Thảo luận Thành viên:Hoàng vũ Quý
Thành Đại La
THÀNH ĐẠI LA
(sửa lần cuối ngày 24/8/09)
Từ xa xưa, kinh đô thường có 3 vòng thành: Vòng ngoài là La Thành, vòng thứ hai là Hoàng Thành, vòng thứ ba là Tử Cấm Thành. Tử Cấm Thành là nơi vua chúa ở, Hoàng Thành là nơi vua chúa và các bộ máy cai trị làm việc. La Thành là vòng bao bọc dân cư của kinh thành. Theo sách Thủy Kinh Chú thì năm 134 Trước công nguyên, niên hiệu Kiến Nguyên đời Hán, khi mới đắp thành có Giao Long lượn quanh hai bên bờ nam bắc nên mới đặt là thành Long Uyên, nhà Đường (do kị húy) đổi là Long Biên. Xem như thế thì kinh đô Thăng Long, Đông đô, Hà Nội đã là đất đế đô từ năm 128 trước công nguyên đời Triệu Văn Vương (Nhà Triệu Đà). La Thành thời nào cũng chỉ thấy đắp bằng đất, thời Lê Trịnh, trên mặt La Thành có lính tuần tra bằng xe ngựa đi được, dưới chân thành là hào nước có cắm trông gai, cửa ô là hai bên tường đất cao có bố trí trạm gác khá nghiêm ngặt, quy củ. La Thành là vòng ngoài cùng của kinh thành có các cửa ra vào gọi là cửa ô, tuy mỗi thời cửa ô có thể thay đổi, thông thường thì có từ 4 đến 5 cửa là những đường chính diện vào trung tâm Hoàng Thành. Người ta nói có 16 hay 21 cửa ô … là do nhầm lẫn với các cổng làng đó thôi, làng nào ở sát La Thành tất phải có cổng làng, cổng làng ấy cũng vào thành được nên cũng cứ gọi là cửa ô mà trở thành quen. Vả lại gọi là cửa ô cho khác với cổng làng bình thường cũng bời đây là các làng trong kinh thành. Theo Hán thư quận quốc chí: Thời Tây Hán, phủ trị Giao Châu ở huyện Luy Lâu. Đến đời Đông Hán phủ trị ở huyện Long Biên tức nội thành Hà Nội nay. Thời nhà Tùy, niên hiệu Đại Nghiệp, phủ trị rời sang huyện Tống Bình, đền đời Đường vẫn theo cũ. Theo Nguyễn Siêu (Phương Đình Dư Địa Chí) “Trong Tùy Đường địa lý chí đều chép huyện Tống Bình ở đầu quận Giao Chỉ, có chú rằng phủ trị ở đấy, thế thì thành Đại La ở Long Biên vốn có từ Đời Hán không phải Cao Biền lúc làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ mới đắp. Những sách chí lược chép nhầm là căn cứ vào nền cũ thành Đại La ở Long Biên nên cho là Cao Biền mới đắp, nhưng không biết Cao Biền đến thì phủ trị vốn ở Tống Bình. Sách “Việt Sử tiền biên” nhân thế phụ hội bảo Cao Biền tự xưng vương, đắp thành Đại La, lại chép rõ ràng cả trượng thước rộng hẹp, nhà cửa đền đài như việc có thực. Đến vua Lý Thái Tổ nước Việt ta dời đô đến Thăng Long trong tờ chiếu có nói rằng: Đại La thành là đô cũ cũa vua Cao Vương. Đó đều là theo sự phụ hội của chí lược mà không kịp xét kỹ chính sử đời Hán, Đường…” Nhà Lý đắp La Thành lần thứ hai trên cơ sở nền La Thành Long Biên xưa. Nền la Thành Long Biên ở phía nam Hà nội nay từ đường Minh Khai qua chợ Mơ phố Đại La qua ngã tư Vọng vào đường Trường Trinh qua Ngã tư Sở vào đường Láng đến Cầu Giấy khá bằng phẳng cũng chứng tỏ nhà Mạc có thu hẹp lại.
Nhà Mạc đắp La Thành lần thứ ba: Từ đê Sông Hồng (Cuối phố Lò Đúc) qua ngã tư ô Cầu Rền vào Đại Cồ Việt vào đê La Thành qua ngã tư Ô Chợ Dừa vào Đường Thành qua Cầu Giấy đến gần chợ Bưởi bắt vào đường Hoàng Hoa Thám ngày nay.
Nhà Lê Trịnh năm thứ 10 Cảnh Hưng (1749) Hoàng Ngũ Phúc đắp La Thành lần thứ tư: “Nhân cũ mà tu bổ lại”cho đến đây cũng là lần cuối cùng. Sử có chép : “Đắp thành Đại Đô đặt 5 cửa An Hòa, Vạn Bảo, Vạn Xuân, Thịnh Quang, Khang Thọ. Đó là theo lời xin của Hoàng Ngũ Phúc” Chúa Trịnh Doanh có chiếu: “Kinh sư là căn bản quốc gia, tông miếu xã tắc và trăm quam đều ở cả đấy, mà 4 bề tám mặt không có thành lũy gì để dựa vào. Nay ở ngoài biên hễ có việc, sáu quân một khi ra đi không thể không để quân lưu thủ. Để lưu thủ nhiểu thì quân đi đánh giặc lại ít. Cổ nhân có nói: “Đặt chỗ hiểm để giữ nước” thực có ý sâu. Nước ta từ đời Lý đóng kinh đô ở Thăng Long cũng đã đắp thành Đại La, nay ta muốn nhân cũ mà tu bổ lại, để lúc có việc ngoài không phải lo trong. Các ngươi nghĩ thế nào?”. Tả hữu đều nói rằng: “Đấy thực là kế nhọc một lần mà yên mãi”. “Nhân cũ mà tu bổ lại” Như thế thì đắp La Thành theo vòng La Thành thời nhà Mạc đã đắp. Hoàng Ngũ Phúc cho đắp thành Đại La để bảo vệ kinh sư. Kinh sư là căn bản quốc gia, tông miếu xã tắc và trăm quan đều ở đấy. Ông quyết đắp La Thành là để bảo vệ cái gốc vững chắc, bảo vệ dân, bảo vệ nước, bảo vệ kinh thành. Thành Đại La có 5 cửa ô: Ô Chợ Dừa là một trong năm cửa ô chính được Hải Thượng Lãn Ông mô tả trong Thượng Kinh Ký sự: “Đi qua cửa Vũ Quan vào thành. Nhìn thấy một dẫy thành đất không cao lắm,. Bên cạnh là một tường nhỏ, mặt trên là đường xe ngựa đi, mé ngoài có hàng rào tre dày kín. Dưới có hào sâu. Trong hàng rào rải đầy chông chà, rất là kiên cố. Thành có 3 lần cổng. Lần cổng nào cũng cũng có lính gác hai bênh, gươm giáo sáng loáng.”
