Chương trình Thần Châu
Bản mẫu:Short description Bản mẫu:Infobox space program Chương trình không gian có người lái Trung Quốc (CMS; Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.), còn được gọi là Dự án 921 (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.) là một chương trình không gian được phát triển bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và được điều hành bởi Cơ quan Vũ trụ có người lái Trung Quốc (CMSA) trực thuộc Bộ Phát triển Trang bị của Ủy ban Quân sự Trung ương, được thiết kế để phát triển và nâng cao năng lực chuyến bay vũ trụ có người lái cho Trung Quốc. Tính đến năm 2026[cập nhật], Trung Quốc đã thực hiện 16 đợt phóng chuyến bay vũ trụ có người lái, tất cả đều sử dụng tàu vũ trụ Thần Châu đặt trên tên lửa Trường Chinh 2F, lần gần nhất là Thần Châu 21.
Được phê duyệt vào ngày 21 tháng 9 năm 1992, Vương Vĩnh Chí là tổng công trình sư đầu tiên của chương trình cho đến năm 2006. Tổng công trình sư hiện tại là Chu Kiến Bình. CMSA do giám đốc Bộ Phát triển Trang bị đứng đầu, hiện là Thượng tướng Hứa Học Cường.
CMS được chia thành "ba bước":[1]
- Phóng và thu hồi tàu vũ trụ có người lái
- Gặp gỡ và kết nối với một phòng thí nghiệm không gian (với khả năng hoạt động ngoài tàu)
- Trạm không gian mô-đun dài hạn
CMS đã đạt được cả ba bước, với Thần Châu 5 vào năm 2003, Thần Châu 9 kết nối với Thiên Cung 1 vào năm 2012, và việc lắp ráp trạm vũ trụ Thiên Cung vào năm 2022. Trung Quốc do đó đã trở thành quốc gia thứ ba đạt được chuyến bay vũ trụ có người lái và vận hành một trạm vũ trụ (sau Liên Xô/Nga và Hoa Kỳ), cũng như là quốc gia thứ hai vận hành hoàn toàn một trạm vũ trụ mô-đun (sau trạm Mir của Liên Xô/Nga). CMSA đã lên kế hoạch cho các sứ mệnh có người lái lên Mặt Trăng từ năm 2030 thuộc Chương trình thám hiểm Mặt Trăng của Trung Quốc,[2] dự kiến sử dụng tàu quỹ đạo Mặt Trăng có người lái Mộng Chu và tàu đổ bộ Lãm Nguyệt, đặt trên tên lửa Trường Chinh 10.
Lịch sử
Nghiên cứu chính thức về chuyến bay vũ trụ có người lái của Trung Quốc bắt đầu vào năm 1968. Một viện kỹ thuật y sinh không gian được thành lập tại Bắc Kinh.[3] Đây là tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Phi hành gia Trung Quốc, nơi các phi hành gia Trung Quốc được huấn luyện trong những thập kỷ sau đó. Trước đó, vào năm 1964, Trung Quốc đã phóng một tên lửa thăm dò, mang theo một số động vật nhỏ lên độ cao 70 km như một nỗ lực nhằm nghiên cứu tác động của chuyến bay vũ trụ đối với các sinh vật sống.[3]
Vào ngày 24 tháng 4 năm 1970, Trung Quốc đã phóng vệ tinh đầu tiên, Đông Phương Hồng I, vào quỹ đạo. Năm 1970, Tiền Học Sâm, cha đẻ của chương trình không gian Trung Quốc, đã giới thiệu dự án chuyến bay vũ trụ có người lái của mình, sau này được gọi là Dự án 714. Một phiên bản sơ khai của tàu vũ trụ có người lái mang tên Thự Quang 1 đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, chương trình này đã bị hủy bỏ do thiếu kinh phí và sự quan tâm về chính trị. Thay vào đó, Trung Quốc quyết định vào năm 1978 theo đuổi phương pháp đưa phi hành gia vào không gian bằng các khoang đổ bộ đạn đạo quen thuộc hơn dựa trên FSW. Hai năm sau, vào năm 1980, chính phủ Trung Quốc đã hủy bỏ chương trình này với lý do lo ngại về chi phí.[4]
Để có thêm kinh nghiệm liên quan, Trung Quốc đã phóng và thu hồi vệ tinh có khả năng thu hồi đầu tiên của mình, Phản hồi thức Vệ tinh, vào ngày 26 tháng 11 năm 1975.[5] Sự thành công của sứ mệnh đã chứng minh khả năng điều khiển tàu trở lại bầu khí quyển của Trung Quốc.
Năm 1986, Chương trình 863 được chính phủ Trung Quốc tài trợ. Mục đích của chương trình là thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ trong một số lĩnh vực then chốt, bao gồm cả năng lực không gian.[6]
Chương trình chuyến bay vũ trụ có người lái của Trung Quốc, được gọi chính thức là Chương trình không gian có người lái Trung Quốc, đã được Ban Thường vụ Bộ Chính trị chính thức phê duyệt vào ngày 21 tháng 9 năm 1992 với tên gọi Dự án 921,[7] và bắt đầu triển khai từ ngày 1 tháng 1 năm 1993. Kế hoạch ban đầu có ba bước:[1]
- Bước 1: Phóng tàu vũ trụ có người lái với mục tiêu xây dựng năng lực cơ bản trong thám hiểm không gian có người lái và các thí nghiệm không gian.
- Bước 2: Phóng phòng thí nghiệm không gian với nhiệm vụ tạo ra những đột phá về công nghệ cho các hoạt động ngoài tàu, quy trình gặp gỡ và kết nối tàu vũ trụ, cũng như cung cấp giải pháp cho việc sử dụng không gian có con người điều khiển ở một quy mô nhất định và trong thời gian ngắn.
- Bước 3: Thiết lập một Trạm Không gian với mục tiêu cung cấp giải pháp cho việc sử dụng không gian có con người điều khiển ở quy mô lớn hơn và dài hạn hơn.
Chương trình do một tổng chỉ huy và một tổng công trình sư dẫn dắt, lần lượt xử lý các vấn đề hành chính và kỹ thuật. Các cuộc họp liên tịch giữa hai vị trí này chịu trách nhiệm đưa ra quyết định về các vấn đề quan trọng trong quá trình triển khai dự án.[7] Tổng công trình sư đầu tiên của chương trình là Vương Vĩnh Chí. Một tổ chức mới, Cơ quan Vũ trụ có người lái Trung Quốc (CMSA) trực thuộc Bộ Phát triển Trang bị của Ủy ban Quân sự Trung ương, đã được thành lập để quản lý chương trình.
Năm 1994, Trung Quốc ký thỏa thuận hợp tác với Nga để mua các công nghệ hàng không vũ trụ. Năm 1995, một thỏa thuận được ký kết giữa hai nước về việc chuyển giao công nghệ tàu vũ trụ Soyuz của Nga cho Trung Quốc. Thỏa thuận bao gồm lịch trình huấn luyện phi hành gia, cung cấp các khoang đổ bộ Soyuz, hệ thống hỗ trợ sự sống, hệ thống kết nối và bộ đồ du hành vũ trụ. Năm 1996, hai phi hành gia Trung Quốc là Ngô Kiệt và Lý Khánh Long bắt đầu huấn luyện tại Trung tâm huấn luyện phi hành gia Yuri Gagarin ở Nga. Sau khi huấn luyện xong, những người này trở về Trung Quốc và tiến hành huấn luyện các phi hành gia Trung Quốc khác tại các địa điểm gần Bắc Kinh và Tửu Tuyền.[8]
Phần cứng và bí quyết mua từ Nga đã dẫn đến những sửa đổi đối với tàu vũ trụ Bước Một ban đầu, sau này được gọi là Thần Châu, tạm dịch là "con thuyền thần kỳ". Các cơ sở phóng mới được xây dựng tại bãi phóng Tửu Tuyền ở Nội Mông, và vào mùa xuân năm 1998, một mô hình của tên lửa đẩy Trường Chinh 2F cùng tàu vũ trụ Thần Châu đã được đưa ra để thực hiện các thử nghiệm tích hợp và cơ sở hạ tầng.[8]
Quá trình phát triển
Bước Một
Việc phát triển Trường Chinh 2F, tên lửa đẩy đầu tiên đạt tiêu chuẩn chở người của Trung Quốc, bắt đầu vào tháng 9 năm 1992.[9] Nó được phát triển dựa trên mẫu Trường Chinh 2E, nhưng có thêm hệ thống thoát hiểm khi phóng và hệ thống điều khiển dự phòng.
Vào tháng 12 năm 1994, cuộc thử nghiệm kích hỏa động cơ tên lửa đạt chuẩn chở người lần đầu tiên đã hoàn thành thành công.[9]
Năm 1996, hai phi công thuộc Lực lượng Không quân là Ngô Kiệt và Lý Khánh Long đã được tuyển chọn và gửi sang Nga để huấn luyện tại Trung tâm Huấn luyện Phi hành gia Yuri Gagarin.[10]
Vào tháng 1 năm 1998, 14 phi công đã được chọn làm nhóm ứng viên phi hành gia đầu tiên của Trung Quốc.[11]
Vào tháng 11 năm 1998, một trung tâm điều khiển bay mới, Trung tâm Kiểm soát Chuyến bay Vũ trụ Bắc Kinh, đã được khánh thành để hỗ trợ các sứ mệnh CMS.[10] Cũng trong năm đó, một khu phức hợp phóng mới áp dụng chiến lược "ba thẳng đứng" tiên tiến (lắp ráp thẳng đứng, thử nghiệm thẳng đứng và vận chuyển thẳng đứng) đã được đưa vào hoạt động tại Trung tâm Phóng vệ tinh Tửu Tuyền để phục vụ riêng cho các sứ mệnh CMS.[12]
Vào ngày 19 tháng 11 năm 1999, Thần Châu 1, tàu vũ trụ Thần Châu không người lái đầu tiên, đã được phóng từ Trung tâm Phóng vệ tinh Tửu Tuyền và đi vào quỹ đạo định trước. Mô hình thử nghiệm điện mặt đất đã được sử dụng trong chuyến bay thử nghiệm này để kịp thời hạn cuối năm 1999.[10] Khoang đổ bộ của tàu vũ trụ đã tách thành công khỏi các bộ phận khác và hạ cánh an toàn xuống Nội Mông vào ngày hôm sau. Mặc dù chỉ có một số hệ thống hạn chế được thử nghiệm, sứ mệnh này vẫn là một chuyến bay thử nghiệm thành công đối với tàu vũ trụ Thần Châu và tên lửa Trường Chinh 2F.
Chuyến bay thử nghiệm thứ hai của Thần Châu diễn ra vào ngày 10 tháng 1 năm 2001. Thần Châu 2, con tàu không người lái chính thức đầu tiên của Trung Quốc, đã được phóng lên quỹ đạo và ở lại trong bảy ngày trước khi khoang đổ bộ tách ra.[13] Tuy nhiên, dù đã không mở được khi tàu trở lại bầu khí quyển, dẫn đến việc hạ cánh cứng.
Năm 2002, Trung Quốc phóng Thần Châu 3 và Thần Châu 4; cả hai đều kết thúc thành công.[10]
Lần phóng thứ năm, Thần Châu 5, là lần đầu tiên chở người (Dương Lợi Vĩ) và diễn ra lúc 01:00:00 UTC ngày 15 tháng 10 năm 2003.[14] 587 giây sau khi cất cánh, con tàu tách khỏi tên lửa và đi vào quỹ đạo elip với độ nghiêng 42,4°, độ cao cận điểm 199,14 km và độ cao viễn điểm 347,8 km.[15] Dương Lợi Vĩ trở thành người Trung Quốc đầu tiên bay vào không gian bằng tên lửa đẩy và tàu vũ trụ của Trung Quốc. Lúc 22:23 UTC ngày 15 tháng 10 năm 2003, mô-đun trở lại đã hạ cánh an toàn xuống khu vực trung tâm Nội Mông. Toàn bộ sứ mệnh kéo dài 21 giờ 23 phút, đưa Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba có khả năng đưa con người vào không gian và trở lại một cách độc lập, sau Nga và Hoa Kỳ.
Chuyến bay vũ trụ có người lái "nhiều người và nhiều ngày" đầu tiên, Thần Châu 6, được thực hiện từ ngày 12 đến 17 tháng 10 năm 2005. Các phi hành gia Phí Tuấn Long và Nhiếp Hải Thắng đã dành hơn 4 ngày trong không gian và quay quanh Trái Đất 76 vòng.[16]
Bước Hai
Mục tiêu của Bước Hai của CMS là tạo ra những đột phá công nghệ trong các hoạt động ngoài tàu (EVA) cũng như gặp gỡ và kết nối tàu vũ trụ để hỗ trợ các hoạt động ngắn hạn của con người trong không gian.[17] Để hoàn thành mục tiêu, Trung Quốc đã phóng nhiều sứ mệnh có người lái và không người lái, bao gồm cả hai mô hình thử nghiệm của trạm vũ trụ Trung Quốc.
