loạn phổ tự kỷ (tiếng Anh: autism spectrum disorder; ASD)[lower-alpha 1] là một tình trạng đặc trưng bởi sự suy giảm trong giao tiếp và tương tác xã hội[4][1] cũng như sự khác biệt trong nhu cầu, sở thích, thói quen, khác biệt trong xử lý cảm giác, sở thích tập trung hoặc hành vi lặp đi lặp lại. Các biểu hiện của chứng tự kỷ xuất hiện từ thời thơ ấu và thường kéo dài suốt đời[5][6]. Tự kỷ được phân loại là một dạng rối loạn phát triển thần kinh[7] và việc chẩn đoán đòi hỏi phải có sự đánh giá chuyên môn để xác định xem những đặc điểm này có gây ra những thách thức đáng kể trong cuộc sống hàng ngày, vượt quá mức bình thường dựa trên độ tuổi và môi trường xã hội của người đó hay không[8][9][10][4]. Vì tự kỷ là một rối loạn phổ rộng, các biểu hiện rất đa dạng và nhu cầu hỗ trợ cũng khác nhau, từ hỗ trợ tối thiểu đến chăm sóc toàn thời gian 24/24[9][4][11][12].

Tự kỷ
Tự kỷ có nhiều biểu hiện khác nhau trên khắp thế giới. Từ trái sang phải, từ trên xuống dưới: một em bé tự kỷ đang xếp lon; một vận động viên trượt băng nghệ thuật tự kỷ đang thi đấu; một đứa trẻ sử dụng bàn tính tại trường học do Trung tâm Tự kỷ Somalia điều hành; và Donald Triplett, một nhân viên ngân hàng, người đầu tiên được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ.
Chuyên khoa{{#statements:P1995}}
Triệu chứngGặp khó khăn trong giao tiếp xã hội, giao tiếp bằng lời nói và phi ngôn ngữ; thói quen cứng nhắc; sở thích tập trung; cử động cơ thể lặp đi lặp lại; phản ứng cảm giác bất thường
Khởi phát thông thườngKhoảng thời gian thơ ấu
Nguyên nhânDi truyền và một số yếu tố khác.
Yếu tố nguy cơTiền sử gia đình, một số bệnh di truyền, cha mẹ lớn tuổi, một số loại thuốc được kê đơn, các vấn đề sức khỏe trước và sau sinh.
Phương pháp chẩn đoánKết hợp giữa quan sát lâm sàng về hành vi và sự phát triển cùng với các xét nghiệm chẩn đoán toàn diện được thực hiện bởi một nhóm các chuyên gia có trình độ. Đối với người lớn, sử dụng tiền sử bệnh tự kỷ bằng văn bản và lời kể của bệnh nhân quan trọng hơn quan sát lâm sàng.
Chẩn đoán phân biệtRối loạn tăng động giảm chú ý, thiểu năng trí tuệ, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn giao tiếp xã hội (thực dụng), chứng câm chọn lọc, rối loạn vận động rập khuôn, hội chứng Rett, rối loạn lo âu, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, tâm thần phân liệt, hội chứng fragile X, rối loạn nhân cách[1].
Điều trị/Kiểm soátPhân tích hành vi ứng dụng, liệu pháp hành vi nhận thức, phục hồi chức năng, bệnh lý ngôn ngữ nói.
Tần suất1/100 người (1%) trên thế giới [2][3]
Patient UKTự kỷ

Chẩn đoán tự kỷ tại Mĩ tăng đáng kể vào những năm 1980 phần lớn là do mở rộng tiêu chí chẩn đoán, nhận thức cao hơn và khả năng tiếp cận đánh giá rộng rãi hơn[2]. Những thay đổi về nhu cầu xã hội cũng có thể đóng một vai trò nhất định trong việc gia tăng chẩn đoán[13][14]. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng cứ 100 trẻ em sẽ có 1 trẻ được chẩn đoán hội chứng này trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021, và nhận thấy xu hướng này đang gia tăng[lower-alpha 2][2][3]. Các nghiên cứu giám sát cho thấy một nhóm dân số trưởng thành sẽ đáp ứng đủ các tiêu chí chẩn đoán nếu được đi khám[15]. Tự kỷ có tính di truyền cao và liên quan đến nhiều mã gen, trong khi các yếu tố môi trường dường như đóng vai trò nhỏ hơn, chủ yếu là trong giai đoạn trước khi sinh[16][17][18][19]. Trẻ trai được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ nhiều hơn trẻ gái gấp nhiều lần, trong khi trẻ gái lại giỏi che giấu các đặc điểm tự kỷ hơn[2][20][21]. Các chứng bệnh như lo âu, trầm cảm, rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), động kinh, thiểu năng trí tuệ, và khả năng thuộc cộng đồng LGBTQIA+ thường gặp hơn ở người tự kỷ[22][23][24]. Một số khả năng thiên bẩm cũng phổ biến hơn ở người tự kỷ so với các nhóm người khác[25].

