The Legend of Zelda: The Minish Cap

Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). là một trò chơi hành động-phiêu lưu năm 2004 do CapcomFlagship phát triển, Nintendo phát hành cho Game Boy Advance. Là phần thứ mười hai trong loạt trò chơi "The Legend of Zelda", "The Minish Cap" được phát hành cho Game Boy Advance tại Nhật Bản và Châu Âu vào năm 2004 và tại Bắc Mỹ và Úc vào năm sau đó.[1]

The Legend of Zelda:
The Minish Cap
Hình ảnh bìa hộp phiên bản Bắc Mỹ
Hình ảnh bìa hộp phiên bản Bắc Mỹ
Nhà phát triểnCapcom
Flagship[a]
Nhà phát hànhNintendo
Đạo diễnFujibayashi Hidemaro
Nhà sản xuấtInafune Keiji
Lập trình
  • Toshihiko Honda
  • Nobuhito Shimizu
  • Yoshiyuki Fujikawa
  • Nobuaki Minomiya
  • Yohei Doi
  • Koji Yoshida
Họa sĩ
  • Kimoto Takenori
  • Suetsugu Haruki
Âm nhạcTakano Mitsuhiko
Loạt trò chơiThe Legend of Zelda
Nền tảngGame Boy Advance
Phát hành
  • JP: 4 tháng 11 năm 2004
  • EU: 12 tháng 11 năm 2004
  • NA: 10 tháng 1 năm 2005
  • AU: 7 tháng 4 năm 2005
Thể loạiPhiêu lưu hành động
Chế độ chơiChơi đơn

The Minish Cap đóng vai trò là phần tiền truyện của Four SwordsFour Swords Adventures kể về nguồn gốc của Four Swórd và nhân vật phản diện Vaati. Trò chơi giữ lại nhiều yếu tố quen thuộc với các trò chơi "Zelda" trước đó, đặc biệt là các phiên bản tiền nhiệm như góc nhìn từ trên xuống trong A Link to the Past, và bao gồm các tính năng và cơ chế mới. Chủ yếu, nhân vật chính Link có được một chiếc mũ biết nói ma thuật tên là Ezlo, có thể thu nhỏ Link xuống kích thước tí hon của một chủng tộc Minish.

The Minish Cap được đón nhận tích cực từ giới phê bình.[2] Nó được xếp hạng là trò chơi hay thứ 20 trên Game Boy Advance trong một bài viết của IGN[3] và được GameSpot chọn là trò chơi của năm trên Game Boy Advance năm 2005.[4] Trò chơi đã được phát hành lại trên Wii U Virtual Console vào năm 2014.[5] và trên dịch vụ Nintendo Classics vào tháng 2 năm 2023.[6]

Lối chơi

Tập tin:The Legend of Zelda The Minish Cap screenshot.png
Ảnh chụp màn hình chế độ xem từ trên xuống được sử dụng trong The Minish Cap

The Minish Cap có lối chơi tương tự như các phiên bản Zelda trước đó.[7] Link phải khám phá một thế giới rộng lớn và hoàn thành nhiều hầm ngục, thu thập các vật phẩm và khả năng mới trong suốt trò chơi.

Minish Cap trong tiêu đề đề cập đến một khả năng mới cho phép Link biến hình thành "kích thước Minish" bằng cách sử dụng các cổng dịch chuyển trong thế giới. Kích thước nhỏ hơn của Link thay đổi khả năng di chuyển của cậu trong môi trường xung quanh. Ví dụ, một cổng dịch chuyển nhỏ mà Link ở kích thước bình thường không thể tiếp cận được thì Link ở kích thước Minish có thể sử dụng. Một vũng nước mà Link bình thường có thể đi qua sẽ quá sâu đối với Link ở kích thước Minish.

Cùng với những vật phẩm quen thuộc trong các trò chơi "Zelda" (như bom và mũi tên), The Minish Cap giới thiệu ba vật phẩm mới: Găng tay đào hang (Mole Mitts, cho phép Link đào xuyên qua tường đất), Bình gió (Gust Jar, hút kẻ thù và các vật thể khác) và Gậy Pacci (Cane of Pacci, lật ngược vật thể). Ở một số khu vực, người chơi có thể tạo ra nhiều bản sao của Link; mặc dù The Minish Cap là trò chơi chơi đơn, khả năng này được lấy cảm hứng từ các trò chơi "Four Swords" tập trung vào chế độ nhiều người chơi.[7] Người chơi cũng có thể thu thập "Kinstones", những hiện vật bị vỡ thành hai mảnh. Tìm được các mảnh Kinstone giống nhau có thể giúp tiến triển trong trò chơi hoặc nhận được các phần thưởng khác.

Cốt truyện

Bối cảnh

Trong niên đại của Zelda, The Minish Cap diễn ra giữa Skyward SwordFour Swords, khiến nó trở thành câu chuyện thứ hai trong dòng thời gian đó. [8] Là một tiền truyện của Tứ Kiếm (Four Swords), The Minish Cap kể về câu chuyện hậu trường của Vaati và sự ra đời của Tứ Kiếm, cả hai đều xuất hiện trong Four Swords và phần tiếp theo Four Swords Adventures.[9]

Cốt truyện

Nhiều thế kỷ trước, Hyrule bị tàn phá bởi các thế lực tà ác cho đến khi tộc Picori, một chủng tộc sinh vật tí hon, ban tặng cho một người anh hùng trẻ tuổi Thanh kiếm Picori (Picori Blade) và Ánh sáng Thần lực (Light Force), sử dụng cả hai để nhốt những thế lực tà ác của thế giới vào một chiếc rương. Người dân Hyrule biết ơn đã tổ chức Lễ hội Picori hàng năm, với truyền thuyết kể rằng một cánh cửa giữa hai thế giới sẽ mở ra cứ sau 100 năm, cho phép tộc Picori trở lại. Hiện tại, Link cùng Công chúa Zelda đến Lễ hội Picori. Nhà vô địch đấu kiếm của lễ hội, Vaati, đã phá hủy Thanh kiếm Picori và mở chiếc rương, giải phóng những con quái vật khắp Hyrule. Không tìm thấy Ánh sáng Thần lực mà hắn tìm kiếm, Vaati biến Zelda thành đá và bỏ đi. Vì chỉ trẻ em mới có thể nhìn thấy tộc Picori, Vua Daltus ra lệnh cho Link tìm kiếm họ để thanh kiếm có thể được rèn lại nhằm ngăn chặn Vaati và khôi phục Zelda. Trên đường đến Rừng Minish, Link gặp Ezlo, một chiếc mũ ma thuật, người quyết định đi cùng Link và ban cho anh khả năng thu nhỏ xuống kích thước của tộc Picori. Tộc Picori, tự xưng là Minish, giao cho Link nhiệm vụ thu thập Tứ Nguyên Tố, những viên đá ma thuật cần thiết để phục hồi Thanh Kiếm Picori.

Cuối cùng, Ezlo giải thích rằng ông từng là một hiền nhân Minish, người đã tạo ra Chiếc Mũ Pháp Sư, một chiếc mũ có khả năng ban điều ước, nhưng đệ tử của ông là Vaati đã đánh cắp chiếc mũ và trở thành một phù thủy quyền năng. Bị mê hoặc bởi cái ác và khao khát sức mạnh của Ánh Sáng, Vaati đã sử dụng khả năng mới của mình để giam cầm Ezlo trong hình dạng hiện tại. Trong khi đó, Vaati tẩy não Vua Daltus và chiếm quyền kiểm soát Lâu đài Hyrule. Sau khi Link thu thập được Tứ Nguyên Tố và truyền chúng vào thanh kiếm được rèn lại, biến nó thành Tứ Kiếm, Link và Ezlo biết được rằng Ánh Sáng được truyền lại trong các công chúa của Hyrule. Vaati, kẻ đã theo dõi họ, nghe lén được điều này và bắt đầu hút Ánh Sáng từ Zelda.

Link trở lại lâu đài và đối đầu với Vaati, kẻ đã sử dụng Ánh Sáng bị hút để trở nên toàn năng, nhưng Link đã đánh bại Vaati và khôi phục Zelda trở lại bình thường. Vaati biến hình thành một dạng quỷ dữ, nhưng đã bị Link đánh bại, giúp Ezlo trở lại bình thường. Sau khi Zelda dùng Mũ Pháp Sư để hóa giải mọi thiệt hại do Vaati gây ra, đồng thời phá hủy chiếc mũ, Ezlo cảm ơn Link vì sự giúp đỡ của cậu, tặng cậu một chiếc mũ mới làm quà chia tay, rồi rời đi qua cánh cửa đến Vương quốc Minish trước khi nó tự đóng kín thêm một thế kỷ nữa.

Đón nhận và giải thường

The Minish Cap là trò chơi bán chạy nhất trong tuần đầu ra mắt tại Nhật Bản, với 97.000 bản được bán ra.[22] Nó trở thành trò chơi bán chạy thứ 62 năm 2004 với 196.477 bản được bán ra,[23] và tổng cộng đã bán được 350.000 bản trên toàn quốc.[24] Tại Bắc Mỹ, The Minish Cap đã bán được 217.000 bản trong tháng đầu tiên ra mắt vào tháng 1 năm 2005, trở thành trò chơi bán chạy thứ tư trong tháng đó.[25] Nó vẫn nằm trong top 5 trò chơi bán chạy nhất trong tháng Hai và tháng Ba.[26][27] The Minish Cap đã kết thúc năm 2005 với vị trí thứ bảy trong danh sách các trò chơi bán chạy nhất năm[28] Đến tháng 3 năm 2005, trò chơi này đã bán được 1 triệu bản trên toàn thế giới.[29] Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, trò chơi đã bán được 680.000 bản và thu về 21 triệu đô la tính đến tháng 8 năm 2006. Trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 8 năm 2006, đây là trò chơi bán chạy thứ 37 được phát hành cho Game Boy Advance, Nintendo DS hoặc PlayStation Portable tại quốc gia này.[30] Tổng kế cuối cùng đã bán được 1,76 triệu bản trên toàn thế giới.[31]

The Minish Cap đã giành giải "Trò chơi Game Boy Advance hay nhất năm 2005" do GameSpot bình chọn, vượt qua các ứng cử viên nặng ký như Fire Emblem: The Sacred StonesWarioWare: Twisted!; GameSpot đã gọi đây là "trò chơi Game Boy Advance đáng nhớ nhất".[4] Vào tháng 3 năm 2007, trò chơi này được IGN xếp hạng là trò chơi hay thứ 20 trên hệ máy "Game Boy Advance". Trong bài đánh giá, IGN nhận xét rằng "việc đưa khả năng thu nhỏ và phóng to vào trò chơi đã mang lại những kết quả thực sự tốt".[3] Trò chơi này được xếp hạng thứ 47 trong danh sách "100 trò chơi Nintendo hay nhất" của tạp chí Official Nintendo Magazine.[32] The Minish Cap nhận được điểm trung bình 90% từ GameRankings, một trang web tổng hợp xếp hạng truyền thông từ nhiều nhà xuất bản để đưa ra điểm trung bình.[2] Trong Lễ trao giải Thành tựu Tương tác thường niên lần thứ 9, Viện hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Tương tác đã đề cử The Minish Cap cho Trò chơi Cầm tay của Năm, giải thưởng cuối cùng đã được trao cho Nintendogs.[33]

Ghi chú

  1. ^ The Legend of Zelda: The Minish Cap được đồng sản xuất với Nintendo Entertainment Analysis & Development.

Tham khảo

Trích dẫn
  1. ^ "Zelda: Minish Cap: Release Dates". GameSpot. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2007.
  2. ^ a b c "The Legend of Zelda: Minish Cap reviews". GameRankings. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2007.
  3. ^ a b c Harris, Craig (ngày 16 tháng 3 năm 2007). "Top 25 Game Boy Advance Games of All Time". IGN. Ziff Davis. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2007.
  4. ^ a b c "Gamespot's Best of 2005–Platforms". GameSpot. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2007.
  5. ^ Ronaghan, Neal (ngày 5 tháng 6 năm 2014). "This Week in the Nintendo eShop". IGN.
  6. ^ Plant, Logan (ngày 8 tháng 2 năm 2023). "Nintendo Switch Online Adding Game Boy and Game Boy Advance Games". IGN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2023.
  7. ^ a b c Shoemaker, Brad (ngày 11 tháng 1 năm 2005). "The Legend of Zelda: The Minish Cap review". GameSpot. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2022.
  8. ^ The Legend of Zelda Encyclopedia. Dark Horse. 2018. tr. 10. ISBN 978-1-5067-0638-2.
  9. ^ "Zelda: The interview!". