Bước tới nội dung

Tam Ca-diếp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ba anh em Ca Diếp hoặc Ba anh em Ca Diệp (Tiếng Trung Quốc: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) hay Tam Ca Diệp (Tiếng Trung Quốc: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), là danh xưng để chỉ ba anh em Ca Diệp [Diếp] (Kashyapa), vốn xuất thân là những đại sư Bà La Môn thờ lửa,[1] về sau họ trở thành một trong số những đệ tử đầu tiên của Phật Thích-ca Mâu-ni.[2][3]

Tên gọi

Dưới đây là danh tánh cụ thể của ba người.

  • Trưởng huynh Ưu Lâu Tần La Ca Diệp (Uruvilva Kasyapa / Uruvela Kassapa, Tiếng Trung Quốc: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), còn gọi là Uất Vi (鬱為), nghĩa là rừng đu đủ. Ban đầu là quốc sư. Trong A-hàm kinh có nói: "Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp hộ trì bốn chúng, cung cấp đầy đủ bốn vật dụng cần thiết, khiến không ai thiếu thốn, là bậc đệ nhất."
  • Thứ hai Na Đề Ca Diệp (Nandi Kasyapa / Nandi Kassapa, Tiếng Trung Quốc: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), nghĩa là sông hoặc giang. A-hàm kinh ghi rằng: "Tâm ý tịch tĩnh, hàng phục các kết sử, tinh tấn bậc nhất.
  • Thứ ba Ca Da Ca Diệp (Gaya Kasyapa / Gaya Kassapa, Tiếng Trung Quốc: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), nghĩa là thành trì. A-hàm kinh ghi rằng: "Thấu hiểu và quán sát các pháp, đều không chấp trước, khéo léo giáo hóa, là bậc đệ nhất."[4][5]

Thích Ca Mâu Ni thị hiện thần thông giáo hóa Tam Ca Diếp

Cuộc chuyển hóa của ba anh em Kashyapa và những người theo họ, Gandhara. Người hầu trần truồng là vị hộ vệ của Đức Phật, Vajrapāṇi."

Nguyên tín ngưỡng của họ là tín đồ Bà La Môn lễ bái Hỏa giáo, họ có một số đệ tử và những kẻ đi theo, sau đó cả ngàn đệ tử đều theo Tam Ca Diệp cải đạo tin sang Phật giáo, gia nhập tăng đoàn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trở thành giáo đoàn Phật giáo cốt cán thuở ban đầu, đã phát huy được những tác dụng trọng yếu.[6][4]

Thạch thất có rồng độc

Khi đến sông Ni Liên Thiền (Nairañjanā), Thích Ca Mâu Ni trước tiên xin Ca Diếp cho tá túc trong một thạch thất có rồng độc cư ngụ. Đêm đó, Ngài điềm nhiên an tọa giữa thạch thất. Ngài biết rồng độc không có ác ý với mình nên bình thản trải qua suốt đêm.

Sáng hôm sau, khi Thích Ca Mâu Ni bình an vô sự bước ra khỏi thạch thất, thầy trò Ca Diếp tuy vô cùng kinh ngạc nhưng đồng thời cũng sinh lòng dè chừng đối với Ngài. Sau khi biết được điều này, Thích Ca Mâu Ni đề nghị với Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp cho phép mình tạm lưu trú bên bờ sông Ni Liên Thiền, và Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp đã đồng ý.[7]

Tứ Đại Thiên Vương, Đế Thích Thiên và Phạm Thiên lần lượt đến nghe Phật thuyết pháp

Đêm thứ hai, Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền dưới một gốc cây gần nơi ở của Ca Diếp. Tứ Đại Thiên Vương đến nghe Ngài thuyết pháp, ánh sáng từ thân các vị chiếu rạng khắp trời đất.

Ca Diếp thức giấc trong đêm, thấy quanh chỗ Thích Ca Mâu Ni có hào quang rực rỡ. Sáng hôm sau, ông liền hỏi:

"Ngài cũng phụng sự thần lửa phải không?"