Không có cách nào để chữa tự kỷ[26]. Không có loại thuốc nào giải quyết được các đặc điểm cốt lõi của chứng tự kỷ, nhưng một số loại thuốc được sử dụng để giúp kiểm soát các tình trạng thường đi kèm, chẳng hạn như lo âu, trầm cảm, cáu gắt, ADHD và động kinh[27][28]. Việc giảm thiểu các rào cản về môi trường và xã hội giúp người tự kỷ tham gia đầy đủ hơn vào giáo dục, việc làm và các khía cạnh khác của cuộc sống[29][30][31].

Khuôn khổ đa dạng thần kinh vốn coi các đặc điểm của chứng tự kỷ là một biến thể lành mạnh của tình trạng con người, nên việc coi tự kỷ là một chứng rối loạn đã đã thu hút rất nhiều sự chú ý[32]. Góc nhìn này, tuy được thúc đẩy bởi phong trào quyền của người tự kỷ và thu hút được sự chú ý ngày càng tăng của giới nghiên cứu[33] nhưng vẫn còn gây tranh cãi giữa những người tự kỷ, các nhóm vận động, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các tổ chức từ thiện[34][35].

Dấu hiệu và đặc điểm

Tự kỷ chủ yếu là sự khác biệt và khó khăn trong tương tác xã hội và giao tiếp, cùng với sở thích, hoạt động hoặc hành vi hạn chế hoặc lặp đi lặp lại (tự kích thích), và trong nhiều trường hợp, phản ứng đặc biệt đối với các kích thích giác quan. Biểu hiện cụ thể rất đa dạng[36][37]. Các bác sĩ lâm sàng thường đánh giá chứng tự kỷ dựa trên những đặc điểm này, đặc biệt nếu chúng đi kèm với khó khăn trong việc tìm kiếm, duy trì công việc hoặc học tập, khó khăn trong việc bắt đầu hoặc duy trì các mối quan hệ xã hội, hoặc tiền sử mắc các bệnh lý phát triển thần kinh (bao gồm khó khăn trong học tập và ADHD) hoặc các bệnh lý sức khỏe tâm thần[38][39]. Trong hầu hết các trường hợp, các dấu hiệu của chứng tự kỷ thường được nhận biết ở giai đoạn sơ sinh hoặc đầu thời thơ ấu và tồn tại suốt đời[40]. Người tự kỷ có thể bị khiếm khuyết đáng kể ở một số khía cạnh, nhưng lại bình thường—hoặc, trong một số trường hợp, vượt trội—ở những khía cạnh khác[41][42][43].

Phát triển xã hội

Thâm hụt xã hội phân biệt tự kỷ và những chứng rối loạn phổ tự kỷ có liên quan từ các chứng rối loạn phát triển khác.[44] Người bị tự kỷ có sự khiếm khuyết về mặt xã hội và thường thiếu trực giác về những người khác mà nhiều người công nhận như vậy. Một người mắc chứng tự kỷ là Temple Grandin mô tả sự bất lực của cô để hiểu những giao tiếp xã hội bình thường, hoặc những người có thần kinh phát triển bình thường, khiến cô có cảm giác như "một nhà nhân chủng học trên sao hỏa".[45]

Giao tiếp

Khoảng một phần ba cho đến một nửa số người tự kỷ không phát triển đủ ngôn ngữ tự nhiên để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp thường ngày.[46] Trẻ mắc chứng tự kỷ thường ít khả năng thực hiện những yêu cầu hoặc chia sẻ kinh nghiệm, và chỉ có thể lặp đi lặp lại đơn giản lời nói của người khác (nhại lời)[47][48] hoặc đảo ngược lại.[49] Trao đổi hai chiều có thể cần thiết cho hoạt động nói, và thiếu sự chú tâm, trao đổi hai chiều dường như để phân biệt với người bị ASD; chẳng hạn, họ có thể nhìn tập trung vào bàn tay thay vì nhìn vào đối tượng,[48][50] họ luôn thất bại để chỉ vào đối tượng để nêu ý kiến hoặc chia sẻ một kinh nghiệm.[51] Trẻ tự kỉ có thể gặp khó khăn với trò chơi giàu trí tưởng tượng và phát triển biểu tượng thành ngôn ngữ.[47][48]

Nguyên nhân

Three diagrams of chromosome pairs A, B that are nearly identical. 1: B is missing a segment of A. 2: B has two adjacent copies of a segment of A. 3: B's copy of A's segment is in reverse order.
Xóa (1), sao chép (2) và đảo ngược (3) đều là những nhiễm sắc thể bất thường liên quan đến bệnh tự kỷ.[52]

Từ lâu bệnh tự kỷ được coi là có một nguyên nhân phổ biến ở các mức độ di truyền, nhận thức và thần kinh đối với bộ ba triệu chứng của bệnh tự kỷ.[53] Tuy nhiên ngày càng có nhiều nghi ngờ rằng tự kỷ thay vì là một chứng rối loạn phức tạp có những khía cạnh cốt lõi, nó lại có những nguyên nhân riêng biệt thường xảy ra cùng một lúc.[53][54]

Tự kỷ có một cơ sở di truyền mạnh, mặc dù những nguồn gốc của bệnh rất phức tạp và không rõ liệu ASD có được giải thích thêm bởi những đột biến hiếm với những ảnh hưởng lớn, hay bởi các tương tác của gen trội trong những biến thể di truyền phổ biến.[55][56] Sự phức tạp nảy sinh bởi tương tác giữa nhiều gen, môi trường và những yếu tố biểu sinh không làm thay đổi trình tự DNA nhưng lại di truyền và gây ảnh hưởng lên biểu hiện gen.[44] Nhiều gen có liên quan đến bệnh tự kỷ thông qua trình tự bộ gen trong những cá nhân bị nhiễm và bố mẹ chúng.[57]

Cơ chế

Triệu chứng của tự kỷ là hệ quả của những thay đổi liên quan đến sự trưởng thành trong các hệ thống khác nhau của não.[58] Cách tự kỷ xảy ra vẫn chưa được hiểu rõ. Cơ chế của nó có thể chia làm ba khu vực: Sinh lý bệnh của cấu trúc và quá trình của não liên quan đến tự kỷ, và mối liên hệ tâm thần học giữa cấu trúc não và các hành vi.[58] Các hành vi xuất hiện để có nhiều sinh lý bệnh.[59]

Sinh lý bệnh

Two diagrams of major brain structures implicated in autism. The upper diagram shows the cerebral cortex near the top and the basal ganglia in the center, just above the amygdala and hippocampus. The lower diagram shows the corpus callosum near the center, the cerebellum in the lower rear, and the brain stem in the lower center.
Tự kỷ ảnh hưởng đến hạch hạnh nhân, tiểu não và nhiều phần khác trong bộ não.[60]

Không giống như nhiều chứng rối loạn não khác như bệnh Parkinson, tự kỷ không có cơ chế thống nhất rõ ràng; nhiều người không biết rằng liệu tự kỷ là một vài rối loạn do những đột biến gây ra, hội tụ trên một vài đường phân tử phổ biến, hoặc là (khuyết tật trí tuệ) một tập lớn những rối loạn với nhiều cơ chế khác nhau.[61] Tự kỷ xuất hiện là hệ quả từ những tác động phát triển ảnh hưởng nhiều đến tất cả hệ thống chức năng não,[62] đồng thời làm lộn xộn thời gian phát triển của não hơn so với sản phẩm cuối cùng.[60] Những nghiên cứu về cấu trúc của hệ thần kinh và sự kết hợp tác nhân sinh quái thai đã gợi ý nhiệt tình rằng cơ chế của Tự kỷ, bao gồm sự thay đổi phát triển ở não ngay sau khi thụ thai.[63] Trường hợp bất thường này xuất hiện để bắt đầu một chuỗi các trường hợp bệnh lý trong não, bị ảnh hưởng đáng kể bởi yếu tố môi trường.[64] Người ta không biết rằng liệu sự phát triển quá mức có xảy ra ở tất cả những trẻ mắc chứng tự kỷ hay không. Có vẻ như khu vực nổi bật nhất trong các vùng não là cơ sở để phát triển nhận thức chuyên môn cao hơn.[65]

