Thành Quý phi
Thành Quý phi Nữu Hỗ Lộc thị (chữ Hán: 成貴妃鈕祜祿氏; 30 tháng 3 năm 1813 - 10 tháng 5 năm 1888), là 1 phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế.
| Thanh Tuyên Tông Thành Quý phi 清宣宗成貴妃 | |
|---|---|
| Đạo Quang Đế Quý phi | |
| Quý phi Đại Thanh (tôn phong) | |
| Tại vị | 16 tháng 11 năm 1874 - 30 tháng 3 năm 1888 |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 30 tháng 3 năm 1813 |
| Mất | 10 tháng 5 năm 1888 (76 tuổi) |
| An táng | 20 tháng 9 năm 1889 Mộ Đông lăng (慕东陵), Thanh Tây lăng |
| Phối ngẫu | Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Hoàng đế |
| Tước hiệu | Thành Quý nhân (成貴人) Dư Thường tại (余常在) (giáng vị) Thành Quý nhân (成貴人) (phục vị) Thành tần (成嬪) Thành Quý nhân (成貴人) (giáng vị) Hoàng khảo Thành tần (皇考成嬪) Hoàng tổ Thành phi (皇祖成妃) Hoàng tổ Thành Quý phi (皇祖成貴妃) |
| Thân phụ | Phong Thân Nghi Miên |
Tiểu sử
Thành Quý phi sinh vào giờ Sửu, ngày 8 tháng 2 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 18 (1813), gia tộc Nữu Hỗ Lộc thị, thuộc Mãn Châu Chính Hồng kỳ, con gái của Nhị đẳng Thị vệ Càn Thanh môn Phong Thân Nghi Miên, có tổ phụ là Nhất đẳng Tuyên Dũng công Hòa Lâm, em trai của vị đại tham quan nổi tiếng Hòa Thân. Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), do vụ án của Hòa Thân, cha bà bị cách chức nhưng sau đó được phục chức Tam đẳng Khinh xa đô úy. Vào năm bà chào đời cũng là năm phụ thân bà qua đời nên bà được gia tộc nuôi nấng từ nhỏ.
Nếu truy xuất về đời tổ tiên thứ 3 của gia tộc bà và Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu cùng Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu thì có thể thấy họ chung một gốc tổ tiên, họ là họ hàng xa do từ đời thứ 4 gia tộc của bà phân ra nhiều nhánh. Thường Bảo - tằng tổ phụ của bà và Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu đều thuộc đời thứ 14 của gia tộc nên suy ra Cung Từ Hoàng thái hậu là cô tằng tổ mẫu của bà. Còn Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu và bà thuộc đời thứ 17 trong gia phả nên xét ra bà là tộc muội của Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu.[1]
Đại Thanh tần phi
