Thất cung
Thất cung (칠궁; 七宮), tức chỉ các vị Hậu cung là sinh mẫu của Quốc vương nhà Triều Tiên. Trong lịch sử, có 7 vị hậu cung là sinh mẫu Quốc vương và đều được ban cung hiệu (đồng thời là tên nơi họ được thờ sau khi mất), nên được gọi là "Thất cung" cùng với viên hiệu (tên nơi an táng) (trừ trường hợp Trương Hy tần vẫn giữ nguyên quy cách gọi "mộ").
Nhà Triều Tiên vốn coi trọng thứ bậc đích - thứ, nên các hậu cung tần ngự dù là sinh mẫu của Quốc vương cũng không được phong làm Vương đại phi hay truy phong Vương hậu sau khi qua đời (không giống như nhà Minh hay nhà Thanh, thường truy phong phi tần sinh mẫu của Hoàng đế làm Hoàng hậu hay tôn làm Hoàng thái hậu khi còn sống), mà chỉ được gọi là "Cung" kèm mỹ hiệu, một số vẫn duy trì phong hiệu cũ.
Ban đầu, vào thời Cao Tông năm thứ 10 (1873), danh sách các cung được liệt kê gồm: Trữ Khánh Cung, Đại Tần Cung, Dục Tường Cung, Diên Hỗ Cung, Tuyên Hi Cung, Cảnh Hựu Cung cùng Nghi Tần Cung (nơi thờ Nghi tần Thành thị, hậu cung của Triều Tiên Chính Tổ Lý Toán, sinh mẫu của Văn Hiếu Thế tử Lý Hanh), trong đó Nghi Tần cung được chính thức nằm trong Thất cung năm 1898 (Quang Vũ năm thứ 2). Tuy nhiên, năm Long Hi thứ 2 (1908), thời vua Thuần Tông, tất cả nơi thờ cúng của Thất cung bị quốc hữu hóa và bài vị của Thất cung được chuyển đến Dục Tường Cung để cùng thờ cúng, lúc này Nghi Tần Cung lại bị gạt ra khỏi danh sách các cung, bài vị cũng không được đưa vào cùng mà được đưa về thờ riêng. Mãi đến năm 1929, khi Đức An Cung được xây dựng, bài vị cũng được đưa vào thay thế và trở thành Thất cung như hiện nay.
Trữ Khánh Cung
저경궁 (Jeo-gyeong gung, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.)
Hậu cung thời vua Triều Tiên Tuyên Tổ, mẹ của Triều Tiên Nguyên Tông (Định Viễn Đại viện quân), tổ mẫu của Triều Tiên Nhân Tổ, sinh thời là Kính Huệ Nhân tần họ Kim (Kyeong-hye In-bin Kim-ssi). Táng tại Thuận Khang viên (Sun-kang won).
Đại Tần Cung
대빈궁 (Dae-bin gung, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.)
Hậu cung thời vua Triều Tiên Túc Tông, mẹ của Triều Tiên Cảnh Tông, sinh thời là Hy tần họ Trương (Hui-bin Jang-ssi), sau Cảnh Tông dâng thụy Ngọc Sơn Phủ Đại tần (Oksan Budaebin Jang-ssi). Táng tại Đại Tần mộ (Dae-bin mo).
Dục Tường Cung
육상궁 (Yuk-sang gung, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.)
Hậu cung thời vua Triều Tiên Túc Tông, mẹ của Triều Tiên Anh Tổ, sinh thời là Hòa Kính Thục tần họ Thôi (Hwa-kyeong Suk-bin Choe-ssi). Táng tại Chiêu Ninh viên (So-ryeong won).
Diên Hỗ Cung
연호궁 (Yeon-ho gung, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.)
Hậu cung thời vua Triều Tiên Anh Tổ, mẹ của Triều Tiên Chân Tông (Hiếu Chương Thế tử), sinh thời là Ôn Hi Tĩnh tần họ Lý (On-hee Jeong-bin Lee-ssi). Táng tại Tuy Cát viên (Su-gil won).[1]
Tuyên Hi Cung
선희궁 (Seon-hui gung, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.)
Hậu cung thời vua Triều Tiên Anh Tổ, mẹ của Triều Tiên Trang Tổ (Trang Hiến Thế tử), tổ mẫu của Triều Tiên Chính Tổ, sinh thời là Chiêu Dụ Ánh tần họ Lý (So-yu Yeong-bin Lee-ssi). Táng tại Tuy Khánh viên (Su-gyeong won).
Cảnh Hựu Cung
경우궁 (Gyeong-woo gung, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.)
Hậu cung thời vua Triều Tiên Chính Tổ, mẹ của Triều Tiên Thuần Tổ, sinh thời là Hiển Mục Tuy tần họ Phác (Hyeon-mok Su-bin Park-ssi). Táng tại Huy Khánh viên (Hwi-gyeong won).
Bà là người duy nhất trong Thất cung chứng kiến con mình lên ngôi, và là người duy nhất được hưởng mọi lễ nghi dành cho Vương mẫu của Quốc vương trên thực tế, dưới thời vua Thuần Tổ con trai mình.
Đức An Cung
덕안궁 (Deok-an gung, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.)
Hậu cung thời vua Triều Tiên Cao Tông, mẹ của Triều Tiên Anh Thân Vương (Ý Mẫn Thái tử), sinh thời là Thuần Hiến Hoàng quý phi họ Nghiêm (Sun-heon Hwang-gwi-bi Eom-ssi). Táng tại Vĩnh Huy viên (Yeong-hwi won).
Tham khảo
- ^ Năm 1764, trong Kỷ Tỵ họa biến (己巳禍變), vua Anh Tổ buộc Chính Tổ (lúc này là Vương thế tôn) phải làm con thừa tự của Hiếu Chương Thế tử Lý Hành (con trai trưởng của Anh Tổ và bà Tĩnh tần Lý thị) để đảm bảo ngôi vị trữ quân. Khi Chính Tổ lên ngôi năm 1776, ông đã truy tôn vợ chồng Hiếu Chương Thế tử và Hiếu Thuần Hiền tần thành Chân Tông Đại vương và Hiếu Thuần Vương hậu, đồng thời dâng thụy hiệu và cung hiệu, viên hiệu cho bà Tĩnh tần.