Hai thể loại chính của thuyết nhận thức đã được đề xuất về liên kết giữa bộ não tự kỷ và hành vi. Thuyết não của loài người mở rộng đưa ra giả thuyết rằng tự kỷ là một trường hợp cuối cùng trong não của con người, định nghĩa theo đo nghiệm tinh thần là những cá nhân đang hệ thống hóa hơn là đang thấu hiểu. Thuyết giả thiết tâm trí được hỗ trợ bởi những phản ứng điển hình của trẻ tự kỷ đến bài kiểm tra Sally–Anne để kết luận về động cơ của những người khác,[66] và thuyết hệ thống gương nơron miêu tả tốt trong các bản đồ sinh lý bệnh đối với giả thuyết.[67] Tuy nhiên hầu hết nghiên cứu đều không tìm thấy bằng chứng về sự suy giảm trong những cá nhân tự kỷ để hiểu ý định cơ bản của người khác; thay vào đó, hệ thống cho biết sự suy giảm được phát hiện trong sự hiểu biết có cảm xúc xã hội hoặc xem xét quan điểm của người khác.[68]

Trí tuệ

Thông thường trẻ tự kỷ sẽ chậm phát triển so với bạn bè cùng trang lứa, một số trường hợp khác lại có khả năng đặc biệt và trí nhớ tốt như nhớ các đồ vật, làm tính giỏi, nhiều thiên tài "siêu trí tuệ" nổi tiếng trên thế giới mắc tự kỷ như: Albert Einstein, Isaac Newton hay Michelangelo...

Ghi chú

  1. ^ Đây là thuật ngữ y khoa dùng để chẩn đoán chính thức. Xem thêm tại § Phân loại.
  2. ^ Con số này phản ánh tỷ lệ đánh giá thấp chẩn đoán ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.

