Thổi thủy tinh (Glassblowing) là một kỹ thuật tạo hình thủy tinh bằng phương pháp thổi khí nén để làm phồng thủy tinh nóng chảy thành một bong bóng (được gọi là phôi chai - parison) với sự hỗ trợ của một chiếc ống thổi thủy tinh (blowpipe). Một người thực hiện công việc thổi thủy tinh được gọi là thợ thổi thủy tinh (glassblower), trong khi người đứng đầu quản lý một xưởng thổi thủy tinh được biết đến rộng rãi dưới danh hiệu thợ cả (gaffer). Ở một phân nhánh quy mô nhỏ hơn, một thợ làm đèn khò (lampworker, cũng thường được gọi là thợ thổi thủy tinh) tiến hành thao tác điều khiển định hình thủy tinh với việc vận dụng một ngọn đuốc đèn khò, tiêu biểu như trong khâu sản xuất ra các dụng cụ thủy tinh phòng thí nghiệm chính xác cao từ chất liệu thủy tinh borosilicate. Hai phương thức cốt lõi chủ đạo của kỹ nghệ thổi thủy tinh chính là thổi tự do (free-blowing) và thổi trong khuôn (mold-blowing).[1] Sự bứt phá phát triển nhảy vọt của kỹ thuật thổi trong khuôn đã kích hoạt năng lực sản xuất cấp tốc sản phẩm thủy tinh với số lượng quy mô lớn, từ đó đặt nền móng vĩ mô thúc đẩy phương thức sản xuất hàng loạt và hoạt động phân phối lan truyền rộng khắp của các mặt hàng thủy tinh trên toàn thế giới.[2][3]

Tập tin:Glass blowing (4543173041).jpg
Kỹ thuật thổi thủy tinh
Tập tin:Glass Blowing in Kenya. (Kitengela Glass).jpg
Thổi thủy tinh ở Kenya

Công nghệ

Là một kỹ thuật tạo hình thủy tinh mang tính đột phá đổi mới được khởi tạo vào khoảng giữa thế kỷ I trước Công nguyên, kỹ nghệ thổi thủy tinh đã khai thác triệt để một đặc tính vận hành cơ năng của thủy tinh vốn chưa từng được các thợ thủy tinh thời kỳ trước biết đến: năng lực giãn nở (inflation). Đây chính là tiến trình giãn nở phình to của một khối thủy tinh nóng chảy dẻo bằng cách chủ động đưa một khối lượng không khí nhỏ vào bên trong lòng khối chất. Cơ chế này được xây dựng trên chính nền tảng cấu trúc chất lỏng của thủy tinh, nơi các nguyên tử liên kết chặt chẽ với nhau bằng các liên kết hóa học bền vững bên trong một mạng lưới hỗn loạn và ngẫu nhiên;[4][5][6] do đó, thủy tinh nóng chảy sở hữu một độ nhớt vừa vặn đủ để có thể thổi căng bứt ra ngoài và sẽ dần dần đông cứng đóng rắn lại khi nó mất dần đi nhiệt lượng.[7] Để nâng cao độ cứng vững của thủy tinh nóng chảy dẻo, giúp tiến trình thổi diễn ra một cách dễ dàng thuận lợi hơn, lịch sử đã chứng kiến một sự chuyển dịch tinh tế bên trong công thức phối trộn thành phần của thủy tinh. Hai nhà khoa học Fischer và McCray[8] đã đưa ra giả định rằng nồng độ của khoáng chất Natron (đóng vai trò là chất trợ dung trong mẻ nấu thủy tinh) sở hữu tỷ lệ thấp hơn một chút bên trong các bình chứa thổi so với những sản phẩm được chế tạo bằng phương pháp đổ khuôn đúc. Nồng độ natron thấp hơn cho phép khối thủy tinh đạt độ cứng vững tốt hơn phục vụ cho hành vi thổi khuôn. Xuyên suốt tiến trình thổi, các lớp thủy tinh mỏng hơn sẽ sở hữu tốc độ hạ nhiệt nhanh chóng hơn các lớp dày, từ đó trở nên nhớt dẻo bền vững hơn các lớp dày thặng dư. Đặc tính tự nhiên này cho phép hoạt động sản xuất sản xuất ra sản phẩm thủy tinh thổi đạt mức độ đồng đều hoàn hảo về mặt độ dày vách vỏ, thay vì để lại hệ quả thảm kịch thổi thủng rách tại các vị trí lớp mỏng. Nhiều kỹ thuật thổi thủy tinh đã được nghiên cứu phát triển bứt phá chỉ trong vòng vài thập kỷ ngắn ngủi kể từ thời điểm phát minh.[9]

Phương thức thổi tự do là phương pháp kỹ nghệ nắm giữ vị thế thống trị độc tôn đỉnh cao bên trong ngành tạo hình thủy tinh kể từ thời điểm xuất hiện vào giữa thế kỷ I trước Công nguyên cho đến tận giai đoạn cuối thế kỷ XIX, và hiện nay vẫn đang được vận dụng một cách rộng rãi như một kỹ thuật tạo hình nghệ thuật mỹ nghệ đỉnh cao. Dòng quy trình của thổi tự do bao hàm hành vi thổi từng hơi ngắn không khí vào bên trong một khối thủy tinh nóng chảy dẻo (được gọi là "khối thu liệu" - gather) vốn được quấn tập hợp tại một đầu mút của chiếc ống thổi. Bước đi này sở hữu hiệu ứng kiến tạo nên một lớp vỏ màng có tính đàn hồi cao tại phần không gian nội thất bên trong của khối thủy tinh, tương thích hoàn hảo với lớp vỏ bề mặt ngoại thất vốn được hình thành do hệ quả hạ nhiệt tự nhiên khi thoát ly khỏi lò nung. Người thợ thủy tinh sau đó hoàn toàn có thể nhanh chóng thổi căng khối thủy tinh nóng chảy thành một bong bóng đồng nhất và tiến hành thao tác biến đổi định hình thành phom dáng mục tiêu mong muốn.[7][10][11] Nhiều nhà nghiên cứu tại Bảo tàng Nghệ thuật Toledo đã triển khai thực nghiệm nhằm phục dựng toàn diện kỹ thuật thổi tự do cổ đại bằng cách vận dụng các ống thổi chế tác từ chất liệu đất sét. Kết quả thu được chứng minh một cách mô phạm rằng các ống thổi đất sét ngắn có chiều dài khoảng từ 30 dến 60 cm hỗ trợ cho phương thức thổi tự do, bởi vì chúng đơn giản gọn nhẹ trong khâu cầm nắm, thao tác điều khiển và hoàn toàn có khả năng tái sử dụng lại rất nhiều lần.[12]

Thổi trong khuôn (mold-blowing) là một giải pháp tạo hình thủy tinh thay thế xuất hiện nối gót sau sự ra đời của phương pháp tự do, định hình xuyên suốt giai đoạn nửa đầu của quý thứ hai thuộc thế kỷ I sau Công nguyên.[13][2] Một giọt thủy tinh nóng chảy dẻo được đặt định vị tại đầu mút của chiếc ống thổi, và sau đó được thổi căng bứt ra ngoài ép nén thẳng vào bên trong một chiếc khuôn được chạm khắc tinh vi bằng chất liệu gỗ hoặc kim loại. Theo phương thức này, hình phom dáng hình học cùng kết cấu bề mặt ngoại thất của bong bóng thủy tinh sẽ được quyết định rạch ròi bởi chính bản thiết kế tích hợp trong lòng khuôn đúc đúc, chứ tuyệt đối không còn phụ thuộc hoàn toàn vào tài năng nghệ nhân của người thợ.[7] Khâu sản xuất các bình chứa thổi khuôn thường xuyên vận dụng hai loại hình khuôn đúc chủ đạo bao gồm: khuôn đơn chiếc (single-piece molds) và khuôn đa mảnh ghép (multi-piece molds). Loại hình khuôn đơn chiếc cho phép nhấc rời vật thể thủy tinh thành phẩm ra ngoài chỉ bằng một chuyển động duy nhất theo hướng tịnh tiến lên trên, và được khai thác phần lớn phục vụ cho hoạt động sản xuất đồ dã ngoại ăn uống và các bình chứa thực dụng phục vụ nhu cầu lưu trữ bốc xếp vận chuyển thương mại.[14] Trong khi đó, loại hình khuôn đa mảnh ghép được cấu thành từ nhiều phân đoạn mảnh khuôn ghép khớp lại với nhau, từ đó cho phép nghiên cứu phát triển những biên dạng cấu trúc bề mặt tinh vi phức tạp hơn rất nhiều về mặt hoa văn họa tiết, kết cấu và bản thiết kế thẩm mỹ.

Trên thế giới, sau khi tìm được cổ vật một hình mẫu biểu thị trực quan kiệt tác cho kỹ thuật thổi thủy tinh là chiếc bình bình Portland— một tác phẩm chạm khắc phù điêu cameo được chế tác xuyên suốt thời kỳ La Mã cổ đại.[15] ngoài ra, một chiếc cốc lá La Mã hiện đang được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng J. Paul Getty chính là tác phẩm được thổi toàn diện bên trong một chiếc khuôn ba phần tích hợp hoa văn phù điêu chạm nổi sinh động mô tả dải tán lá của bốn loài cây thẳng đứng.[16] Tại Việt Nam, tiến trình du nhập, làm chủ và ứng dụng kỹ nghệ thổi thủy tinh từ các kỹ nghệ thổi tự do thủ công dân gian truyền thống truyền thống lên các phân xưởng thổi thủy tinh khoa học, thổi thủy tinh công nghiệp công suất lớn đóng vai trò là một mạch máu kỹ thuật trọng điểm, thúc đẩy năng lực tự chủ sản xuất vật liệu, sản xuất các chủng loại chai lọ y tế, ống nghiệm thí nghiệm, bóng đèn và bình chứa dân sinh. Ngày naycác tổ hợp mỹ nghệ thổi chao đèn trang trí cao cấp cao cấp cho đến các phòng kỹ nghệ thổi thủy tinh khoa học chuyên sâu phục vụ ngành phân tích phân tích sinh học, đội ngũ kỹ sư và nghệ nhân tiếp cận các kỹ thuật gia công uốn nắn đũa thanh thủy tinh, tích hợp hệ thống đèn khò đa đầu phun công suất lớn vận dụng ngọn lửa hỗn hợp khí oxy-propan để thao tác chính xác trên chất liệu thủy tinh đạt dung sai kích thước tối ưu. Việc ứng dụng thuần thục công nghệ thổi thủy tinh trong môi trường xưởng xưởng được quy hoạch khoa học không chỉ giúp cắt giảm tối đa chi phí sản xuất, hạn chế hiện tượng sốc nhiệt nứt vỡ phôi thành phẩm, nâng cao giá trị thặng dư kinh tế thặng dư kinh tế cho toàn ngành vật liệu nội địa.

Hình ảnh

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ 3 Cool Facts You Never Knew About Glassblowing; Habatat Galleries; 2015.
  2. ^ a b Price, J. (1991). "Decorated Mould-Blown Glass Tablewares in the First century AD". In M. Newby & K. Painter (eds.) Roman Glass: Two Centuries of Art Invention. pp. 56–75. The Society of Antiquaries of London: London.
  3. ^ Cuneaz, G. (2003). "Introduction". In R.B. Mentasti, R. Mollo, P. Framarin, M. Sciaccaluga & A. Geotti (eds.) Glass Through Time: history and technique of glassmaking from the ancient world to the present. pp. 11–30. Skira Editore: Milan.
  4. ^ Frank, S 1982. Glass and Archaeology. Academic Press: London.
  5. ^ Freestone, I. (1991). "Looking into Glass". In S. Bowman (ed.) Science and the Past. pp.37–56. University of Toronto Press: Toronto & Buffalo.
  6. ^ Pollard, A.M. and C. Heron 2008. Archaeological Chemistry. The Royal Society of Chemistry
  7. ^ a b c Cummings, K. 2002. A History of Glassforming. University of Pennsylvania Press
  8. ^ Glass Production Activities as Practiced at Sepphoris, Israel (37 ?–? 1516); Journal of Archaeological Science; Fischer, A & McGray, W.Patrick; 1999.
  9. ^ Roman Mold-Blown Glass; Heilbrunn Timeline of Art History; Trentinella, Rosemarie; The Metropolitan Museum of Art; 2003.
  10. ^ Mariacher, G 1970. Glass: from Antiquity to the Renaissance. The Hamlyn Publishing Group Limited: Middlesex.
  11. ^ Chloe Zerwick, Corning Museum of Glass 1990. A short history of glass. H.N. Abrams in association with the Corning Museum of Glass.
  12. ^ Birgit Schlick-Nolte, E. Marianne 1994. Early glass of the ancient world: 1600 B.C.-A.D. 50 : Ernesto Wolf collection. Verlag Gerd Hatje. pp. 81–83.
  13. ^ A Group of early Roman Mould-blown Flasks from the West; Journal of Glass Studies; Lightfoot, C.S.; 1987; 29: 11–18.
  14. ^ Tatton-Brown, V. (1991). "The Roman Empire". In H. Tait (ed.) Five Thousand Years of Glass. pp. 62–97. British Museum Press: London.
  15. ^ The Manufacture of the Vase of its Ancient Repair; Journal of Glass Studies; Gudenrath, W. & Whitehouse, D.; 1990; 32: 108–121.
  16. ^ Leaf Beakers and Roman Mould-blown Glass Production in the First Century AD; Journal of Glass Studies; Wright, K.; 2000; 42: 61–82.

Liên kết ngoài