Giai đoạn 1: EVA, gặp gỡ và kết nối không gian
Vào ngày 25 tháng 9 năm 2008, Thần Châu 7 đã được phóng vào không gian cùng ba phi hành gia Trạch Chí Cương, Lưu Bá Minh và Cảnh Hải Bằng. Trong chuyến bay, Trạch Chí Cương và Lưu Bá Minh đã hoàn thành chuyến EVA đầu tiên của Trung Quốc lần lượt bằng bộ đồ du hành vũ trụ Phi Thiên sản xuất tại Trung Quốc và bộ đồ Hải Ưng nhập khẩu từ Nga.[18]
Để thực hành việc gặp gỡ và kết nối trong không gian, Trung Quốc đã phóng một thiết bị mục tiêu nặng 8.000 kg (18.000 lb), Thiên Cung 1, vào năm 2011 bằng một biến thể của Trường Chinh 2F,[19] tiếp theo là Thần Châu 8, con tàu Thần Châu không người lái đầu tiên kể từ sau Thần Châu 5. Hai con tàu đã thực hiện cuộc gặp gỡ và kết nối tự động đầu tiên của Trung Quốc vào ngày 3 tháng 11 năm 2011, giúp xác minh hiệu suất của các quy trình và cơ chế kết nối.[20] Khoảng 9 tháng sau, Thiên Cung 1 đã hoàn thành cuộc gặp gỡ và kết nối thủ công đầu tiên với Thần Châu 9, một con tàu có người lái chở Cảnh Hải Bằng, Lưu Vượng và nữ phi hành gia đầu tiên của Trung Quốc Lưu Dương.[21]
Vào ngày 11 tháng 6 năm 2013, tàu vũ trụ có người lái Thần Châu 10 chở các phi hành gia Nhiếp Hải Thắng, Trương Hiểu Quang và Vương Á Bình đã được phóng lên quỹ đạo và kết nối với Thiên Cung 1. Ba phi hành gia đã dành 12 ngày trong Thiên Cung 1 để thực hiện các thí nghiệm khoa học, giảng bài cho hơn 60 triệu học sinh tại Trung Quốc và thực hiện thêm các thử nghiệm kết nối trước khi trở về Trái Đất an toàn.[22] Việc hoàn thành các sứ mệnh từ Thần Châu 6 đến Thần Châu 10 đã chứng minh sự tiến bộ kỹ thuật của Trung Quốc trong chuyến bay vũ trụ có người lái, kết thúc giai đoạn 1 của Bước Hai.[23]
Giai đoạn 2: Phòng thí nghiệm không gian
Để nâng cao hơn nữa khả năng thực hiện các chuyến bay vũ trụ có người lái và chuẩn bị cho việc xây dựng trạm vũ trụ trong tương lai, Trung Quốc đã khởi động giai đoạn hai của Bước Hai, bao gồm bốn sứ mệnh phòng thí nghiệm không gian.
Vào tháng 6 năm 2016, Trung Quốc đã thực hiện chuyến bay đầu tiên của Trường Chinh 7, một thế hệ tên lửa đẩy hạng trung mới có khả năng đưa tải trọng lớn hơn lên quỹ đạo Trái Đất thấp, từ Bãi phóng Vũ trụ Văn Xương mới được xây dựng tại tỉnh ven biển Hải Nam.[24]
Vào tháng 9 năm 2016, Thiên Cung 2 được phóng lên quỹ đạo. Đây là một phòng thí nghiệm không gian với các chức năng và thiết bị tiên tiến hơn so với Thiên Cung 1. Một tháng sau, Thần Châu 11 được phóng và kết nối với Thiên Cung 2. Hai phi hành gia Cảnh Hải Bằng và Trần Đông đã tiến vào Thiên Cung 2 và lưu trú tại đó khoảng 30 ngày, phá kỷ lục sứ mệnh vũ trụ có người lái dài nhất của Trung Quốc, đồng thời xác minh khả năng lưu trú trung hạn của phi hành gia trong không gian.[24]
Vào tháng 4 năm 2017, tàu vận tải đầu tiên của Trung Quốc, Thiên Châu 1, đã kết nối với Thiên Cung 2 và hoàn thành nhiều thử nghiệm nạp nhiên liệu đẩy trên quỹ đạo, đánh dấu việc hoàn thành thành công Bước Hai của CMS.[24]
Bước Ba
Vào ngày 5 tháng 5 năm 2020, Trung Quốc đã phóng thành công chuyến bay đầu tiên của tên lửa Trường Chinh 5B, với khả năng mang tải trọng hơn 22.000 kg (49.000 lb), cho phép Trung Quốc đưa một mô-đun trạm vũ trụ lớn lên quỹ đạo Trái Đất thấp.[25] Sứ mệnh này đã mở đầu cho Bước Ba của CMS.[26]
Bước Ba nhằm mục tiêu hoàn thành việc xây dựng trạm vũ trụ Thiên Cung của Trung Quốc. Bước này có thể được chia thành hai giai đoạn:[27]
Giai đoạn 1: Trình diễn các công nghệ then chốt
Vào ngày 29 tháng 4 năm 2021, tên lửa Trường Chinh 5B thứ hai đã cất cánh từ Văn Xương, mang theo mô-đun lõi Thiên Hòa nặng 22.500 kg (49.600 lb), đây là con tàu vũ trụ phức tạp nhất do Trung Quốc độc lập phát triển. Mô-đun lõi đã đi vào quỹ đạo định trước khoảng 494 giây sau khi phóng, đánh dấu sự bắt đầu của quá trình xây dựng trên quỹ đạo của trạm vũ trụ Trung Quốc.[27]
Vào ngày 29 tháng 5 năm 2021, Thiên Châu 2, tàu vận tải đầu tiên đến trạm vũ trụ, đã được tên lửa Trường Chinh 7 phóng lên và kết nối với mô-đun lõi Thiên Hòa 8 giờ sau đó.[28] Lô hàng bao gồm nhu yếu phẩm cho phi hành gia, thiết bị trạm vũ trụ, bộ đồ du hành vũ trụ hoạt động ngoài tàu và nhiên liệu đẩy.[29]
Sứ mệnh có người lái đầu tiên đến Thiên Hòa, Thần Châu 12, đã được phóng từ Trung tâm Phóng vệ tinh Tửu Tuyền vào ngày 17 tháng 6 năm 2021. Con tàu đã thực hiện cuộc gặp gỡ và kết nối nhanh tự động có người lái đầu tiên của Trung Quốc sau 6 giờ 32 phút kể từ khi phóng.[30] Ba thành viên phi hành đoàn, Nhiếp Hải Thắng, Lưu Bá Minh và Thang Hồng Ba, đã trở thành những cư dân đầu tiên của Trạm vũ trụ Thiên Cung.
Lúc 00:11 UTC ngày 4 tháng 7 năm 2021, hai thành viên phi hành đoàn Thần Châu 12, Lưu Bá Minh và Thang Hồng Ba, đã thực hiện chuyến EVA đầu tiên trên trạm vũ trụ, kéo dài trong 6 giờ 46 phút, phá xa kỷ lục EVA 20 phút trước đó được thực hiện trong sứ mệnh Thần Châu 7 vào năm 2008.[31]
Phi hành đoàn Thần Châu 12 đã trở về Trái Đất an toàn vào ngày 17 tháng 9 năm 2021.[32]
Vào ngày 20 tháng 9 năm 2021, tàu vận tải Thiên Châu 3 đã được phóng lên Trạm vũ trụ Thiên Cung.[33]
Vào ngày 15 tháng 10 năm 2021, Thần Châu 13 được phóng và kết nối với mô-đun lõi Thiên Hòa 6,5 giờ sau đó. Kế hoạch là phi hành đoàn, bao gồm Trạch Chí Cương, Vương Á Bình và Diệp Quang Phú, sẽ hoàn thành đợt lưu trú sáu tháng, đợt lưu trú dài nhất kể từ khi bắt đầu chương trình.[34] Khoảng ba tuần sau, Trạch Chí Cương và Vương Á Bình đã hoàn thành chuyến EVA đầu tiên của phi hành đoàn vào ngày 7 tháng 11 năm 2021, đưa Vương Á Bình trở thành nữ phi hành gia Trung Quốc đầu tiên thực hiện EVA.[35]
Lúc 07:59 UTC ngày 27 tháng 3 năm 2022, tàu vận tải Thiên Châu 2 đã tách khỏi mô-đun lõi Thiên Hòa sau khi hoàn thành sứ mệnh,[36] sau đó nó được điều khiển để trở lại bầu khí quyển phía trên vùng biển Nam Thái Bình Dương vào ngày 31 tháng 3 năm 2022.[37] Phi hành đoàn Thần Châu 13 đã trở về Trái Đất an toàn vào ngày 16 tháng 4 năm 2022.[38]
Giai đoạn 2: Lắp ráp và xây dựng
Sau khi kết thúc giai đoạn 1, 6 sứ mệnh nữa sẽ được thực hiện để triển khai giai đoạn 2, bao gồm việc phóng 2 mô-đun thí nghiệm của Thiên Cung, 2 tàu vận tải và 2 tàu vũ trụ có người lái. Tất cả các sứ mệnh này được lên kế hoạch thực hiện vào cuối năm 2022.[39]
Vào ngày 9 tháng 5 năm 2022, tàu vận tải Thiên Châu 4 đã được phóng lên Trạm vũ trụ Thiên Cung,[40] và kết nối với trạm vào ngày hôm sau.