Tham khảo

  1. ^ a ă DSM-5-TR.
  2. ^ a ă â b Zeidan, Jinan; Fombonne, Eric; Scorah, Julie; Ibrahim, Alaa; Durkin, Maureen S.; Saxena, Shekhar; Yusuf, Afiqah; Shih, Andy; Elsabbagh, Mayada (ngày 15 tháng 5 năm 2022). "Global prevalence of autism: A systematic review update". Autism Research. 15 (5): 778–790. doi:10.1002/aur.2696. PMC 9310578. PMID 35238171.
  3. ^ a ă "Autism". World Health Organization (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2022.
  4. ^ a ă â ICD-11.
  5. ^ Whiteley, Paul; Carr, Kevin; Shattock, Paul (ngày 7 tháng 10 năm 2019). "Is Autism Inborn And Lifelong For Everyone?". Neuropsychiatric Disease and Treatment (bằng tiếng English). 15: 2885–2891. doi:10.2147/NDT.S221901. PMC 6789180. PMID 31632036.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. ^ Steinhausen, H.-C.; Mohr Jensen, C.; Lauritsen, M. B. (ngày 13 tháng 1 năm 2016). "A systematic review and meta-analysis of the long-term overall outcome of autism spectrum disorders in adolescence and adulthood". Acta Psychiatrica Scandinavica. 133 (6): 445–452. doi:10.1111/acps.12559. PMID 26763353.
  7. ^ Kamp-Becker, Inge (tháng 3 năm 2024). "Autism spectrum disorder in ICD-11—a critical reflection of its possible impact on clinical practice and research". Molecular Psychiatry (bằng tiếng Anh). 29 (3): 633–638. doi:10.1038/s41380-023-02354-y. PMC 11153155. PMID 38273107. In DSM-5 as well as in ICD-11, ASD is assigned to the category "neurodevelopmental disorders", characterized by impairments in cognition, communication, behavior and/or motor skills resulting from abnormal brain development. [Trong DSM-5 cũng như ICD-11, rối loạn phổ tự kỷ (ASD) được xếp vào loại "rối loạn phát triển thần kinh", triệu chứng là suy giảm về nhận thức, giao tiếp, hành vi và/hoặc kỹ năng vận động do sự phát triển não bộ bất thường.]
  8. ^ "Autism spectrum disorder in under 19s: support and management". UK National Institute for Health & Care Excellence. ngày 28 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2026. Updated 14 June 2021{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: postscript (liên kết)
  9. ^ a ă "DSM-5 Diagnostic Criteria". Interagency Autism Coordinating Committee. 2016. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2024.
  10. ^ Fuentes J, Hervás A, Howlin P, ESCAP ASD Working Party (2020). "ESCAP practice guidance for autism: a summary of evidence‑based recommendations for diagnosis and treatment" (PDF). European Child & Adolescent Psychiatry. 30 (6): 961–984. doi:10.1007/s00787-020-01587-4. PMC 8140956. PMID 32666205.
  11. ^ Waizbard-Bartov, Einat; Fein, Deborah; Lord, Catherine; Amaral, David G. (2023). "Autism severity and its relationship to disability". Autism Research (bằng tiếng Anh). 16 (4): 685–696. doi:10.1002/aur.2898. PMC 10500663. PMID 36786314.
  12. ^ Zhuang H, Liang Z, Ma G, Qureshi A, Ran X, Feng C, Liu X, Yan X, Shen L (2024). "Autism spectrum disorder: Pathogenesis, biomarker, and intervention therapy". Medcomm. 5 (3) e497. doi:10.1002/mco2.497. PMC 10908366. PMID 38434761.
  13. ^ Anderson-Chavarria, Melissa (ngày 14 tháng 9 năm 2022). "The autism predicament: models of autism and their impact on autistic identity". Disability & Society. 37 (8): 1321–1341. doi:10.1080/09687599.2021.1877117.
  14. ^ Ogundele, Michael O.; Morton, Michael J. S. (ngày 3 tháng 4 năm 2025). "Subthreshold Autism and ADHD: A Brief Narrative Review for Frontline Clinicians". Pediatric Reports. 17 (2): 42. doi:10.3390/pediatric17020042. PMC 12030661. PMID 40278522.
  15. ^ Hirota, Tomoya; King, Bryan H. (ngày 10 tháng 1 năm 2023). "Autism Spectrum Disorder: A Review". JAMA. 329 (2): 157–168. doi:10.1001/jama.2022.23661. PMID 36625807.
  16. ^ Tick, Beata; Bolton, Patrick; Happé, Francesca; Rutter, Michael; Rijsdijk, Frühling (2016). "Heritability of autism spectrum disorders: a meta-analysis of twin studies". Journal of Child Psychology and Psychiatry (bằng tiếng Anh). 57 (5): 585–595. doi:10.1111/jcpp.12499. PMC 4996332. PMID 26709141.