Nói về cửa ô hiện nay chỉ còn dấu tích duy nhất là Ô Quan Chưởng. Ô là cửa, quan chưởng là vị quan đứng đầu chính phủ “Chưởng Phủ Sự”. Quan chưởng ở đây là chỉ Hoàng Ngũ Phúc. Hoàng Ngũ Phúc Chưởng Phủ Sự, vừa là vị chưởng quan đắp La Thành và cho xây bằng gạch ô Thanh Hà năm 1749.
Tên Ô Quan Chưởng là do dân phong, còn Thanh Hà, là tên địa phương, thời nhà Mạc đã có phường Đông Hà, Thời Lê Trịnh có xã Thanh Hà, ngày nay vẫn còn phố Thanh Hà xem như thế thì thời nhà Mạc là Đông Hà môn, Thời Lê Trịnh là Thanh Hà môn.
Ô Quan Chưởng ngày nay Có phố Ô Quan Chưởng chạy ra đường Trần Nhật Duật (bờ sông Hồng) phía trong ô là phố Hàng Chiếu. Phố Ô Quan Chưởng dẫn ra 4 phố trực tiếp là Hàng Chiếu, Đào Duy Từ, Thanh Hà và Trần Nhật Duật. Ô Quan Chưởng có vị trí rất đặc biệt: Thời Lê Trịnh phủ chúa nằm vòng ngoài lẫn với dân cho nên La Thành quan trọng ngang với Hoàng Thành ở các triều đại khác cho nên việc đắp La Thành của Hoàng Ngũ Phúc rất công phu tốn kém. Ô Quan Chưởng là trung tâm giao thương với bên ngoài, nói về an ninh thì nơi đây rất phức tạp, mặc dù có sông Hồng ngăn cách nhưng Nguyễn Hữu Cầu cũng đã nhiều lần vượt sông uy hiếp kinh thành Ô Quan Chưởng cũng là nơi rất gần với phủ chúa và cung vua. Với những lý ấy Hoàng Ngũ Phúc mới quyết ý đắp La Thành ven sông Hồng cho xây ô Thanh Hà bằng gach kiên cố. Việc đắp thành Đại La là vô cùng khó khăn, khó hơn cả đánh giặc, việc thổ mộc bao giờ cũng nặng nhọc nhất, dân thì no đói thất thường, của kho thì cạn kiệt. Đại Việt Sử Ký Tục Biên có chép: “Bấy giờ của hết, sức mòn, dân quanh kinh kỳ lấy làm khổ sở. Có người làm bài ca rằng: “Ta ta sinh lý như kim tận Sinh lý tuy tận cảm vân cùng Hựu vân thành ngoại tân khởi công” (Than ôi sinh kế khốn cùng Dù có khốn cùng cũng đâu dám nói Lại nghe còn phải đắp thành La).” Ngũ Phúc với con mắt chiến lược lại rất thấu đạo lý thánh hiền, cũng là người rất thương dân nhưng cũng là người quyết đoán, không nghe, quyết vượt khó khăn dùng kế “nhọc một lần để cho dân yên mãi”. Cuối cùng công việc hoàn thành, dân yên ổn, kinh đô vững vàng, lúc ấy mọi người đều cho là phải.
Danh Nhân Hoàng Ngũ Phúc
HOÀNG NGŨ PHÚC
(1713-1776)
Tướng giỏi đánh giặc ngoại xâm ở nước ta đời nào cũng có: Bà Trưng, bà Triệu, Lý Bôn, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi ...còn như tướng giỏi đánh dẹp nội loạn mới thấy có Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai xứ quân lên ngôi Hoàng đế, đến Hoàng Ngũ phúc tướng dep nội loạn nổi tiếng thời hậu Lê, ông được suy tôn nhiều danh hiệu bậc thánh khác nhau.Thế mới biết tướng dẹp nội loạn nếu không phải bậc thánh thì không ai làm được. Lịch sử cổ kim chưa thấy có danh nhân lịch sử nào được nhà nước và nhân dân suy tôn, phong tặng nhiều danh hiệu bậc thánh cao quý đến vậy. - Thánh Đức Hoàng Đài Công, thờ ở sinh từ đường - Phật sống “Vạn gia tại tích y sinh phật, Bách thế tòng kim ngưỡng Phúc thần: Muôn nhà từ trước được cậy nhờ đức sinh phật, Trăm đời từ nay được đội ơn phúc thần (Câu đối viếng tang) Nhà nước suy tôn ông là: - “Quốc Lão” Bậc thánh của nước. - “Quốc Nguyên Lão” Thánh đức quốc gia. - “ Quốc lão công: Thánh đức công thần quốc gia” - “Nguyên Lão trong Kinh Thi, Đại nhân trong Kinh Dịch”Hai bậc thánh trong hai kinh: Kinh Thi và Kinh Dịch - “ Túc đức nguyên thần” Bề tôi thánh đức - “Túc vọng nguyên thần” Thánh đức quyền cao chức trọng - “Túc đức nguyên thần, nhậm kiêm tướng tướng: Bề tôi thánh đức giữ hai ngôi tướng văn tướng võ” - “Hoa Công” Hịch dụ: Giáng tội quyền thần Trương Phúc Loan của Hoàng Ngũ Phúc khi đem quân qua sông Linh Giang tiến vào đất Thuận Hóa ngày 17/10 Giáp Ngọ 1774, Bình nam thực lục ghi tiêu đề hịch dụ: “Hoa công qua sông truyền hịch”… - Chúa Trịnh Sâm gọi ông là Nguyên Phụ.
Dân Phụng Công đến nhà Tiến sĩ Nhữ Công Tán xin văn bia Kiến tạo sinh từ thờ Hoàng Đài Công nói rằng: “Cây to thì bóng nó tỏa ra rộng lớn. Bản ấp tôi được che chở và mang ơn của Đài Công đã từ lâu.... Cái nhân đức của Đài Công nổi bật nhất ở chỗ biết cùng vui buồn với dân khi no đói, thăm người đau yếu viếng thăm nhà có tang, thương người cô độc xót người nghèo khổ, ngăn ngừa kẻ kiêu ngạo răn đe kẻ du tình, cấm uống rượu cờ bạc mà chấm dứt việc tranh giành kiện tụng. Việc giáo huấn đức khiêm nhường truyền đến khắp thôn xóm. Thế rồi Đài Công lại tìm nhà nho kỳ cựu mời về mở trường Tây thục, đào tạo nho sinh. Công giáo huấn của Đài Công trong từng ngõ xóm không ai không biết rõ, đến nay Nho sinh nhan nhản, tiếng đọc bài râm ran. Trận bút đua tranh, trường thi mở lối lên nho quán mà chấn động biển lâm, thật xứng là một ấp văn hiến…. Ân huệ mà Đài Công ban cho chúng tôi và mọi người là rất sâu nặng vậy. Cho đào thì đáp tạ lại bằng mận. Kinh thi có nói: “Phỉ báo bất mưu, vĩnh hảo hà năng”. Không lo báo đáp lại, sao giữ được mối giao hảo lâu dài, đó là lẽ thường vậy…. Hôm nay đến đây định nhờ vào một cây bút để cho con cháu chúng tôi làm theo mãi mãi về sau”.