Năm Đạo Quang thứ 8 (1828), thông qua Bát kỳ tuyển tú, Nữu Hỗ Lộc thị được lựa chọn và sơ phong làm Thành Quý nhân (成貴人). Căn cứ theo Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ, phong hiệu "Thành" của bà trong Mãn văn là「Mutengge」có nghĩa là "có tài cán"[2]. Năm Đạo Quang thứ 9 (1829), ngày 6 tháng 2 (tức ngày 10 tháng 3 dương lịch), bà bị giáng làm Dư Thường tại (余常在)[3]. Năm Đạo Quang thứ 10 (1831), ngày 11 tháng 12 (âm lịch), Thái y Ngụy Vĩnh Thái (魏永泰) đã chẩn đoán bà bị chứng phong ôn từ bên ngoài, dẫn đến sốt và sợ lạnh, miệng đắng và khô họng, đau nhức toàn thân[4]. Năm Đạo Quang thứ 16 (1836), ngày 1 tháng 10 (tức ngày 9 tháng 11 dương lịch) Dư Thường tại được phục phong làm Thành Quý nhân (成貴人).[5]
Theo ghi chép của Kính Sự phòng (敬事房) vào năm thứ Đạo Quang thứ 24 (1844) về một cung nữ của Thành Quý nhân do bị bệnh nặng nên buộc phải xuất cung, theo ghi chép thì khi đó sự việc ghi lại ở Diên Hi cung cho thấy thời gian đó bà cư ngụ tại cung này. Năm Đạo Quang thứ 25 (1845), ngày 19 tháng 7 (âm lịch), Diên Hi cung gặp hỏa hoạn bị hủy hoại nhiều nên bà cùng Thường Quý nhân phải dọn sang Hàm Phúc cung. Ngày 5 tháng 10 (tức ngày 4 tháng 11 dương lịch) cùng năm, Thành Quý nhân được tấn phong làm Thành tần (成嬪) đến ngày 20 tháng 12 cùng năm (tức 17 tháng 1 năm 1846 dương lịch) thì hành lễ sắc phong.[6]
Sách văn viết:
| “ |
朕惟璇闺起化。六宫襄浣濯之勤。玉陛承恩。九室重德容之选。隆章聿著。宠命宜颁。咨尔成贵人钮祜禄氏、兰蕙姿芳。珩璜度饬。佐中壸而仪昭端恪。朵殿叨荣。备内官而式秉柔嘉。萱闱锡祜。兹仰邀皇太后懿旨。晋封尔为成嫔。申之册命。尔其祗承芝检。紫泥膺鸾诰之祥。益励椒馨。丹扆笃鸿厘之庆。钦哉。 . Trẫm duy toàn khuê khởi hóa. Lục cung tương hoán trạc chi cần. Ngọc bệ thừa ân. Cửu thất trọng đức dung chi tuyển. Long chương duật trứ. Sủng mệnh nghi ban. Tư nhĩ Thành quý nhân Nữu Hỗ Lộc thị, lan huệ tư phương. Hành hoàng độ sức. Tá trung khổn nhi nghi chiêu đoan khác. Đóa điện thao vinh. Bị nội quan nhi thức bỉnh nhu gia. Huyên vi tích hỗ. Tư ngưỡng yêu Hoàng thái hậu ý chỉ. Tấn phong nhĩ vi Thành tần. Thân chi sách mệnh. Nhĩ kỳ chi thừa chi kiểm. Tử nê ưng loan cáo chi tường. Ích lệ tiêu hinh. Đan ỷ đốc hồng li chi khánh. Khâm tai. |
” |
| — Sách văn Thành tần Nữu Hỗ Lộc thị | ||
Năm thứ Đạo Quang thứ 29 (1849), ngày 15 tháng 6 (tức ngày 3 tháng 8 dương lịch) lại bị giáng xuống Quý nhân. Sau khi Thanh Văn Tông kế vị, tôn bà làm Hoàng khảo Thành tần (皇考成嬪).[7] Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), ngày 10 tháng 10 (âm lịch), tấn tôn Hoàng tổ Thành phi (皇祖成妃).[8][9] Năm Đồng Trị thứ 13 (1874), ngày 16 tháng 11 (âm lịch), Từ An Thái hậu và Từ Hi Thái hậu ra ý chỉ tấn tôn bà thành Hoàng tổ Thành Quý phi (皇祖成貴妃).
Năm Quang Tự thứ 14 (1888), ngày 30 tháng 3 (âm lịch), Thành Quý phi Nữu Hỗ Lộc thị qua đời, hưởng thọ 76 tuổi (tính cả tuổi mụ). Năm thứ 15 (1889), ngày 20 tháng 9, bà được táng tại Mộ Đông lăng (慕东陵) cùng các phi tần khác của Đạo Quang Đế.
Trong văn hóa đại chúng
| Năm | Phim ảnh | Diễn viên | Nhân vật |
| 2011 | Vạn phụng chi vương | Thẩm Trác Doanh |
Thành phi |
Tham khảo
- ^ 嘉庆十八年(1813癸酉年)二月初八日丑时出生,有宫中底档称其为满洲正红旗钮钴禄氏,是原任一等宣勇公和琳孙女,乾清门侍卫、已革一等宣勇公钮祜禄·丰绅宜绵之女,其家族曾于嘉庆四年因和珅案被贬,后由嘉庆帝复还三等轻车都尉世职。出生当年其父丰绅宜绵离世,由家族抚养成人。有一庶堂姐即丰绅殷德之女,和珅孙女为顺承郡王春山嫡福晋。与孝和睿皇后以及孝全成皇后同属一族,在钮祜禄氏族谱中,三人的共同祖先要追溯到第三世,孝和睿皇后、常保(和珅、和琳之父)、成德(孝全成皇后曾祖父)是十四世,孝全成皇后与成贵妃是十七世。道光帝的这两位后妃同辈,成贵妃是孝全成皇后的族妹,孝和睿皇后是二人的族姑曾祖母。
- ^ 道光八年戊子二月(1828.3.16 — 1828.4.13之间),在外八旗选秀中被指定为成贵人,同年三月入宫。封号是“成”,满文是“mutengge”,意为「有本事的」、「有才干的」、「贤能的」。
- ^ 道光九年已丑二月初六日(1829.3.10),降为余常在
- ^ 道光十年庚寅十二月十一日(1831.1.24),太医魏永泰诊出余常在外受风温之症,以致其发热恶寒,周身疼痛,口感咽干。
- ^ 道光十六年丙申十月初一日(1836.11.9),著封为成贵人
- ^ 道光二十四年(1844年),敬事房交出延禧宫成贵人下,因病出宫女子一名。 道光二十五年乙巳七月十九日,延禧宫毁于大火,成贵人和常贵人搬到咸福宫居住。十月初五日(1845.11.4),诏封为成嫔 [7]。 道光二十五年乙巳十二月二十日(1846.1.17),正式册封为成嫔 [4] [7]。
- ^ 咸丰帝尊封道光帝成贵人为成嫔册文:册文曰。坤闱佐化。昭雅度于珩璜。巽命申褒。表芳规于纶綍。隆称允副。渥典斯彰。皇考成贵人。蕴性柔嘉。褆躬端谨。职参九室。承恩膺象服之荣。礼赞三宫。锡庆荷鸾章之贲。懿温恭之懋著。宜位号之加崇。谨以金册尊封为皇考成嫔。于戏。光灿芝函。益见徽音之播。厘延椒掖。长凝蕃祉之绥。谨言。
- ^ 同治帝尊封道光帝诸妃册文:○又谕、皇祖宣宗成皇帝嫔御。前经皇考大行皇帝加崇位号。兹朕御极之初。宜晋隆称。以申敬礼。琳贵太妃诞育醇郡王、钟郡王、孚郡王、寿禧和硕公主。谨尊封为琳皇贵太妃。彤嫔诞育寿庄和硕公主。尊封为彤妃。佳嫔尊封为佳妃。成嫔尊封为成妃。顺贵人尊封为顺嫔。蔡常在尊封为蔡贵人。尚常在尊封为尚贵人。李常在尊封为李贵人。那常在尊封为那贵人。所有应行事宜。著该衙门察例具奏。
- ^ 同治帝二次尊封道光帝诸妃册文:○乙卯。谕内阁、朕奉慈安端裕康庆皇太后慈禧端佑康颐皇太后懿旨。彤妃等位。侍奉宣宗成皇帝。多历年所。允宜加崇位号。以表尊荣。彤妃晋封为彤贵妃。佳妃晋封为佳贵妃。成妃晋封为成贵妃。贵人蔡佳氏晋封为恒嫔。贵人尚佳氏晋封为豫嫔。
- Thanh sử cảo, quyển 214, liệt truyện nhất Hậu phi
- Quý tộc nhà Thanh