  17. ^ Hodges, Holly; Fealko, Casey; Soares, Neelkamal (tháng 2 năm 2020). "Autism spectrum disorder: definition, epidemiology, causes, and clinical evaluation". Translational Pediatrics. 9 (Suppl 1): S55–S5S65. doi:10.21037/tp.2019.09.09. PMC 7082249. PMID 32206584.
  18. ^ Ratajczak, Helen V. (tháng 3 năm 2011). "Theoretical aspects of autism: Causes—A review". Journal of Immunotoxicology. 8 (1): 68–79. doi:10.3109/1547691X.2010.545086. PMID 21299355.
  19. ^ Mandy W, Lai MC (tháng 3 năm 2016). "Annual Research Review: The role of the environment in the developmental psychopathology of autism spectrum condition". Journal of Child Psychology and Psychiatry, and Allied Disciplines. 57 (3): 271–292. doi:10.1111/jcpp.12501. OCLC 01307942. PMID 26782158.
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Loomes-2017
  21. ^ Alaghband-rad, Javad; Hajikarim-Hamedani, Arman; Motamed, Mahtab (2023). "Camouflage and masking behavior in adult autism". Frontiers in Psychiatry. 14 (16) 1108110. doi:10.3389/fpsyt.2023.1108110. PMC 10060524. PMID 37009119.
  22. ^ Bertelli, Marco O.; Azeem, Muhammad Waqar; Underwood, Lisa; Scattoni, Maria Luisa; Persico, Antonio M.; Ricciardello, Arianna; Sappok, Tanja; Bergmann, Thomas; Keller, Roberto; Bianco, Annamaria; Corti, Serafino; Miselli, Giovanni; Lassi, Stefano; Croce, Luigi; Bradley, Elspeth; Munir, Kerim (2022). [[[:Bản mẫu:GBurl]] "Autism Spectrum Disorder"]. Textbook of Psychiatry for Intellectual Disability and Autism Spectrum Disorder. tr. 369–455. doi:10.1007/978-3-319-95720-3_16. ISBN 978-3-319-95719-7. tr. 391: Persons with autism spectrum disorder and/or other neurodevelopmental problems are more likely than the general population to have transgender identity, non-heterosexual sexual orientation, and other gender non-conformities. {{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị |chapter-url= (trợ giúp)
  23. ^ Lord, Catherine; Charman, Tony; Havdahl, Alexandra; Carbone, Paul; Anagnostou, Evdokia; Boyd, Brian; Carr, Themba; de Vries, Petrus J; Dissanayake, Cheryl; Divan, Gauri; và đồng nghiệp (2022). "The Lancet Commission on the future of care and clinical research in autism". The Lancet. 399 (10321): 299–300. doi:10.1016/s0140-6736(21)01541-5. hdl:11250/2975811. PMID 34883054.
  24. ^ Graham Holmes, Laura; Ames, Jennifer L.; Massolo, Maria L.; Nunez, Denise M.; Croen, Lisa A. (tháng 4 năm 2022). "Improving the Sexual and Reproductive Health and Health Care of Autistic People". Pediatrics. 149 (Supplement 4). American Academy of Pediatrics: e2020049437J. doi:10.1542/peds.2020-049437J. PMID 35363286. A substantial proportion of autistic adolescents and adults are LGBTQIA+. Autistic people are more likely to be transgender or gender nonconforming compared with non-autistic people, and findings from a recent autism registry study suggest that among autistic people able to self-report on a survey, up to 18% of men and 43% of women may be sexual minorities.
  25. ^ Happé, Francesca (2018). "Why are savant skills and special talents associated with autism?". World Psychiatry. 17 (3): 280–281. doi:10.1002/wps.20552. PMC 6127767. PMID 30192091.
  26. ^ "Fake and harmful autism 'treatments'". nhs.uk (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2022.
  27. ^ "Medication Treatment for Autism". National Institute of Child Health and Human Development (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2023.
  28. ^ Rzepka-Migut, Beata; Paprocka, Justyna (2020). "Efficacy and Safety of Melatonin Treatment in Children with Autism Spectrum Disorder and Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder—A Review of the Literature". Brain Sciences. 10 (4): 219. doi:10.3390/brainsci10040219. PMC 7226342. PMID 32272607.
  29. ^ Mukerji, Cora; Mottron, Laurent; McPartland, James C. (2013), "Enhanced Perceptual Functioning", trong Volkmar, Fred R. (biên tập), Encyclopedia of Autism Spectrum Disorders (bằng tiếng Anh), New York: Springer, tr. 1117–1118, doi:10.1007/978-1-4419-1698-3_723, ISBN 978-1-4419-1698-3