Bia sinh từ do tiến sĩ Nhữ Công Tán, đại thần trong chính phủ biên soạn. Tiến sĩ Nguyễn Nghiễm thượng thư bộ Công kiêm Quốc Tử Giám nhuận sắc có chép: “Từ xưa có ba thứ bất hủ là lập đức, lập công và lập ngôn. Công và Đức của Đài Công hẳn là cái được dân ngưỡng mộ mà tôn sùng, tôi đâu có tiếc lời. Tôi vốn biết Đài Công là người giữ điều thành thực trong lòng gửi sự trung tín ở nước. Ông đối với dân làng tôi không biết được, nay theo các vị nói vậy thì ân huệ của Đài Công đã xuống tới dân mà dẫn dắt dân theo con đường lễ, chẳng phải là đạo của người quân tử có bốn đó sao?.
Nay Thánh đức đang lúc quang minh hưng thịnh, bề tôi quyền cao chức trọng giúp giập không ít. Riêng nhờ công lao tài đức mà đứng đầu hàng quan võ, bỗng chốc mà in đậm vào tai mắt của dân. Có điều không thể nói hết được, ngay cái dáng nghiêm trang cũng đủ sánh với đội quân đông của Phương Thúc đi trấn áp khiên quân kinh man tự đến quy phục mà được ban thái ấp, như Triệu Bá noi theo Văn Vương, Võ Vương mà làm khuôn mẫu cho chư hầu, như Thân Bá và Doãn Cát Phủ làm cho dân yên ổn. Vì thế phất cờ hiệu ở Đồ Sơn mà Hải Dương bình, đánh hồi trống ở Xương Hà mà Kinh Bắc phục. Từ Hạc Động của An Quảng, Đỗ Xá của Sơn Nam nhìn lại vùng ta đâu đâu cũng bình yên. Sau đó ông còn rong ruổi hàng trăm trận ở vùng biên, vất vả hơn mười năm liền. Khi tiến đánh thì không có thành nào kiên cố, khi lâm trận thì không có trận nào ác liệt. Tướng lược của Đài Công như bậc Nguyên lão trong Kinh Thi, Đại nhân trong Kinh Dịch.
Đứng đầu Sơn Nam , Hải Dương, giữ chức Kiêm chế Phương diện triều chính Phủ sự Tham tán phồn khu phủ chính. Ở ngoài thì bốn nước xung quanh phải phụ thuộc, ở trong thì tận tụy như một người thị tì. Công lao của ông đầy biên cương, sự nghiệp đầy triều đình, công danh đầu thiên hạ.
Sở dĩ có được như vậy bởi trung tín của ông có được từ trời mà đức nghĩa dàn chải đến mọi người, cho nên khi lâm trận thì tướng sĩ không ai không gắng sức. Cai quản dân thì người xa người gần không ai không nhớ mong. Trông coi chính sự thì không ai không đồng tình. Phải chăng đức độ tỏa sáng chung quanh, thì từ lớn đến bé không ai không tin tưởng.
Nghĩ đến công lao dẫn dắt dẹp yên thành trì thật đáng có Sinh miếu để giữ gìn cái đức đáng kính, truyền lại chân dung về võ của Đài Công.
Với việc trung thành, công lao đức trạch của Đài Công thì phàm những nơi trải quan tên đạn, những vùng có tinh kỳ kéo đến, nếu ở đó có Sinh Từ như các quan mục thủ hiền tài xưa cũng không có gì là quá, huống hồ được náu dưới bóng mát của cây đại thụ, tắm mát ở giữa đại dương thấy được ánh sáng mà nghe được điều hay. Dựng đền đắp tượng Đài Công cũng là việc làm thịnh hành gây tăm tiếng và biểu dương công lao vậy.
Khách cả mừng, quan mục lư sử ghi lại rồi đem khắc vào bia đá để lưu truyền bất hủ.”
THÂN THẾ SỰ NGHIỆP
Ông người xã Phụng Công Yên Dũng trấn Kinh Bắc(Nay là xã Tân Mỹ huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang). Năm 1740 được phong Tả thiếu giam tước Việp trung hầu. Ông thông minh tài trí lạ thường 13 tuổi đã học hết Tứ thư, ngũ kinh, 16 tuổi đọc hết sách Tứ khố toàn thư, thấm nhuần cổ kim thư sử, thấu hiểu tường tận bẩy thiên binh pháp. Cuối đời Vĩnh Hựu (1739) chúa Trịnh Khương (Giang) lười biếng chính sự, thích đi chơi xem, làm nhiều cung quán ở tứ trấn, các nơi danh sơn chùa cổ chỗ nào cũng có dấu chân xe ngựa. Quyền thần lộng hành, chính sự bê bối, không ngày nào không có đại thần bị đuổi, bị giết, bị khiển trách, ngoài ra nhiều người bị mật cáo phải tội do thù oán hãm hại nhau. Những nhà bị bắt bớ gia sản hết sạch, ai cũng không bảo toàn được thân mình. Phu dịch phiền phức nặng nề không biết kêu vào đâu. Dân than thở oán hận mong loạn bởi thế Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ Ở trấn Hải Dương (Người xã Ninh Xá huyện Chí Linh là con Nguyễn Mại) xui dục dụ dỗ làm loạn. Dân các xứ đông nam bắc rủ nhau vác bừa cầm gậy đi theo, đám nhiều đến hơn vạn, đám ít cũng số trăm số nghìn. Người chỗ nào cũng nổi lên hàng bầy, không thể cấm ngăn được. Giặc cỏ ở lộ Sơn Nam Hạ có Ngân Già chiếm huyện Nam Chân, Tú Cao giữ huyện Thư Trì, Giáo Ly giữ huyện Đông Quan, He, Chất họp quân ở địa phận các phủ Khoái Châu, Nam Sách. Nguyễn Danh Phương dư đảng của giặc Tế đóng giữ chân núi Tam Đảo nhân chỗ hiểm dựng lũy, mộ quân vét lương, khống chế các lộ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, xây cung phủ tự xưng là “ Thuận thiên khải vận đại nhân” đám thủ hạ tư xưng là quận công đến vài mươi người. Lê Duy Mật dòng rõi nhà vua trốn ra Thanh Hoa khiến cho cả kinh thành náo loạn về sau vua Cảnh Hưng xuống sắc dụ quy thuận, Mật cũng không nghe, các tù trưởng người Man lại đem Mật về Trấn Ninh… Triều đình đánh dẹp mãi không xong, tướng lĩnh thiệt hai không ít: Thống tướng đông bắc đạo Nguyễn Trọng Uông bị giặc Nguyễn Tuyển ở Bình Ngô đánh thua chết. Đốc trấn Nhuận trạch Hầu Hoàng Kim Trảo cùng tướng lĩnh dưới quyền đánh nhau với giặc Tú Cao, Ngân Già đều bị chết.Tổng phủ Lạng Sơn cựu Thương thư bộ Hộ Ngô Đình Thục sa vào tay giặc chết tại trấn thành. Giảng quận công đánh nhau với giặc ở Đại Hạnh bị thua chết. Tháng 2 năm Quý Hợi (1743) Hoàng Ngũ Phúc dâng 12 điều binh pháp. được chúa cho thi hành và phong cho ông chức nội sai hình phiên, giao cho thống lĩnh đạo kỳ binh lại đem binh pháp ấy hiểu thị cho thống tướng đạo chính binh Hoàng Công Kỳ.