Vào ngày 5 tháng 6 năm 2022, Thần Châu 14 được phóng và kết nối với mô-đun lõi Thiên Hòa gần 7 giờ sau đó. Phi hành đoàn, bao gồm Trần Đông, Lưu Dương và Thái Húc Triết, đã dành sáu tháng trên trạm vũ trụ trong sứ mệnh có người lái đầu tiên của giai đoạn xây dựng.[41]
Lúc 02:59 UTC ngày 17 tháng 7 năm 2022, tàu vận tải Thiên Châu 3 đã tách khỏi mô-đun lõi Thiên Hòa sau khi hoàn thành sứ mệnh.[42]
Vào ngày 24 tháng 7 năm 2022, tên lửa Trường Chinh 5B thứ ba đã cất cánh từ Văn Xương, mang theo mô-đun cabin thí nghiệm Vấn Thiên nặng 23.200 kg (51.100 lb), đây là tàu vũ trụ lớn nhất và nặng nhất từng được Trung Quốc phóng lên. Mô-đun đã kết nối với trạm vũ trụ chưa đầy 20 giờ sau đó, trở thành mô-đun thứ hai và là mô-đun thí nghiệm đầu tiên được lắp thêm vào trạm.[43]
Lúc 10:26 UTC ngày 1 tháng 9 năm 2022, hai thành viên phi hành đoàn Thần Châu 14, Trần Đông và Lưu Dương, đã thực hiện chuyến EVA đầu tiên từ khoang khóa khí của mô-đun Vấn Thiên, kéo dài 6 giờ 7 phút.[44] Khoảng hai tuần sau, vào ngày 17 tháng 9 năm 2022, lúc 05:35 UTC, chuyến đi bộ ngoài không gian thứ hai được thực hiện bởi Trần Đông và Thái Húc Triết qua khoang khóa khí của mô-đun thí nghiệm Vấn Thiên, với sự hỗ trợ của Lưu Dương từ bên trong mô-đun lõi Thiên Hòa.[45]
Vào ngày 31 tháng 10 năm 2022, tên lửa Trường Chinh 5B thứ tư đã cất cánh từ Văn Xương, mang theo mô-đun cabin thí nghiệm Mộng Thiên nặng 23.200 kg (51.100 lb). Mô-đun đã kết nối với trạm vũ trụ chưa đầy 13 giờ sau đó, trở thành mô-đun thứ ba và là mô-đun thí nghiệm thứ hai của trạm.[46] Vào ngày 3 tháng 11 năm 2022, trạm vũ trụ Thiên Cung hình chữ 'T' đã được hình thành sau khi di chuyển vị trí của mô-đun cuối cùng.[47]
Lúc 06:55 UTC ngày 9 tháng 11 năm 2022, tàu vận tải Thiên Châu 4 đã tách khỏi mô-đun lõi Thiên Hòa sau khi hoàn thành sứ mệnh.
Vào ngày 12 tháng 11 năm 2022, tàu vận tải Thiên Châu 5 được phóng lên Trạm vũ trụ Thiên Cung và kết nối sau 2 giờ 7 phút, phá kỷ lục thế giới về thời gian gặp gỡ và kết nối nhanh nhất giữa một tàu vũ trụ và một trạm vũ trụ.[48]
Lúc 03:16 UTC ngày 17 tháng 11 năm 2022, chuyến đi bộ ngoài không gian thứ ba được thực hiện, tiếp tục bởi Trần Đông và Thái Húc Triết qua khoang khóa khí của mô-đun thí nghiệm Vấn Thiên, với sự hỗ trợ của Lưu Dương từ bên trong mô-đun lõi Thiên Hòa.
Lúc 15:08 UTC ngày 29 tháng 11 năm 2022, Thần Châu 15 được phóng từ Trung tâm Phóng vệ tinh Tửu Tuyền; con tàu kết nối với trạm vũ trụ khoảng 6 tiếng rưỡi sau đó lúc 21:42 UTC. Các phi hành gia Phí Tuấn Long, Đặng Thanh Minh và Trương Lục (phi hành đoàn Thần Châu 15) đã được phi hành đoàn Thần Châu 14 chào đón, hoàn thành đợt bàn giao phi hành đoàn trực tiếp đầu tiên trên trạm vũ trụ Trung Quốc.[49]
Với việc hoàn thành xây dựng, Trạm Vũ trụ bắt đầu giai đoạn ứng dụng và có người ở thường xuyên, trong đó việc luân chuyển phi hành đoàn sẽ trở thành hoạt động định kỳ. Trạm dự kiến sẽ hoạt động trên quỹ đạo không ít hơn 10 năm,[39] và có thể lên tới 15 năm, cho đến năm 2038.[50]
Cơ cấu thành phần
Chương trình không gian có người lái Trung Quốc bao gồm nhiều hệ thống được hỗ trợ bởi một nền tảng công nghiệp rộng lớn trên toàn quốc. Hơn 110 đơn vị và doanh nghiệp đã trực tiếp đảm nhận công việc phát triển và xây dựng, trong khi hơn 1.000 tổ chức khác từ các lĩnh vực như hàng không, đóng tàu, máy móc, điện tử, hóa chất, luyện kim và xây dựng — cùng nhiều tỉnh, thành phố và khu tự trị — đã tham gia hỗ trợ.[51]
Các hệ thống và mục tiêu chính của chúng như sau:[1]
- Hệ thống Phi hành gia: Chịu trách nhiệm tuyển chọn và huấn luyện phi hành gia, thực hiện giám sát y tế và hỗ trợ phi hành gia trong quá trình huấn luyện và khi đang bay.
- Hệ thống Ứng dụng Không gian: Hỗ trợ các thí nghiệm khoa học và nghiên cứu ứng dụng bằng các thiết bị và tải trọng trên tàu.
- Hệ thống Tên lửa đẩy:
- Trường Chinh 2F: Tên lửa đẩy hạng trung đạt chuẩn chở người được sử dụng để phóng tàu vũ trụ Thần Châu và các phòng thí nghiệm không gian thời kỳ đầu.
- Trường Chinh 7: Tên lửa đẩy hạng trung được sử dụng để phóng tàu vận tải Thiên Châu.
- Trường Chinh 5B: Tên lửa đẩy hạng nặng để phóng các mô-đun của trạm vũ trụ Thiên Cung.
- Hệ thống Tàu vũ trụ:
- Hệ thống Tàu vũ trụ có người lái: Phát triển tàu vũ trụ Thần Châu dùng để vận chuyển phi hành gia lên quỹ đạo và trở về.
- Hệ thống Tàu vận tải: Phát triển tàu vũ trụ Thiên Châu dùng để cung cấp nhu yếu phẩm, nhiên liệu đẩy và thiết bị cho trạm vũ trụ.
- Hệ thống Phòng thí nghiệm không gian: Phát triển Thiên Cung 1 và Thiên Cung 2 làm các phòng thí nghiệm mô hình thử nghiệm để xác minh công nghệ cho trạm vũ trụ trong tương lai.
- Hệ thống Trạm Vũ trụ có người lái: Phát triển trạm vũ trụ mô-đun Thiên Cung, hỗ trợ nghiên cứu dài hạn về thiên văn học, sinh học và vật lý vi trọng lực ở quỹ đạo Trái Đất thấp.
- Hệ thống Mô-đun Quang học (đang phát triển): Phát triển kính thiên văn không gian Tuần Thiên sẽ bay cùng quỹ đạo với trạm vũ trụ Thiên Cung và định kỳ kết nối để bảo trì và nâng cấp.
- Hệ thống Bãi phóng:
- Hệ thống Đo lường, Điều khiển (TT&C) và Liên lạc: Cung cấp các dịch vụ theo dõi, đo từ xa, lệnh và liên lạc, bao gồm kết nối thoại và video với phi hành gia và truyền tải dữ liệu khoa học.
- Hệ thống Bãi hạ cánh: Quản lý việc theo dõi, tìm kiếm và thu hồi các khoang trở lại tại Nội Mông, cùng với việc hỗ trợ phi hành gia sau khi hạ cánh và tân trang khoang tàu.
Các sứ mệnh
- Các loại sứ mệnh:
Trang Bản mẫu:Legend/styles.css không có nội dung.
Trang Bản mẫu:Legend/styles.css không có nội dung.
Trang Bản mẫu:Legend/styles.css không có nội dung.
Trang Bản mẫu:Legend/styles.css không có nội dung.
Trang Bản mẫu:Legend/styles.css không có nội dung.
Trang Bản mẫu:Legend/styles.css không có nội dung.
Các sứ mệnh đã thực hiện
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”. Bản mẫu:Main list Danh sách dưới đây bao gồm tất cả các sứ mệnh do CMS vận hành, bao gồm tàu vũ trụ có người lái và không người lái, tàu vận tải, các chuyến bay thử nghiệm tên lửa đẩy và các mô-đun trạm vũ trụ. Bản mẫu:Sticky header
| STT | Sứ mệnh | Ngày phóng | Tên lửa đẩy | Bãi phóng | Thời gian | Hạ cánh / Trở lại | Địa điểm hạ cánh | Phi hành đoàn | Kết quả | Ghi chú | |||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| ↓ Bước Một ↓ | |||||||||||||||||||||
| 1 | Thần Châu 1 | 19 tháng 11 năm 1999 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 21g 11p | 20 tháng 11 năm 1999 | Kỳ Tứ Tử Vương | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Sứ mệnh đầu tiên của CMS. Chuyến bay thử nghiệm không người lái của tàu vũ trụ Thần Châu và tên lửa Trường Chinh 2F. | |||||||||||
| 2 | Thần Châu 2 | 9 tháng 1 năm 2001 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 7n 10g 22p | 16 tháng 1 năm 2001 | Kỳ Tứ Tử Vương | (không người lái) | Bản mẫu:Partial success | Mang theo tải trọng khoa học bao gồm khỉ, chó, thỏ và các động vật khác. | |||||||||||
| 3 | Thần Châu 3 | 25 tháng 3 năm 2002 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 6n 18g 51p | 1 tháng 4 năm 2002 | Kỳ Tứ Tử Vương | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Mang theo một hình nhân thử nghiệm. | |||||||||||
| 4 | Thần Châu 4 | 29 tháng 12 năm 2002 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 6n 18g 36p | 5 tháng 1 năm 2003 | Kỳ Tứ Tử Vương | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Mang theo hai hình nhân thử nghiệm và một số thí nghiệm khoa học. | |||||||||||
| 5 | Thần Châu 5 | 15 tháng 10 năm 2003 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 21g 22p | 15 tháng 10 năm 2003 | Kỳ Tứ Tử Vương | Dương Lợi Vĩ | Bản mẫu:Success | Chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên của Trung Quốc; chuyến bay hoàn thành 14 vòng quanh Trái Đất. Với chuyến bay này, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba có khả năng thực hiện chuyến bay vũ trụ có người lái độc lập, sau Nga và Hoa Kỳ. | |||||||||||
| 6 | Thần Châu 6 | 12 tháng 10 năm 2005 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 4n 19g 33p | 16 tháng 10 năm 2005 | Kỳ Tứ Tử Vương | Phí Tuấn Long Nhiếp Hải Thắng |
Bản mẫu:Success | Phi hành đoàn hai người đầu tiên; chuyến bay đầu tiên kéo dài nhiều ngày. | |||||||||||
| ↓ Bước Hai, giai đoạn 1 ↓ | |||||||||||||||||||||
| 7 | Thần Châu 7 | 25 tháng 9 năm 2008 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 2n 20g 27p | 28 tháng 9 năm 2008 | Kỳ Tứ Tử Vương | Trạch Chí Cương Lưu Bá Minh Cảnh Hải Bằng |
Bản mẫu:Success | Phi hành đoàn ba người đầu tiên; chuyến đi bộ ngoài không gian đầu tiên của Trung Quốc. | |||||||||||
| 8 | Thiên Cung 1 | 29 tháng 9 năm 2011 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | — | 2 tháng 4 năm 2018 | Nam Thái Bình Dương | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Thiết bị mục tiêu cho thử nghiệm gặp gỡ và kết nối không gian. | |||||||||||
| 9 | Thần Châu 8 | 31 tháng 10 năm 2011 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 16n 13g 34p | 17 tháng 11 năm 2011 | Kỳ Tứ Tử Vương | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Sứ mệnh không người lái, hoàn thành cuộc gặp gỡ và kết nối không gian đầu tiên của Trung Quốc với Thiên Cung 1. | |||||||||||
| 10 | Thần Châu 9 | 16 tháng 6 năm 2012 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 12n 15g 24p | 29 tháng 6 năm 2012 | Kỳ Tứ Tử Vương | Cảnh Hải Bằng (2) Lưu Vượng Lưu Dương |
Bản mẫu:Success | Nữ phi hành gia Trung Quốc đầu tiên vào không gian; lần kết nối có người lái đầu tiên với Thiên Cung 1. | |||||||||||
| 11 | Thần Châu 10 | 11 tháng 6 năm 2013 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 14n 14g 29p | 26 tháng 6 năm 2013 | Kỳ Tứ Tử Vương | Nhiếp Hải Thắng (2) Trương Hiểu Quang Vương Á Bình |
Bản mẫu:Success | Nữ phi hành gia Trung Quốc thứ hai vào không gian, lần kết nối có người lái thứ hai với Thiên Cung 1. | |||||||||||
| ↓ Bước Hai, giai đoạn 2 ↓ | |||||||||||||||||||||
| 12 | Chuyến bay thử nghiệm Trường Chinh 7 |
25 tháng 6 năm 2016 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 26 tháng 6 năm 2016 | Tửu Tuyền | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Chuyến bay thử nghiệm Trường Chinh 7 mang theo mô hình tỷ lệ của Mộng Chu. | |||||||||||
| 13 | Thiên Cung 2 | 15 tháng 9 năm 2016 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | — | 19 tháng 7 năm 2019 | Nam Thái Bình Dương | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Phòng thí nghiệm không gian, có khả năng nạp nhiên liệu trên quỹ đạo. | |||||||||||
| 14 | Thần Châu 11 | 17 tháng 10 năm 2016 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 32n 6g 29p | 18 tháng 11 năm 2016 | Kỳ Tứ Tử Vương | Cảnh Hải Bằng (3) Trần Đông |
Bản mẫu:Success | Lần kết nối có người lái đầu tiên và duy nhất với Thiên Cung 2. | |||||||||||
| 15 | Thiên Châu 1 | 20 tháng 4 năm 2017 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 22 tháng 9 năm 2017 | (bị đốt cháy trong khí quyển) | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Tàu vận tải đầu tiên; lần chuyển nhiên liệu đẩy trên quỹ đạo đầu tiên. | |||||||||||
| ↓ Bước Ba ↓ | |||||||||||||||||||||
| 16 | Chuyến bay thử nghiệm Trường Chinh 5B |
5 tháng 5 năm 2020 | Trường Chinh 5B | Văn Xương | — | 8 tháng 5 năm 2020 | Tửu Tuyền | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Chuyến bay thử nghiệm Trường Chinh 5B mang theo phương tiện thử nghiệm Mộng Chu. | |||||||||||
| 17 | Thiên Hòa | 29 tháng 4 năm 2021 | Trường Chinh 5B | Văn Xương | — | — | — | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Mô-đun đầu tiên của Trạm vũ trụ Thiên Cung. | |||||||||||
| 18 | Thiên Châu 2 | 29 tháng 5 năm 2021 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 31 tháng 3 năm 2022 | (bị đốt cháy trong khí quyển) | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Tàu vận tải đầu tiên đến trạm vũ trụ. | |||||||||||
| 19 | Thần Châu 12 | 17 tháng 6 năm 2021 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 92n 4g 11p | 17 tháng 9 năm 2021 | Tửu Tuyền | Nhiếp Hải Thắng (3) Lưu Bá Minh (2) Thang Hồng Ba |
Bản mẫu:Success | Sứ mệnh có người lái đầu tiên kết nối với trạm vũ trụ Thiên Cung.[52] | |||||||||||
| 20 | Thiên Châu 3 | 20 tháng 9 năm 2021 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 27 tháng 7 năm 2022 | (bị đốt cháy trong khí quyển) | (không người lái) | Bản mẫu:Success | ||||||||||||
| 21 | Thần Châu 13 | 15 tháng 10 năm 2021 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 182n 9g 32p | 16 tháng 4 năm 2022 | Tửu Tuyền | Trạch Chí Cương (2) Vương Á Bình (2) Diệp Quang Phú |
Bản mẫu:Success | Chuyến đi bộ ngoài không gian đầu tiên của một nữ phi hành gia Trung Quốc. | |||||||||||
| 22 | Thiên Châu 4 | 9 tháng 5 năm 2022 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 14 tháng 11 năm 2022 | (bị đốt cháy trong khí quyển) | (không người lái) | Bản mẫu:Success | ||||||||||||
| 23 | Thần Châu 14 | 5 tháng 6 năm 2022 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 182n 9g 25p | 4 tháng 12 năm 2022 | Tửu Tuyền | Trần Đông (2) Lưu Dương (2) Thái Húc Triết |
Bản mẫu:Success | Phi hành đoàn chứng kiến sự kết nối của hai mô-đun thí nghiệm, hoàn thành việc xây dựng trạm. | |||||||||||
| 24 | Vấn Thiên | 24 tháng 7 năm 2022 | Trường Chinh 5B | Văn Xương | — | — | — | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Mô-đun cabin thí nghiệm I của trạm vũ trụ Thiên Cung. | |||||||||||
| 25 | Mộng Thiên | 31 tháng 10 năm 2022 | Trường Chinh 5B | Văn Xương | — | — | — | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Mô-đun cabin thí nghiệm II của trạm vũ trụ Thiên Cung. | |||||||||||
| 26 | Thiên Châu 5 | 12 tháng 11 năm 2022 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 13 tháng 9 năm 2023 | (bị đốt cháy trong khí quyển) | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Phá kỷ lục về thời gian ngắn nhất từ khi phóng đến khi kết nối (2 giờ 7 phút). | |||||||||||
| 27 | Thần Châu 15 | 29 tháng 11 năm 2022 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 186n 7g 25p | 3 tháng 6 năm 2023 | Tửu Tuyền | Phí Tuấn Long (2) Đặng Thanh Minh Trương Lục |
Bản mẫu:Success | Phi hành đoàn đầu tiên bàn giao trực tiếp với phi hành đoàn trước đó để trạm luôn có người ở liên tục. | |||||||||||
| ↓ Giai đoạn ứng dụng và phát triển trạm vũ trụ ↓ | |||||||||||||||||||||
| 28 | Thiên Châu 6 | 10 tháng 5 năm 2023 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 19 tháng 1 năm 2024 | (bị đốt cháy trong khí quyển) | (không người lái) | Bản mẫu:Success | Lần phóng đầu tiên của phiên bản Thiên Châu cải tiến.[53] | |||||||||||
| 29 | Thần Châu 16 | 30 tháng 5 năm 2023 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 153n 22g 41p | 31 tháng 10 năm 2023 | Tửu Tuyền | Cảnh Hải Bằng (4) Chu Dương Trụ Quế Hải Triều |
Bản mẫu:Success | Sứ mệnh đầu tiên có một phi hành gia dân sự (chuyên gia tải trọng). | |||||||||||
| 30 | Thần Châu 17 | 26 tháng 10 năm 2023 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 187n 6g 32p | 30 tháng 4 năm 2024 | Tửu Tuyền | Thang Hồng Ba (2) Đường Thắng Kiệt Giang Tân Lâm |
Bản mẫu:Success | ||||||||||||
| 31 | Thiên Châu 7 | 17 tháng 1 năm 2024 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 17 tháng 11 năm 2024 | (bị đốt cháy trong khí quyển) | (không người lái) | Bản mẫu:Success | ||||||||||||
| 32 | Thần Châu 18 | 25 tháng 4 năm 2024 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 192n 4g 25p | 3 tháng 11 năm 2024 | Tửu Tuyền | Diệp Quang Phú (2) Lý Thông Lý Quảng Tô |
Bản mẫu:Success | ||||||||||||
| 33 | Thần Châu 19 | 29 tháng 10 năm 2024 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 182n 8g 41p | 30 tháng 4 năm 2025 | Tửu Tuyền | Thái Húc Triết (2) Tống Lệnh Đông Vương Hạo Trạch |
Bản mẫu:Success | ||||||||||||
| 34 | Thiên Châu 8 | 15 tháng 11 năm 2024 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | — | 8 tháng 7 năm 2025 | (bị đốt cháy trong khí quyển) | (không người lái) | Bản mẫu:Success | |- style="background:Gold;" | 35 | Thần Châu 20 | 24 tháng 4 năm 2025 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 269n 16g 16p | 19 tháng 1 năm 2026 | Tửu Tuyền | Phóng: Trần Đông (3) Trần Trung Thụy Vương Tiệp Hạ cánh: Không người lái |
Thất bại một phần | Phóng có người lái nhưng hạ cánh không người lái do cửa sổ tàu vũ trụ bị nứt bởi tác động của rác vũ trụ bên ngoài. Phi hành đoàn hạ cánh bằng Thần Châu 21. |
| 36 | Thiên Châu 9 | 14 tháng 7 năm 2025 | Trường Chinh 7 | Văn Xương | 8 tháng (dự kiến) | — | — | (không người lái) | Đang thực hiện | |- style="background:Gold;" | 37 | Thần Châu 21 | 31 tháng 10 năm 2025 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 13 ngày | 14 tháng 11 năm 2025 | Tửu Tuyền | Phóng: Trương Lục (2) Ngô Phi Trương Hồng Chương Hạ cánh: Trần Đông (3) Trần Trung Thụy Vương Tiệp |
Bản mẫu:Success | Hạ cánh cùng phi hành đoàn Thần Châu 20 do tàu Thần Châu 20 bị nứt cửa sổ. Phi hành đoàn sẽ hạ cánh bằng Thần Châu 22. |
| 38 | Thần Châu 22 | 25 tháng 11 năm 2025 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 150n (dự kiến) | 2026 (dự kiến) | Tửu Tuyền | Phóng: Không người lái Hạ cánh: Trương Lục (2) Ngô Phi Trương Hồng Chương |
Đang thực hiện | Phóng không người lái để đưa phi hành đoàn Thần Châu 21 về nhà. | |||||||||||
Các sứ mệnh sắp tới
| Sứ mệnh | Ngày phóng (dự kiến) |
Tên lửa đẩy | Bãi phóng | Thời gian | Hạ cánh/Trở lại | Địa điểm hạ cánh |
Phi hành đoàn | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Thần Châu 23 | Tháng 4 năm 2026 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 180n | Tháng 10 năm 2026 | Tửu Tuyền | TBA | |
| Thần Châu 24 | Tháng 10 năm 2026 | Trường Chinh 2F | Tửu Tuyền | 180n | 2027 | Tửu Tuyền | TBA | |
| Tuần Thiên | Cuối năm 2026[54] | Trường Chinh 5B | Văn Xương | — | — | — | (không người lái) | Kính thiên văn không gian bay cùng quỹ đạo với trạm vũ trụ Thiên Cung. |
Các phi hành gia (Taikonauts)
Tuyển chọn người huấn luyện tháng 11 năm 1996
Có hai người huấn luyện phi hành gia được chọn cho Dự án 921. Họ được huấn luyện tại Trung tâm huấn luyện phi hành gia Yuri Gagarin ở Nga.
- Lý Khánh Long – sinh tháng 8 năm 1962 tại Định Viễn, tỉnh An Huy, phi công đánh chặn của PLAAF và người hướng dẫn không gian tại Thành phố Ngôi Sao
- Ngô Kiệt – sinh tháng 10 năm 1963 tại Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam và phi công chiến đấu của PLAAF
Tuyển chọn ứng viên phi hành gia tháng 1 năm 1998
- Trần Toàn – phi công PLAAF
- Đặng Thanh Minh – từ tỉnh Giang Tây và phi công PLAAF, dự bị cho Thần Châu 11, đã bay trên Thần Châu 15
- Phí Tuấn Long – phi hành gia Trung Quốc thứ hai, chỉ huy của Thần Châu 6 và Thần Châu 15
- Cảnh Hải Bằng – sinh tháng 10 năm 1966 và phi công PLAAF, phi hành gia của Thần Châu 7, Thần Châu 9, Thần Châu 11 và Thần Châu 16
- Lưu Bá Minh – sinh tháng 9 năm 1966 và phi công PLAAF, phi hành gia của Thần Châu 7 và Thần Châu 12
- Lưu Vượng – sinh tại tỉnh Sơn Tây và phi công PLAAF, đã bay trên Thần Châu 9
- Nhiếp Hải Thắng – dự bị cho Thần Châu 5, kỹ sư chuyến bay trên Thần Châu 6, chỉ huy của Thần Châu 10 và Thần Châu 12
- Phan Chiêm Xuân – phi công PLAAF
- Dương Lợi Vĩ – người đầu tiên được đưa vào không gian bởi chương trình không gian của Trung Quốc trên Thần Châu 5, đưa Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba độc lập đưa người vào không gian
- Trạch Chí Cương – dự bị cho Thần Châu 5, chỉ huy của Thần Châu 7 và Thần Châu 13
- Trương Hiểu Quang – sinh tại tỉnh Liêu Ninh và phi công PLAAF, đã bay trên Thần Châu 10
- Triệu Truyền Đông – phi công PLAAF
Tuyển chọn ứng viên phi hành gia năm 2010
- Thái Húc Triết – đã bay trên Thần Châu 14 và Thần Châu 19
- Trần Đông – đã bay trên Thần Châu 11, Thần Châu 14 và Thần Châu 20
- Lưu Dương – nữ phi hành gia Trung Quốc đầu tiên vào không gian, đã bay trên Thần Châu 9 và Thần Châu 14
- Thang Hồng Ba – đã bay trên Thần Châu 12 và Thần Châu 17
- Vương Á Bình – nữ phi hành gia Trung Quốc thứ hai vào không gian, đã bay trên Thần Châu 10 và Thần Châu 13
- Diệp Quang Phú – đã bay trên Thần Châu 13 và Thần Châu 18
- Trương Lục – đã bay trên Thần Châu 15 và Thần Châu 21
Tuyển chọn ứng viên phi hành gia năm 2020
18 người - 17 nam, 1 nữ, trong đó có 6 người chưa được tiết lộ tên - đã được chọn làm phi hành gia mới. Các vị trí được chia thành 7 phi công tàu vũ trụ ("phi công của Không quân Quân Giải phóng Nhân dân"), 7 kỹ sư chuyến bay ("cựu nghiên cứu viên hoặc kỹ thuật viên về hàng không, du hành vũ trụ và các lĩnh vực liên quan khác"), và 4 chuyên gia tải trọng sứ mệnh ("những người tham gia vào khoa học không gian và thông qua các ứng dụng cho chương trình không gian có người lái của Trung Quốc").[55]
- Chu Dương Trụ - đã bay trên Thần Châu 16 với tư cách là kỹ sư chuyến bay vũ trụ
- Quế Hải Triều - đã bay trên Thần Châu 16 với tư cách là chuyên gia tải trọng
- Giang Tân Lâm - đã bay trên Thần Châu 17 với tư cách là kỹ sư chuyến bay vũ trụ
- Đường Thắng Kiệt - đã bay trên Thần Châu 17 với tư cách là phi công
- Lý Thông - đã bay trên Thần Châu 18 với tư cách là kỹ sư chuyến bay vũ trụ
- Lý Quảng Tô - đã bay trên Thần Châu 18 với tư cách là phi công
- Tống Lệnh Đông - đã bay trên Thần Châu 19 với tư cách là phi công
- Vương Hạo Trạch - nữ phi hành gia Trung Quốc thứ ba vào không gian, đã bay trên Thần Châu 19 với tư cách là kỹ sư chuyến bay vũ trụ
- Trần Trung Thụy - đã bay trên Thần Châu 20 với tư cách là phi công
- Vương Tiệp - đã bay trên Thần Châu 20 với tư cách là kỹ sư chuyến bay vũ trụ
- Ngô Phi - đã bay trên Thần Châu 21 với tư cách là kỹ sư chuyến bay vũ trụ
- Trương Hồng Chương - đã bay trên Thần Châu 21 với tư cách là chuyên gia tải trọng
Tuyển chọn ứng viên phi hành gia năm 2022
CMSA bắt đầu tuyển chọn đợt phi hành gia thứ tư vào năm 2022. Cơ quan dự kiến sẽ chọn 7-8 phi công tàu vũ trụ ("phi công của Không quân Quân Giải phóng Nhân dân") và 5-6 kỹ sư chuyến bay vũ trụ ("cựu nghiên cứu viên hoặc kỹ thuật viên về hàng không, du hành vũ trụ và các lĩnh vực liên quan khác"). Tối đa hai người trong nhóm sau sẽ trở thành chuyên gia tải trọng ("những người tham gia vào khoa học không gian và thông qua các ứng dụng cho chương trình không gian có người lái của Trung Quốc"). Việc ứng tuyển đã được mở rộng để bao gồm cả Hồng Kông và Ma Cao.[56]
Vào ngày 11 tháng 6 năm 2024, CMSA thông báo rằng 10 phi hành gia mới đã được chọn sau khi hoàn thành quy trình tuyển chọn năm 2022. 8 trong số 10 phi hành gia mới là phi công trong khi 2 người còn lại là chuyên gia tải trọng. Đáng chú ý, hai chuyên gia tải trọng mới là những phi hành gia đầu tiên của Trung Quốc đến từ các đặc khu hành chính Hồng Kông và Ma Cao; ngoài ra, chuyên gia tải trọng từ đặc khu hành chính Hồng Kông là nữ.[57] Các phi hành gia mới sẽ trải qua hai năm huấn luyện cơ bản cho các sứ mệnh trạm vũ trụ cũng như cho các sứ mệnh có người lái lên Mặt Trăng.[57][58]
Hợp tác quốc tế
Vào tháng 11 năm 2011, Cơ quan Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc và Cơ quan Vũ trụ Ý đã ký một thỏa thuận hợp tác ban đầu, bao gồm các lĩnh vực hợp tác trong vận tải không gian, viễn thông, quan sát Trái Đất, v.v.[59]
Năm 2016, Cơ quan Vũ trụ có người lái Trung Quốc (CMSA) đã ký một Thỏa thuận Khung và một Thỏa thuận Tài trợ với Văn phòng Liên Hợp Quốc về Hoạt động Vũ trụ Ngoại thiên không (UNOOSA) để tăng cường hợp tác trên một trạm vũ trụ Trung Quốc trong tương lai.[60]
Vào ngày 22 tháng 2 năm 2017, CMSA và Cơ quan Vũ trụ Ý (ASI) đã ký một thỏa thuận hợp tác về các hoạt động chuyến bay vũ trụ có người lái dài hạn.[61] Thỏa thuận này có tầm quan trọng do vị thế dẫn đầu của Ý trong lĩnh vực chuyến bay vũ trụ có người lái liên quan đến việc tạo ra và khai thác Trạm Vũ trụ Quốc tế (Node 2, Node 3, Columbus, Cupola, Leonardo, Raffaello, Donatello, PMM, v.v.) và nó biểu thị sự mong đợi ngày càng tăng của Ý đối với chương trình trạm vũ trụ đang phát triển của Trung Quốc.[62] Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA) đã bắt đầu huấn luyện chuyến bay vũ trụ có người lái với CMSA vào năm 2017, với mục tiêu cuối cùng là gửi các phi hành gia ESA lên Thiên Cung.[63] Để chuẩn bị cho các sứ mệnh trong tương lai, các phi hành gia ESA được chọn đã sống cùng với các đồng nghiệp Trung Quốc và tham gia vào các buổi huấn luyện như sinh tồn khi hạ cánh trên biển, học ngôn ngữ và vận hành tàu vũ trụ.[64][65] Tuy nhiên, vào tháng 1 năm 2023, ESA thông báo rằng cơ quan này sẽ không gửi các phi hành gia của mình lên trạm vũ trụ của Trung Quốc vì các lý do chính trị và tài chính.[66]
Vào ngày 28 tháng 5 năm 2018, UNOOSA và CMSA đã công bố một sáng kiến nhằm chấp nhận các đơn đăng ký từ các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc để thực hiện các thí nghiệm trên trạm vũ trụ của Trung Quốc.[67]
Vào ngày 12 tháng 6 năm 2019, những người chiến thắng trong cuộc thi đã được công bố. Chín dự án, liên quan đến 23 tổ chức từ 17 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, đã được các chuyên gia lựa chọn.[68]
-
Phi hành gia ESA Matthias Maurer đang trải qua khóa huấn luyện sinh tồn trên biển tại Trung Quốc, 2017
-
Phi hành gia ESA Samantha Cristoforetti trên khoang huấn luyện Thần Châu
Xem thêm
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Portal/images/t' not found.
Tham khảo
Trích dẫn
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ https://web.archive.org/web/20120419165427/http://www.futron.com/upload/wysiwyg/Resources/Whitepapers/China_n_%20Second_Space_Age_1003.pdf - 5 May 2020
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă â b Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value). Bản mẫu:PD-notice
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.[<span title=" kể từ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”.">liên kết hỏng]
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ a ă Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
Nguồn
Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
Liên kết ngoài
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Side box”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Official website”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Bản mẫu:Shenzhou program Bản mẫu:China space station Bản mẫu:Chinese space program Bản mẫu:Crewed spacecraft Bản mẫu:Future spaceflights Bản mẫu:Spaceflight Bản mẫu:Spaceflight lists and timelines Bản mẫu:Politics of outer space