  30. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Doyle-2020
  31. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Doherty-2023
  32. ^ Kapp, Steven K. Autistic community and the neurodiversity movement: Stories from the frontline. Springer Nature, 2020.
  33. ^ Happé, Francesca; Frith, Uta (2020). "Annual Research Review: Looking back to look forward - changes in the concept of autism and implications for future research". Journal of Child Psychology and Psychiatry, and Allied Disciplines. 61 (3): 218–232. doi:10.1111/jcpp.13176. PMID 31994188.
  34. ^ Zamzow, Rachel (ngày 7 tháng 2 năm 2023). "Disorder or difference? Autism researchers face off over field's terminology". Science. doi:10.1126/science.adh0585.
  35. ^ Rodríguez Mega, Emiliano (ngày 10 tháng 5 năm 2023). "'I am not a broken version of normal' — autistic people argue for a stronger voice in research". Nature. 617 (7960): 238–241. doi:10.1038/d41586-023-01549-1. PMID 37165246.
  36. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên www.canada.ca-2025
  37. ^ "What is Autism Spectrum Disorder?". Centers for Disease Control and Prevention. ngày 25 tháng 3 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2021.
  38. ^ Autism spectrum disorder in adults: diagnosis and management, NICE, ngày 14 tháng 6 năm 2021, CG142, lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2023, truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2021
  39. ^ "About autism spectrum disorder (ASD)". Government of Canada (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2021.
  40. ^ F84
  41. ^ Loukusa S (2021). "Autism Spectrum Disorder". Trong Cummings L (biên tập). Handbook of Pragmatic Language Disorders. Cham, Switzerland: Springer. tr. 45–78. doi:10.1007/978-3-030-74985-9_3. ISBN 978-3-030-74984-2. OCLC 1269056169.
  42. ^ Pinel JP (2011). Biopsychology (ấn bản thứ 8). Boston, Massachusetts: Pearson. tr. 235. ISBN 978-0-205-03099-6. OCLC 1085798897.
  43. ^ Hollander E, Hagerman R, Fein D, biên tập (2018). "Cognitive Assessment". Autism Spectrum Disorders. American Psychiatric Association. doi:10.1176/appi.books.9781615371921. ISBN 978-1-61537-192-1.
  44. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Rapin
  45. ^ Sacks O (1995). An Anthropologist on Mars: Seven Paradoxical Tales. Knopf. ISBN 978-0-679-43785-7.
  46. ^ Noens I, van Berckelaer-Onnes I, Verpoorten R, van Duijn G (2006). "The ComFor: an instrument for the indication of augmentative communication in people with autism and intellectual disability". J Intellect Disabil Res. Quyển 50 số 9. tr. 621–32. doi:10.1111/j.1365-2788.2006.00807.x. PMID 16901289.
  47. ^ a ă Landa R (2007). "Early communication development and intervention for children with autism". Ment Retard Dev Disabil Res Rev. Quyển 13 số 1. tr. 16–25. doi:10.1002/mrdd.20134. PMID 17326115.
  48. ^ a ă â Tager-Flusberg H, Caronna E (2007). "Language disorders: autism and other pervasive developmental disorders". Pediatr Clin North Am. Quyển 54 số 3. tr. 469–81. doi:10.1016/j.pcl.2007.02.011. PMID 17543905.
  49. ^ Kanner L (1943). "Autistic disturbances of affective contact". Nerv Child. Quyển 2. tr. 217–50. Reprinted in Kanner L (1968). "Autistic disturbances of affective contact". Acta Paedopsychiatr. Quyển 35 số 4. tr. 100–36. PMID 4880460.
  50. ^ Handbook of Autism and Pervasive Developmental Disorders, Assessment, Interventions, and Policy. John Wiley & Sons. 2014. tr. 301. ISBN 1-118-28220-5. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |authors= (trợ giúp)
  51. ^ Johnson CP, Myers SM (2007). "Identification and evaluation of children with autism spectrum disorders". Pediatrics. Quyển 120 số 5. tr. 1183–215. doi:10.1542/peds.2007-2361. PMID 17967920. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2009.
  52. ^ Beaudet AL (2007). "Autism: highly heritable but not inherited". Nat Med. Quyển 13 số 5. tr. 534–6. doi:10.1038/nm0507-534. PMID 17479094.
  53. ^ a ă Happé F, Ronald A (2008). "The 'fractionable autism triad': a review of evidence from behavioural, genetic, cognitive and neural research". Neuropsychol Rev. Quyển 18 số 4. tr. 287–304. doi:10.1007/s11065-008-9076-8. PMID 18956240.
  54. ^ Happé F, Ronald A, Plomin R (2006). "Time to give up on a single explanation for autism". Nature Neuroscience. Quyển 9 số 10. tr. 1218–20. doi:10.1038/nn1770. PMID 17001340.
  55. ^ Abrahams BS, Geschwind DH (2008). "Advances in autism genetics: on the threshold of a new neurobiology". Nature Reviews Genetics. Quyển 9 số 5. tr. 341–55. doi:10.1038/nrg2346. PMC 2756414. PMID 18414403.
  56. ^ Buxbaum JD (2009). "Multiple rare variants in the etiology of autism spectrum disorders". Dialogues Clin Neurosci. Quyển 11 số 1. tr. 35–43. PMC 3181906. PMID 19432386.
  57. ^ Sanders, Stephan J.; He, Xin; Willsey, A. Jeremy; Ercan-Sencicek, A. Gulhan; Samocha, Kaitlin E.; Cicek, A. Ercument; Murtha, Michael T.; Bal, Vanessa H.; Bishop, Somer L.; Dong, Shan; Goldberg, Arthur P.; Jinlu, Cai; Keaney, John F.; Klei, Lambertus; Mandell, Jeffrey D.; Moreno-De-Luca, Daniel; Poultney, Christopher S.; Robinson, Elise B.; Smith, Louw; Solli-Nowlan, Tor; Su, Mack Y.; Teran, Nicole A.; Walker, Michael F.; Werling, Donna M.; Beaudet, Arthur L.; Cantor, Rita M.; Fombonne, Eric; Geschwind, Daniel H.; Grice, Dorothy E.; Lord, Catherine; Lowe, Jennifer K.; Mane, Shrikant M.; Martin, Donna M.; Morrow, Eric M.; Talkowski, Michael E.; Sutcliffe, James S.; Walsh, Christopher A.; Yu, Timothy W.; Ledbetter, David H.; Martin, Christa Lese; Cook, Edwin H.; Buxbaum, Joseph D.; Daly, Mark J.; Devlin, Bernie; Roeder, Kathryn; State, Matthew W. (tháng 9 năm 2015). "Insights into Autism Spectrum Disorder Genomic Architecture and Biology from 71 Risk Loci". Neuron. Quyển 87 số 6. tr. 1215–1233. doi:10.1016/j.neuron.2015.09.016. PMC 4624267. PMID 26402605.
  58. ^ a ă Penn HE (2006). "Neurobiological correlates of autism: a review of recent research". Child Neuropsychol. Quyển 12 số 1. tr. 57–79. doi:10.1080/09297040500253546. PMID 16484102.
  59. ^ London E (2007). "The role of the neurobiologist in redefining the diagnosis of autism". Brain Pathol. Quyển 17 số 4. tr. 408–11. doi:10.1111/j.1750-3639.2007.00103.x. PMID 17919126.
  60. ^ a ă Amaral DG, Schumann CM, Nordahl CW (2008). "Neuroanatomy of autism". Trends Neurosci. Quyển 31 số 3. tr. 137–45. doi:10.1016/j.tins.2007.12.005. PMID 18258309.
  61. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Geschwind
  62. ^ Müller RA (2007). "The study of autism as a distributed disorder". Ment Retard Dev Disabil Res Rev. Quyển 13 số 1. tr. 85–95. doi:10.1002/mrdd.20141. PMC 3315379. PMID 17326118.
  63. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Arndt
  64. ^ Casanova MF (2007). "The neuropathology of autism". Brain Pathol. Quyển 17 số 4. tr. 422–33. doi:10.1111/j.1750-3639.2007.00100.x. PMID 17919128.
  65. ^ Geschwind DH (2009). "Advances in autism". Annu Rev Med. Quyển 60. tr. 367–80. doi:10.1146/annurev.med.60.053107.121225. PMC 3645857. PMID 19630577.
  66. ^ Baron-Cohen S (2009). "Autism: the empathizing–systemizing (E-S) theory" (PDF). Annals of the New York Academy of Sciences. Quyển 1156. tr. 68–80. doi:10.1111/j.1749-6632.2009.04467.x. PMID 19338503. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2013.
  67. ^ Iacoboni M, Dapretto M (2006). "The mirror neuron system and the consequences of its dysfunction". Nature Reviews Neuroscience. Quyển 7 số 12. tr. 942–51. doi:10.1038/nrn2024. PMID 17115076.
  68. ^ Hamilton AF (2009). "Goals, intentions and mental states: challenges for theories of autism". J Child Psychol Psychiatry. Quyển 50 số 8. tr. 881–92. CiteSeerX 10.1.1.621.6275. doi:10.1111/j.1469-7610.2009.02098.x. PMID 19508497.

Nguồn

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Rối loạn tâm thần và hành vi