Tháng 6 năm ấy Nguyễn Hữu Cầu vây hãm Hoàng Công kỳ ở Thanh Hà, ông đem đạo kỳ binh đến cứu, phá tan được, rồi đem quân tiến đánh sào huyệt Hữu Cầu ở Đồ Sơn. Nguyễn Hữu Cầu thua chạy trốn sang Kinh Bắc lập căn cứ ở Xương Giang tiến chiếm trấn thành Kinh Bắc, trấn tướng Trần đình Cẩm bị thua, bỏ thành mà chạy khiến cho cả kinh thành náo động. Chúa Trinh Doanh điều ông từ Hải Dương về để trấn áp.Ông đem quân theo sông Nguyệt Đức đóng ở huyện Võ Giàng. Chúa quở trách, ông dâng thư báo: “Hữu Cầu sau khi tan vỡ trốn tránh, quân ít mà phân tán. Thế dễ phá. May mà thắng được một trận, ý chúng muốn liên kết với lũ giặc cỏ tiến sát sông Nhị Hà. Nay thần đã đóng ở Võ Giàng, chúng muốn đem hết quân tiến lên lại sợ thần chẹn mặt sau, thế biết rằng chúng không thể làm gì được” Chúa được thư báo cả mừng. Lúc quân Ngũ Phúc chưa về vùng trên dưới ven sông đều phải giới nghiêm. Đến đây dân tình mới yên. Cuối năm 1744 Thống tướng Trương Khuông thua Cầu, bị cách chức Trong khi đó Ngũ phúc chiếm lại được trấn thành Kinh Bắc.Triều đình cho Đinh Văn Giai làm Thống lĩnh bình tặc thượng tướng quân kiêm đốc quản quân 4 đạo, Ngô Đình Oánh làm Tán lý. Oánh đem quân lên Xương Giang lại bị Cầu đánh bại, nhân đà thắng Cầu lại tiến quân đốt phá làm sáng rực cả bờ bắc sông Nhị Hà, dân cư một giải ven sông bị giặc cướp đốt gần hết, lại vây hãm Đinh Văn Giai ở Thị Cầu. Ngũ Phúc chia quân làm 2 chi tiến đánh, Cầu thua sang sông chạy lên phía bắc, Đinh Văn Giai được giải vây. Chúa cách chức Đinh Văn Giai, cho Hoàng Ngũ Phúc làm trấn thủ Kinh Bắc kiêm thống lĩnh Bắc đạo, tiến phong Tả Đô đốc tước Việp quận công. Năm sau (1745) Hoàng Ngũ Phúc cho triệt các đồn An Khê, Phấn Trì, Phú Giã thắt chặt vòng vây Xương Giang còn đem quân đi chiếm lại Thái Nguyên do quân Mạc chiếm giữ. Quay trở về đánh Hữu Cầu. Nửa đêm đốt lũy Xương Hà, buổi sáng đem ngay quân về Lạc Đạo đánh cuốn chiếu mà tan giặc Nam Sách Kinh môn. Cầu thế cùng phải trốn xa, miền đông nam tạm yên. Sau này lang thang trốn tránh, tiểu tướng của Phạm Đình Trọng là Nguyễn Viêm bắt được nhốt cũi mang về.
Tháng 2 Ất Sửu (1745) triều đình ban sắc phong: Vinh gia tước Công kiêm quyền lĩnh trấn : “…Ông là lâm lang ngọc lành, dự chương gỗ tốt, giùi mài văn võ lược thao hiểu được phép bẩy thiê mầu nhiệm. Thấm nhuần cổ kim thư sử xem đủ sách Tứ khố toàn thư…
Binh là hung khí nhưng ông dụng binh thì: “ Quân đến đâu giỏ cơm bầu nước đầy đường, thỏa lòng dân mong ngóng; Giặc tan rồi già trẻ gái trai yên vách…. Hỡi ôi, đồng bào ta miền đông bắc, đã được nhờ tài chăn dắt;…” Dẹp yên loạn đông , nam, bắc ông trở về tham gia chính phủ. Năm 1950 chúa ủy quyền Tri quân Vu (tổng tư lệnh bình tây) đi đánh Nguyễn Danh Phương. Danh Phương người huyện Yên Lạc, hung tợn có cơ mưu chiếm giữ núi Tam Đảo. Chúa chia đặt quân 4 đạo sai ông tập hợp tiến đánh. Tháng 12 đánh phá đồn Úc Kỳ, hậu phương địch hoàn hoàn tan vỡ, tháng giêng vây làng Hương Canh, giặc sợ hãi vỡ chạy. Rồi tiến đánh núi Ngọc Bội, giặc tan vỡ trốn vào núi Độc Tôn. Ông thúc các tướng tiến đánh phá tan được. Danh Phương đốt sào huyệt trốn đi ban đêm. Tháng 2 truy nã bắt được ở Lập Thạch.
Cuộc Bình Tây chỉ mất 42 ngày. Bình công ông đứng thứ nhất, gia phong “Suy trung tuyên lực tán trị công thần, trải thăng Chưởng phủ sự, tham dự triều chính, đại tư đồ kiêm trấn thủ Sơn Nam. Từ đây ông trở về trông coi chính sự, đứng đầu chính phủ suốt hai đời chúa Trịnh Doanh và Trịnh Sâm, kiêm trấn thủ Sơn Nam, Hải Dương. “Trông coi chính sự thì không ai không đồng tình. Cai quản dân thì người xa người gần không ai không nhớ mong, đức độ tỏa sáng chung quanh thì từ lớn đến bé không ai không tin tưởng.” (bia sinh từ).
Khi ông còn sống, phương bắc tuyệt nhiên không dám dòm ngó, mà còn giúp cho triều đình Lê Trịnh đòi lại mỏ đồng Tụ Long và một số vùng đất Cao Bằng do nhà Mạc cống nạp cho Trung Quốc vào những năm cuối đời.
Năm Canh Dần (1770) có việc binh ở Trấn Ninh, ông ngày đêm dự bàn, điều binh khiển tướng, công giúp bày mưu tính kế rất nhiều.
Lê Duy Mật dấy binh đòi lại ngôi vua của họ Lê, ông dụ: “ Ta nghe nói thần khí(2) rất trọng, ngôi thiên tử rất khó. Phàm người thừa cơ cử sự, nhân việc lập công, tất phải dánh chính ngôn thuận, trời cho, người theo mới có cơ hội làm được. Há có phải như lũ đuổi hươu lóng ngóng, đem tri lực mà cầu được đâu?”
Nói về đạo lý: “Xét từ đời nhà Trần mất quyền, họ Hồ tiếm loạn. Bèn bị nước láng giềng phía Bắc bá chiếm, phong trần rối ren, gần 20 năm, những dân sống sót qua thời loạn, mong mỏi được sống lại từ lâu. Thái Tổ ta: trời sinh thần võ, ứng vận mà nổi dậy, dấy binh từ Lam Sơn dẹp yên giặc Ngô, khiến dân ta khỏi phải thay lối ăn mặc (1) đưa đời này lên đài xuân. Các thánh nối nhau đã hơn trăm năm. Việc đời đi rồi lại lại, bằng rồi lại lệch, lý giải như thế. Thiên hạ đã hơn 60 năm không phải của nhà Lê nữa: “Đến lúc vận nước trung gian suy yếu, kẻ quyền gian tiếm ngôi, dời về Dương Kinh [Hải Dương] hơn 60 năm, thước đất tấc dân đều không phải sở hữu của nhà Lê nữa.” Hịch dụ khẳng định: Các chúa Trịnh đón dòng dõi vua mà tôn phù, tái tạo cơ đồ, đổi mới xã tắc thì công đức ấy sánh bằng trời đất, trung nghĩa suốt đến mặt trời mặt trăng. Chân lý ấy cổ kim cũng khó có ai sánh kịp. Năm 1774 ông đã 62 tuối được chúa cho nghỉ hưu, ban danh hiệu Quốc Lão, nhưng chưa kịp về quê thì nghe Đàng Trong có biến Tây Sơn, chúa triệu ông trở lai mà bảo rằng: “Ông sẽ đem uy danh của ông vì ta làm được việc này chăng?” rồi ban mệnh rằng: “Ông là Quốc Nguyên Lão…không có ông thì không ai đương nổi trách nhiệm đó” bèn đặc sai ông làm Bình Nam Thượng tướng quân kiêm thống suất các xứ Thanh Hoa, Nghệ An, Sơn Nam, Hải Dương, An Quảng, đem bản quân trung dũng, khuông quân dinh, cùng đốc suất vệ… gồm tất cả 33 dinh gọi là kỳ quan binh (500 quân gọi là 1 kỳ) quản các xứ Nghệ An đặt yên trí ở đó để xem việc biên phòng. Ngày 15 tháng 5 Giáp Ngọ (1774) tế cáo miếu đường. Ngày 16 Việp Công vâng mệnh xuất quân. Chúa ngự viết 4 chữ “Tiện nghi hành sự” và dụ rằng: “Nay giao cho Nguyên Lão ra quân mong thành công lớn. Việc biên thùy phía nam tất cả đều ủy thác cho Nguyên Lão, quét sạch biên thùy hỗn loạn thống nhất dư đồ…”
(2) Thần khí: đồ vật của thánh thần để lại chỉ ngôi vua
Ông đem quân đến Thanh Hóa, chúa viết trát dụ thứ hai: “…Việc biên giới phía nam, tiến hay lui đều phụ thuộc vào thông minh lão luyện của Nguyên Phụ, nếu thấy cơ hội mười phần tất thắng, Nguyên Phụ tùy nghi tiến gấp” Đến Nghệ An chúa viết trát dụ thứ ba: “…Công một lòng vì nước, tài thao lược đã nghe. Nay nếu có cơ hội thì nên lập tức tiến lên, tùy nghi điều khiển” Trát dụ thứ tư: “ Từ Bố chính trở vào nam, các đạo quân thủy bộ Nguyên Phụ tùy nghi bố chí, từ Bố Chính trở ra bắc, Quả Nhân tự lo liệu không phiền đến Nguyên Phụ phải khắc khoải” Trát dụ thứ năm: “Bọn chúng quân thần như thế, dân tâm như thế mà mùa màng lại thất thu, thiên tai thường xẩy. Bói xét lòng trời, ý dân thí chúng tiêu vong chỉ trong một sớm một chiều mà thôi. Tùy cơ hành động chính vào lúc này, Nguyên Phụ nếu thấy cơ hội tất thắng thì lập tức kéo quân vượt sông…” Hịch dụ của Hoàng Ngũ Phúc: Ngày 11 tháng 6 Giáp Ngọ (1774) ông phát hịch dụ quân dân trấn Nghệ An:“ Nước lấy dân làm gốc, khi bình cư chi có phiền dân; Dân lấy nước làm lòng, phen hữu sự xá tua (phải nên) vì nước…” Ngày 1 tháng 8 năm Giáp Ngọ (1744) phát hịch dụ quân dân hai sứ Thuận Quảng: “Binh là hung khí, đem đi đánh tội để vì dân. Người có lương tri, nghĩ phải vệ nhân mà lánh ngược…” “Binh là hung khí”. Chỉ có thể đem đi đánh kẻ có tội để vì dân thì mới không có lỗi. Xem như thế thì chỉ có bậc thánh nhân mới dùng được hung khí. Ngày 17 tháng 8 đem quân vượt sông Gianh, phát hịch giáng tội quyền thần Trương phúc Loan : “Đức vua hạ lệnh, để trừ bạo, là nhân. Chủ tướng ra quân thực là hành binh có cớ…” Theo “Bình nam thực lục” thì Hoàng Ngũ Phúc được tôn phong là “Hoa Công Chưởng Phủ Sự”, bài hịch trên có tựa đề là:
“ Hoa Công qua sông truyền hịch”
Ngày 17 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1774)
Thống soái Bình Nam Thượng tướng quân Hoa Công hịch các xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, cùng các quan viên hào mục: Đại quân có mệnh, dùng đức nhân chiêu an trừ bạo…Trưởng tử xuất sư. Vương thượng xuất lĩnh đại quân mang nghĩa tầm cứu, giữ lời hứa hẹn, xét thấy việc binh cách vốn chẳng được dùng nhưng kẻ gian ác không nghe lời, trái đạo ắt phải tru diệt….” Hịch dụ có sức mạnh lạ thường: “Nước lấy dân làm gốc” khiến nhân nhân trấn Nghệ An hăng hái. “Binh là hung khí đem đi đánh tội để vì dân” Khiến quân dân 2 xứ Thuận Quảng ứng hợp với quan quân cho nên Quan quân đi đến đâu là nơi ấy rút quân hoặc đầu hàng, “Đức vua ra lệnh để trừ bạo là nhân. Chủ tướng ra quân thật là hành binh có cớ…” khiến cho không phải đánh mà quyền thần Trương Phúc Loan đã bị bắt trói đem nôp ở cửa quân. Ngày 18 Tiến đến dinh Thiên Lộc thì cai cơ Siêu Lương ra hàng Ngày 19 đến Điển Phúc thì trấn thủ Tôn Thất Tiệp lui quân về lũy Đồng Hồi. Ngày 20 đến thôn An Lão thì thuộc tướng dinh Bố Chính Chử Tài hầu đón hàng Ngày 21 đến dinh Bố Chính thì lính Mã đội ở Thuận Hóa đến xin làm nội ứng. Giờ Thân ngày ấy tiến đến ngoài lũy Trấn Ninh (Lũy Thầy), ra bảng chiêu an, dân phần lớn đến hàng, không có một sự chống đối nào. Ông tuyên rõ đức ý, cấm không được cướp đoạt của cải. Dân mở cửa lũy cho quan quân tiến vào, thủ tướng là Luận Chính hầu, Thành Tín hầu đều ra hàng. Lũy Thầy từ chân núi chạy ngang đến biển, hai bên là đồng lầy là thiên hiểm của Hóa Châu, từ núi ra tới biển có tới 100 sở, súng pháo đầy đủ. Các triều đại đem quân chinh phạt tới đây đã sáu lần đều phải cho quân quay về. Ngày 4 tháng 10 tiến vào dinh Quảng Bình. Ngày 9 tháng 10 tiến quân đóng ở Hồ Xá, chúa Nguyễn sai bắt trói Trương Phúc Loan giải đến nơi đóng quân ở Hồ Xá. Từ đây mới có những cuộc giao tranh giữa hai quân nam bắc Ngày 17 tháng 10 tiến quân đến thôn Ải Tử (Dinh Cát)
Ngày 29 tháng 10 tiến quân đến đóng ở xã Phúc Lương. Ngày 6 tháng 12 Thống tướng Thuận Quảng Chính Đức hầu Nguyễn Văn Chính đem quân sang sông Lương Phúc tiến đánh quân Bắc, quân Bắc đánh lại, tướng tiên phong của quân Nam là Luận Chính hầu chết tại trận quân lính voi ngựa chạy tan cả. Chính Đức hầu chỉ chạy thoát được một mình Ngày 11 tháng 12 Ngũ Phúc đem quân sang sông Diên Kinh đánh các đồn Phương gia, Đa Nghi, Đan Quế đều thắng trận Phẩm Bình hầu bị bắt. Ngày 15 tháng 12 tiến quân qua hai làng Thác Trầm, Thác Ma. Tướng giữ đồn ven sông Tường Quang hầu, Doãn Đức hầu đều chết trận, Hiến Đức hầu bị bắt. Quân các đồn yếu, ít đều tan chạy Ngày 28 tháng 12 đem quân sang sông Hiền Sĩ đánh úp các đồn, Chính Đức hầu chết trận, các đồn ven sông đều tan chạy, quân Bắc thừa thắng tiên vào thành Phú Xuân chiếm giữ 4 cửa niêm phong các kho vựa. rồi cho chạy thư về kinh báo tin thắng trận.
Chúa Trịnh Sâm có chỉ dụ ban khen Hoàng Ngũ Phúc đại thắng Phú Xuân: Ngày 10 tháng giêng “…Nay vùng Thuận Hóa đã yên ổn, đất Quảng Nam rồi cũng đến lúc dẹp xong. Nếu không phải là Nguyên Lão thì chẳng ai có thể đảm đương được trọng trách ấy….” (Bình nam thực lục) Ngày 20 tháng 4 Ất Mùi (1745) tiến quân vào Quảng Nam đến Bầu Trĩ gặp giặc mai phục ông cho quân voi xông đánh, giặc sợ nhẩy xuống khe mà chết.
Chúa có chỉ dụ ban thưởng
Ngày 5 tháng 5 “…. Công trạng ấy đến Thái dĩ, xuất xa(1) cũng không hơn được…”.(Bình nam thực lục) Ngày 22 tháng 4 Năm chi quân Bắc 2 đầu cùng tiến. Quân Tây Sơn thua chạy, tranh nhau sang qua cầu phao chết đuối rất nhiều, thủy binh của Tập Đình hầu chạy ra cửa biển Đại Chiêm rồi trốn đi luôn, còn Lý tướng quân cũng trở mặt lìa bỏ. Bộ binh của Nguyễn Văn Nhạc cũng trông đường Quảng Ngãi mà chạy trốn, quan quân tiến đến Thành Hà rồi về .
Chúa có chỉ dụ ban thưởng:
Ngày 4 tháng 6 “…. Nay Công cầm mao việt ra quân, dùng mưu lạ thắng giặc, dẹp yên Thuận Hóa, sắp xếp Thăng Hoa. Qua Hải Vân lập tức phá ngụy Dương, vượt Cẩm Lệ liền đẩy lùi Biện Nhạc, mưu trí sự nghiệp cận đại ít nghe. Quả
là trời sinh ra Nguyên Lão là để phò tá cho nền thái bình của ta vậy, dẫu bậc Nguyên Huân thời cổ cũng không hơn được.
Ngày 25 Nguyễn Nhạc sai thuộc hạ đem thư cùng voi ngựa vàng ngọc đến dinh Quảng Nam xin hàng. Xin nộp đất ba phủ là Quảng Ngãi, Quy Nhơn và Phú Yên. Khẩn khoản xin tâu lên cho y làm tiểu tướng, làm tiền khu cho đại tướng đi đánh các địa phương Gia Định, Hà Tiên.
(1) Thái dĩ, xuất xa:Thơ Thái dĩ trong kinh Thi nói Chu Tuyên Vương trung hưng, sai Phương Thúc đi đánh Kinh Man thắng trận trở về, làm bài thơ này ca ngợi chiến thắng. Thơ Xuất xa trong Tiểu Nhã ở Kinh Thi là lời yên ủi người lính thắng trận trở về.
Ngày 2 tháng 5 Nguyễn Văn Nhạc lại sai Tán Vũ đem 3 con ngựa khỏe đến dâng. Ngũ Phúc nhận cho hàng nên không vội tiến quân.
Ngày 2 tháng 6 Nguyễn Văn Nhạc lại sai thuộc hạ là Phan Văn Tuế đem thư đến dinh Quảng Nam dâng 2 con voi, 5 con ngựa, một đoạn hương kỳ nam, xin ban cho sắc mệnh và binh phù để được làm tiền khu cho đại quân lập công nơi biên giới. Ông nhận lễ và sai làm công văn hiểu dụ:
“Nguyễn Văn Nhạc đã có lòng quy thuận. Bản đạo được quyền tùy nghi trao chức, cho làm Tráng tiết tướng quân, Tây Sơn trưởng hiệu, cho được trên nhờ oai trời thi hành hiệu lệnh ở sơn trại chỉ huy đội quân mạnh đi đánh giặc. Bản đạo cũng liền ngày đem quân đến gần đấy. Sau này tướng quân nếu có việc khẩn cấp, lập tức đến báo để tiện chỉ bảo”
Đại Việt thống nhất bắc nam ngày 2 tháng 6 năm Ất Mùi (tức 29 tháng 6 năm 1775) Nguyễn Văn Nhạc làm Tráng tiết tướng quân, Tây Sơn trưởng hiệu. Nguyễn Văn Bình làm Tây Sơn hiệu tiền phong tướng quân. Ngày 15 tháng 7 Nguyễn Văn Nhạc đã nhận sắc mệnh sai thuộc hạ làm 2 bản tấu và khải tạ ơn, lại sai Nguyễn Văn Yển theo sứ giả đệ đến nơi đóng quân trình nộp và xin dâng 3 phủ Quảng Ngãi, Phú Yên, Quy Nhơn, lại xin ban cho một bộ mũ áo áo giáp. Ngày 21 tháng 7 Nguyễn Văn Nhạc dâng biểu tạ ơn: “Tôi sinh ở biên giới xa xôi, vào vùng hẻo lánh. Lòng thành hướng theo bóng mặt trời không bao giờ nguôi. Vừa rồi vì Phúc Loan chuyên quyền, kỷ cương đảo ngược, phía đông, phía tây đều nổi lên làm loạn. Tôi thừa thời xướng nghĩa, họp các người hào kiệt trong làng, định cứu vớt dân một phương này. Từ khi nghe quân vua qua núi Hải Vân, lập tức nhiều lần sai người tới xin xưng thần nộp lễ. Vâng được Thượng tướng quân Quốc Lão Việp công biết cho lòng trung thành. Thương tuần tháng ấy cho Dục Phượng Bá, Bằng Vũ đến trại Tây Sơn trao cho một đạo sắc, phong làm Tráng tiết tướng quân, mũ đơn điệp, áo phú hậu mỗi thứ một cái và cờ trống ấn gươm để cho tôi được dâng sức khó nhọc. Tôi lậy nhận rồi khôn xiết sợ hãi. Đáng lẽ phải tự mình chỉnh đốn hành trang thân đến cửa khuyết mà bái tạ ơn trời. Nhưng vì Gia Định chưa dẹp yên. Tôi xin khoan cho kỳ hạn, tôi sẽ đem quân bộ thuộc bản trại làm quân tiền khu cho quân nhà vua dẹp tan đám giặc ấy , thu lại đất cũ. Khiến cho dân biên giới đều thấm nhuần giáo hóa nhà vua. Sau khi thanh bình tôi xin thân đến cừa khuyết ngửa trông mật trời. Đấy là nguyện vọng của tôi”. Ông nhận thư lại cho Nhạc một bộ mũ áo ra trận và hiểu dụ rằng: “Nay tiếp người sai đến, đem đệ các biểu trần tạ, tình lễ, ý tứ đều là chu đáo. Bản đạo vâng mệnh Hoàng, Vương đem quân vào Nam, chính là để cứu vớt nhân dân, thu phục đất đai. Nay tướng quân đã quy thuận triều đình, dâng hiến 3 phủ là Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, lại xin làm tiền khu cho đại quân tiến đánh Gia Định. Chí và nghĩa thật đáng khen. Bản đạo lập tức chuyển đạt, chắc được soi xét đến. Còn các phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên nay đã dâng làm nơi thuộc triều đình. Bản đạo sẽ một phen đi kinh lược, cho thỏa lòng dân mong muốn. Nhưng nay dân đinh sơn trại Quy Nhơn, Phú Yên nhiều người tòng quân . Tướng quân cũng đương sắp sửa ra trận, nếu đại quân vào cõi, thì việc cơm nước, tiếp đón, lương thực tiễn đưa chẳng khỏi phiền phí. Bản đạo bàn tạm đóng ở Quảng Ngãi vỗ yên nhân dân, sau sẽ đi kinh lược, cũng chẳng muộn gì. Tướng quân nên đem ý ấy hiểu dụ nhân dân hai phủ này, cho thỏa lòng mong mỏi. Nay có mũ trận, áo trận, nhân tiện ban cho, để tướng quân mặc khi ra trận. Lại lính tiền bộ của tướng quân qua núi Thạch Bài, tiến đến đất Bình Khang. Lập tức nhân cơ hội đắc thắng, tiến thẳng đến Gia Định, chỉ cần mang lương một tháng, cũng có thể đến nơi được. Đã đến Gia Định tức là đất giầu có, gần đây buôn bán không lưu thông, lúa thóc còn đó đầy rẫy. Quân sĩ đi đấy, lo gì thiếu ăn, mà còn xin thêm một tháng lương? Nếu đến địa phương ấy, còn có chỗ thiếu thốn, nên trình báo ngay. Lại chiếu trong lời của tướng quân có nói: em út của tướng quân là Nguyễn Văn Bình, đem sức khỏe gắng công khó nhọc, nhiều lần đánh phá các tướng trấn giữ, chiếm được 12 đồn lũy, đuổi thẳng đến Bình Khang, công ấy đáng khen. Bản đạo nhân tiện cấp cho một đạo chứng chỉ tạm giao Nguyễn Văn Bình làm Tây Sơn hiệu Tiền phong tướng quân. Giao cả cho người phái đến đưa về để tỏ khuyến khích”. Triều đình nhìn nhận ông là Cột đá của Triều đình (Quốc gia trụ thạch), “Ngày 5 tháng 6 chúa thượng cho rằng Việp Công thuộc “Cừ vọng nguyên huân” người có công lao lớn vượt lên tất cả lớp người đương thời nên phải gia tăng lễ ưu đãi. Đặc lệnh từ nay về sau phải xưng Việp Công là Quốc Lão Công mà không được phép dùng từ Việp Công để xưng bẩm.” (Bình nam thực Lục) Ngày 17 tháng 7 tiến quân đến châu Ổ chân tê liệt quá, đi đứng phải có người nâng đỡ. Bèn bí mật đem bệnh tình tâu lên. Tháng 9 Hoàng Ngũ Phúc nghĩ các tướng sĩ khó nhọc đã lâu lại bị khí đất nung nấu, bệnh dịch sinh ra, nên bí mật định kế rút quân về. Nguyễn Lệnh Tân xin cùng Nguyễn Đình Đống lưu giữ Châu Ổ, Hiệp tán Nguyễn Nghiễm cũng muốn đóng quân ở Quảng Nam, đặt quan trấn thủ đất ấy. Ông đều không nghe, lập tức làm tờ khải dâng về báo chúa. Rồi mật truyền chủ tướng đem trước bệnh binh về Phú Xuân, thủy quân hộ vệ thuyền lương đi trước.
Ngày 22 tháng ấy ông từ Châu ổ rút quân về. Cho Hoàng Đình Thể đi sau cùng. Ngày 27 chúa Trịnh Sâm nhận được giấy xin rút quân về. Tay viết trát bảo cho rút quân về.
Ngày 1 tháng 10 Hoàng Ngũ Phúc về đến Thanh Hà tế các chiến sĩ chết trận, chết ốm, thu hài cốt đem về. Ngày 2 về đến dinh Phú Xuân. Ngày 24 dâng khải về triều: “Điều tai họa của thiên hạ chẳng gì lớn hơn là sức không đủ mà cố làm. Thuận Hóa đã dẹp yên, thế cũng đủ nguôi giận. Nay quân sĩ liền mấy năm bị sai phái mãi, nào vận lương, nào đánh giặc, người ở nhà, người ra đi đều mỏi mệt. Xin để Quảng Nam ra ngòi sự suy nghĩ, để sau sẽ tính. Chọn sai trấn thần, liệu lưu quan quân giữ đạo Thuận Hóa. Khiến cho binh dịch nhẹ gáng, nhân dân nghỉ vai. Sau một vài năm, lòng người ở Thuận Hóa đã ổn định, tài lực có thể dùng, bấy giờ mưu đánh Quảng Nam mới có đủ sức”. Ngày 4 tháng 11 chúa sai Thiêm tri Bình phiên Đoan Trung hầu đem hiệu binh Thị Tuyển đi đón Hoàng Ngũ Phúc. Chúa tự tay viết trát: “Ông là trọng thần của xã tắc, quan hệ đến sự an nguy của nhà nước. Nhiều lần muốn đón về điều dưỡng. Chỉ vì Thuận Hóa mới yên, nhân dân mới theo, việc đánh giữ và vỗ yên cần phải nhờ mưu hay của ông. Nếu không phải là người đức vọng tài chí, chưa dễ trấn phục được. Tìm người thay ông cũng khó. Nay ta tiếp được thư ông về. Lòng rất ái ngại. Ông hãy ở lại mươi ngày hay một tháng. Những việc xếp đặt đồn trại, liệu tính lương thực, khu xử binh dân, thu dụng hào kiệt, tất cả cá việc cần quy hoạch xong xuôi, chỉ thị cho các quan viên tuân theo diệu kế để lại, liệu lưu quan quân, ủy phó các viên làm thay việc quân, cho ta khỏi lo về phương Nam. Việc xong nên lập tức về Kinh”. Ngày 18 tháng 12 Hoàng Ngũ Phúc từ dinh Phú Xuân đem quân về kinh. Ngày 17 tháng giêng năm Bính Thân (1776), ông mất ở trên thuyền tại Vĩnh Dinh trấn Nghệ An. Tin về đến kinh, chúa Trịnh Sâm thương khóc mãi không thôi. Nghỉ chầu 3 ngày. Sai quan đem 5 thuyền đến hộ tang về bắc an táng, cho tên thụy là Trung Chính, tước Võ đại vương. Cấp cho số tiền thuế của 5 xã, mỗi năm một nghìn quan để thờ cúng. Gia phong là: “Ưu vọng tài trí thượng đẳng phúc thần" lại cho thờ phụ ở miếu đình.
Ông là trụ cột của triều đình, kiêm giữ cả hai ngôi tướng văn, tướng võ của hai triều. Được suy tôn là Nguyên Lão, Quốc Lão, Quốc Nguyên Lão, Túc vọng nguyên thần, Túc đức nguyên thần nhậm kiêm tướng tướng, Nguyên Lão trong Kinh Thi, Đại nhân trong Kinh Dịch… Đứng đầu chính phủ kiêm trấn thủ Sơn Nam, Hải Dương đất Quan Trung, Hà Nội khiến bốn nước xung quanh phải phụ thuộc, trông coi chính sự thì không ai không đồng tình, cai quản dân thì người xa người gần không ai không nhớ mong, đức độ tỏa sáng xung quanh thì từ lớn đến bé không ai không tin tưởng. Khi có chiến tranh ông là Trưởng Tử xuất sư (Hào 2 quẻ Sư), hành quân có kỷ luật kẻ phạm tội không thể cầu cạnh để xin tha. Khi tiến đánh ông là hiện thân của Thành Thang nhà Hạ: Mở ba mặt lưới mà đánh dẹp. Dụng binh là kết tinh hoa của Võ Vương nhà Chu: Quân đi đến đâu giỏ cơm bầu nước đấy đường thỏa lòng dân mong ngóng. Ông có cái uy danh của Quách Tử Nghi đời Đường, Hàn Kỳ đời Tống, Tạ Huyền đời Tấn, Phương Thúc đời Chu…. Tướng lược của ông biến hóa vô thường: Dùng văn phạt để vượt Lũy Thầy, lấy Phú Xuân. Dùng võ phạt để thu dụng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cho làm tướng tiên phong, dương cao cờ đại nghĩa của triều đình Lê Trịnh đi bình nam, thống nhất giang sơn. Chấm dứt 200 năm chia cắt đất nước thu giang sơn về một mối từ Nam Quan đến mũi Cà Mau. Công trạng của ông đến Thái khi, xuất sa cũng không hơn thế. Các bậc Nguyên Huân thời cổ cũng không hơn được. Trận đánh Nam Hà là một kỳ công của thiên niên kỷ có một không hai của Đại việt, nhìn rộng đến cổ kim, Đông Tây cũng chưa thấy. Ông mất đi để lại niềm tiếc thương vô hạn:
Khi ông lâm bệnh chúa lo nghĩ: “Hoặc giả lòng trời chưa muốn thống nhất mà xui nên thế chăng?...”.
Quốc tang 3 ngày có hàng trăm câu đối viếng: Bia còn đó mà người thì đi mất: Lai mộ ca tàn nhân lão hĩ, Khứ tư bi tại lệ thê nhiên (Đêm qua cuộc ca tàn thì con người đã già rồi, Người thì đi mất mà bia còn đó, lệ ướt nhòa khăn) Đọa lệ bi tồn cầu đái lãnh, Hàn tâm dao tại giáp binh thu: Lệ rơi bia còn đó mà dải áo cầu đã nguôi lạnh, Lòng đã nguội, lời đồng dao còn đó thì binh khí thu lại. Lời ca tụng xen lẫn tiếng khóc thương: Lã Thượng vi chi niên bát thập, Mạnh Thường do hữu khách tam thiên: Lã Thượng chưa hề biết mình 80 tuổi, Mạnh Thường không biết mình có đến ba nghìn tân khách. Nguyên thượng đồng bi Gia Cát tử, Sư trung do lạc Tử Nhi khoan: Trên cao nguyên cùng xót thương Gia Cát qua đời, Trong quân đội vẫn vui nhớ đến Quách Tử Nghi khoan dung
Hoàng văn Thư
115.75.63.194 (thảo luận) 01:57, ngày 27 tháng 8 năm 2009 (UTC)