Thích Ca Mâu Ni đáp:

"Ta không phụng sự thần lửa. Đêm qua có Tứ Đại Thiên Vương đến nghe pháp, ánh sáng mà ông nhìn thấy là ánh sáng từ thân các vị ấy."

Đến đêm thứ ba, Đế Thích Thiên đến nghe pháp, ánh sáng còn rực rỡ hơn đêm trước. Đêm thứ tư, Đại Phạm Thiên cũng đến nghe pháp, ánh sáng chói lọi hơn cả Đế Thích Thiên.

Ca Diếp đều nhìn thấy những luồng hào quang chói sáng ấy trong đêm. Vì vậy, vào mỗi sáng hôm sau ông lại nói với Thích Ca Mâu Ni:

"Chắc chắn ngài đang phụng sự thần lửa, nên ban đêm mới có ánh sáng chiếu khắp trời đất như vậy."

Thích Ca Mâu Ni tiếp tục giải thích rằng đó là do Đế Thích ThiênĐại Phạm Thiên đến nghe pháp; ánh sáng mà ông nhìn thấy chính là quang minh phát ra từ thân các vị ấy.[8]

Ca Diếp phụng thờ ba ngọn lửa

Năm trăm đệ tử của Ca Diếp hằng ngày đều cúng phụng ba ngọn lửa thiêng. Một hôm, họ tiến hành nghi lễ như thường lệ nhưng dù cố gắng thế nào cũng không thể nhóm lửa lên được.

Cảm thấy kỳ lạ, các đệ tử liền báo cho Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp. Ông nói:

"Ắt hẳn đây là do vị đại sa-môn kia làm."

Thế rồi ông đến gặp Thích Ca Mâu Ni và nói:

"Chúng tôi không thể nhóm lửa được."

Thích Ca Mâu Ni đáp:

"Các ông muốn nhóm lửa sao? Bây giờ trở về thì có thể nhóm được rồi."

Họ quay lại nơi cúng lửa, quả nhiên lửa lập tức cháy lên.

Sau khi nghi lễ kết thúc, Ca Diếp muốn dập tắt lửa nhưng không thể làm được, các đệ tử cũng không sao dập nổi. Khi ấy họ lại nhớ đến Thích Ca Mâu Ni và thưa:

"Chúng tôi không thể dập tắt ngọn lửa."

Thích Ca Mâu Ni đáp:

"Các ông muốn dập lửa sao? Bây giờ có thể rồi."

Ca Diếp cùng các đệ tử trở về nơi cúng lửa, và ngọn lửa liền tắt ngay.[9]

Ba anh em Ca Diếp thành tâm quy y Phật

Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp

Sau khi tận mắt chứng kiến thần thông của Thích Ca Mâu Ni, Ca Diếp vô cùng kinh ngạc. Ông rất kính phục nhưng cũng mang lòng ganh tỵ nên vẫn chưa chịu quy y. Khi ấy, Thích Ca Mâu Ni biết rõ những suy nghĩ trong tâm ông nên nói:

"Ông thường nghĩ rằng ta là một đại sa-môn, tuy đã chứng quả A-la-hán nhưng vẫn còn kém xa vị A-la-hán như ông. Nhưng theo chỗ ta thấy hiện nay, ông chưa phải là A-la-hán, cũng chưa đi đúng trên con đường A-la-hán."

Nghe Thích Ca Mâu Ni nói rõ từng ý nghĩ giấu kín trong lòng mình, ông vô cùng kinh hãi. Thầm kinh ngạc, ông nghĩ:

"Vị đại sa-môn này thật có oai thần lớn lao, có thể biết được những điều ta đang nghĩ trong tâm. Vị đại sa-môn này có thần túc quảng đại, tự tại chứng đắc quả A-la-hán. Ta thật nên theo Ngài tu hành phạm hạnh."

Tuy nhiên, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp có năm trăm đệ tử và là người đức cao vọng trọng. Thích Ca Mâu Ni mong muốn các đệ tử của ông cũng quy thuận Phật giáo, nên khuyên ông hãy nói với đệ tử rằng mình đã thành tâm quy y Phật; những ai muốn tiếp tục theo mình tu học thì ở lại, còn ai muốn theo các giáo phái khác thì hoàn toàn tự quyết định.

