Tham đồng khế
Tham đồng khế, Cantongqi (tiếng Trung: 參同契; bính âm: Cāntóngqì (hay Sandōkai trong tiếng Nhật) là một bài kệ do vị Tổ thứ tám của Thiền tông Trung Hoa, Shitou Xiqian (tiếng Nhật: Sekitō Kisen, 700–790), sáng tác. Đây là một văn bản căn bản của tông Caodong (Nhật: Sōtō) trong Thiền tông (Zen), được tụng niệm hằng ngày tại các thiền viện trên khắp thế giới.
Tiêu đề
Nhan đề của bài kệ 參同契 được đọc là Cāntóngqì trong tiếng Quan thoại và Sandōkai trong tiếng Nhật. Các chữ trong nhan đề, đặc biệt là chữ đầu tiên 參 (cān hoặc san; âm Hán Việt là tham hoặc tam), có nhiều nghĩa rất khác nhau; vì vậy, tên của bài kệ có thể được hiểu và dịch theo nhiều cách khác nhau.
Các bản dịch tiếng Anh của nhan đề, với mức độ sát nghĩa khác nhau, bao gồm: "Sự dung hợp giữa sai biệt và nhất thể" (Merging of Difference and Unity), "Sự dung hợp giữa sai biệt và bình đẳng" (Merging of Difference and Equality), "Sự tương hợp giữa sai biệt và nhất thể" (Agreement of Difference and Unity), "Sự hài hòa giữa sai biệt và đồng nhất" (Harmony of Difference and Sameness), "Khúc ca hài hòa về sai biệt và đồng nhất" (Harmonious Song of Difference and Sameness), "Sự đồng nhất giữa tương đối và tuyệt đối" (Identity of Relative and Absolute), "Sự hài hòa giữa tương đối và tuyệt đối" (Harmony of Relative and Absolute), "Sự hài hòa giữa sai biệt và bình đẳng" (Harmony of Difference and Equality), và "Khúc ca về sự đồng nhất" (Ode on Identity).
Nhan đề Cantongqi cũng trùng với tên của một tác phẩm Đạo giáo về thuật luyện đan có từ thế kỷ II, cũng mang tên Cantongqi (周易參同契). Trong ngữ cảnh của tác phẩm Đạo giáo này, 參同契 thường được dịch là "Sự tương hợp của Ba yếu tố" (The Kinship of the Three).
Văn bản
(Đồng nhất giữa Tương đối và Tuyệt đối)
mật mật truyền sang cõi Đông phương.
Người đời có kẻ trí, người ngu; trong Đạo, nào có Tổ Nam hay Tổ Bắc.
Nguồn mầu trong sáng, dòng nhánh âm thầm chảy giữa tối tăm.
Chấp cảnh là mê; gặp lý tuyệt đối vẫn chưa phải ngộ.
Năng và sở, hết thảy đều tương dung, đồng thời, mỗi bên vẫn tự lập.
Tuy tương quan mà dụng chẳng đồng; mỗi mỗi an trụ nơi vị của mình.
Hình sắc khiến tướng mạo sai khác; âm thanh phân biệt thuận và nghịch.
Trong tối, muôn lời cùng một vị; ngoài sáng, câu cú có hay có dở.
Đất, nước, gió, lửa đều trở về tánh mình như con về mẹ.
Lửa nóng, gió động, nước ướt, đất cứng.
Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm mặn chua.
Mỗi pháp tự giữ bản vị; nhân quả rốt ráo quy về thật tướng,
như cành lá cùng sinh một gốc.
Cao và thấp chỉ là danh ngôn đối đãi.
Trong sáng có tối, chớ khước từ tối.
Trong tối có sáng, chớ khước từ sáng.
Sáng và tối nương nhau, như chân trước, chân sau trong lúc bước đi.
Mỗi pháp đều có giá trị tự thân, đồng thời tương ứng với muôn pháp trong công dụng và vị trí.
Các pháp hòa hợp như nắp với hộp; chân lý tương ưng như mũi tên bén xuyên thấu đích.
Đọc lời, phải thấu nguồn ý; đừng tự lập khuôn phép riêng.
Nếu chưa rõ Đạo, đi ngàn dặm cũng chẳng biết đường.
Đạo chẳng ở gần hay xa; mê vọng ngăn che như núi sông chắn lối.
Kính khuyên người cầu giác ngộ:
Chớ để tháng ngày trôi qua luống uổng.Một bản dịch khác của Thầy Jiyu-Kennett:
lặng lẽ truyền từ Tây sang Đông.
Nguồn đạo thanh tịnh như dòng suối trong, chảy mãi không nhiễm.
Người đời có lanh lợi, có chậm lụt, Đạo chân thật vốn chẳng có Tổ Nam, Tổ Bắc.
Vừa sinh đã nắm giữ muôn cảnh, lại theo vọng tưởng mà chồng thêm mê lầm.
Sáu căn cùng sáu trần giao hòa trong tương duyên,
mà mỗi mỗi vẫn giữ bản vị, nương nhau mà chẳng lệ thuộc nhau.
Hình tướng sai khác, thọ dụng chẳng đồng;
âm thanh có tiếng dịu, tiếng gắt, mỗi mỗi tự thành.
Trong tối, mọi lời đồng quy một vị; ngoài sáng, đục trong phân biệt.
Bốn đại đều trở về tự tánh, như con thơ trở về lòng mẹ.
Lửa nóng, gió động, nước ướt, đất bền.
Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị chua mặn.
Muôn pháp tuy tương quan, như cành lá cùng một gốc.
Đầu cuối đều quy về nguồn, cao thấp chỉ là tên gọi đối đãi.
Trong sáng có tối, chớ lấy tối làm toàn thể.
Trong tối có sáng, chớ lấy sáng làm cứu cánh.
Sáng cùng tối tương y, như chân trước chân sau trong từng bước đi.
Mỗi pháp đều đủ tự tánh, đồng thời hiển bày công dụng riêng.
Lý và sự vốn tương ứng, như hộp và nắp khít nhau.
Lý và sự vốn tương khế, như hai mũi tên gặp nhau giữa hư không.
Hãy thấu suốt ý chỉ cốt tủy trong những lời này;
đừng tự dựng lập khuôn phép riêng.
Nếu ngay nơi sáu trần chẳng nhận ra chân lý,
thì dẫu đi ngàn dặm cũng chẳng biết đường về.
Đi mãi, gần xa đều chẳng còn phân biệt; một niệm mê liền núi sông ngăn lối.
Xin nhắn người cầu Đạo:
Chớ để thời gian trôi qua vô ích.Bình giải về văn bản
Vào cuối đời, Shunryu Suzuki (Suzuki Roshi) đã giảng một loạt bài về Cantongqi. Các bài giảng này sau đó được xuất bản thành sách với nhan đề Branching Streams Flow in the Darkness.
Sheng Yen cũng đã xuất bản bằng tiếng Anh một bản chú giải về cả Cantongqi (với nhan đề "Inquiry Into Matching Halves") và The Precious Mirror of Samadhi, dưới nhan đề chung The Infinite Mirror (1990, Dharma Drum Publications, ISBN 0-9609854-4-1).
Xem thêm
Tài liệu tham khảo
Liên kết ngoài
- Sandokai là tên tiếng Nhật thời trung cổ và được dịch sang tiếng Anh.
- Các bài giảng và bình luận của Suzuki
- Các bản dịch tiếng Anh khác nhau của 參同契 – CAN TONG QI (TS'AN-T'UNG-CH'I)
- Nhiều bản dịch tiếng Anh và tiếng Hungary khác nhau của Cantongqi và một tác phẩm khác của Shitou Xiqian, Sōan ka
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).