Vì vậy, Ca Diếp công khai tuyên bố trước đại chúng rằng mình đã quy y Phật Đà. Thế nhưng các đệ tử đồng thanh đáp rằng họ từ lâu đã sinh lòng tin đối với Thích Ca Mâu Ni, chỉ chờ thầy mình hành động trước mà thôi.

Ngay sau đó, họ đem toàn bộ các pháp khí dùng để thờ lửa ném xuống sông Ni Liên Thiền, rồi lần lượt tiến hành nghi thức quy y theo đúng trình tự.[10]

Na Đề Ca Diếp và Già Da Ca Diếp

Ca Diếp có hai người em trai. Người em lớn tên là Na Đề Ca Diếp, người em nhỏ tên là Già Da Ca Diếp. Mỗi người đều có hai trăm năm mươi đệ tử và cư ngụ trong những ngôi nhà bên bờ sông Ni Liên Thiền để tu hành.

Một hôm, họ nhìn thấy những vật tượng trưng của Bái Hỏa giáo trôi xuôi theo dòng sông. Hai người em lo lắng rằng Ca Diếp có thể đã gặp nguy hại. Vì thế, họ lập tức dẫn theo năm trăm đệ tử đi ngược dòng sông lên thượng nguồn để tìm kiếm.

Sau đó, khi nhìn thấy Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp cùng các đệ tử đều đã trở thành đồ chúng của Thích Ca Mâu Ni, họ vô cùng kinh ngạc và hỏi:

"Thưa anh cả, học theo phạm hạnh của các sa-môn có phải tốt hơn chăng?"

Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp đáp:

"Ta theo Thích Ca Mâu Ni xuất gia học đạo, và đã đạt đến cảnh giới cao hơn trước."

Nghe vậy, hai người em liền dẫn toàn bộ đồ chúng của mình đến chỗ Thích Ca Mâu Ni để quy y Phật giáo. Họ đảnh lễ dưới chân Phật và thỉnh cầu Ngài thu nhận mình làm đệ tử.

Từ đó, ba anh em Ca Diếp cùng toàn thể đồ chúng của họ trở thành một nghìn vị thường tùy chúng của Phật giáo.[5]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ 三迦葉拜火教道場 Lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2018 tại Wayback Machine吉樂朝聖探索旅遊.
  2. ^ "認識佛陀教育" (bằng tiếng 中文). 淨宗學會. ngày 8 tháng 9 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2012.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  3. ^ "釋迦牟尼佛生平事略" (bằng tiếng 中文). 香港佛教聯合會. 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2021.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  4. ^ a b 丁福保 (tháng 6 năm 2010). "佛學大辭典 三迦葉" (bằng tiếng 中文). 佛陀教育基金會. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  5. ^ a b Tứ Phần Luật Được lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại Wayback Machine罽賓三藏佛陀耶舍共竺佛念等譯 (姚秦). "Tứ Phần Luật" (bằng tiếng 中文). 漢文大藏經. {{Chú thích web}}: |url= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. ^ 佛度三迦葉 中台世界.
  7. ^ 星雲大師 (ngày 17 tháng 11 năm 2010). 釋迦牟尼佛傳 (bằng tiếng 中文). 台北: 佛光. {{Chú thích sách}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  8. ^ "佛典故事 佛度三迦葉" (bằng tiếng 中文). 中台世界. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2019.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  9. ^ Phổ Diệu Kinh Được lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine竺法護譯 (西晉). 普曜經 第8卷 十八變品第二十五 (bằng tiếng 中文). 漢文大藏經. {{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  10. ^ Phật Đà Đích Thần Thông Được lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại Wayback Machine喬正一譯 (ngày 29 tháng 10 năm 1918). "佛陀的神通" (bằng tiếng 中文). 祗樹給孤獨園林. {{Chú thích web}}: |url= trống hay bị thiếu (trợ giúp)Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)

Tham khảo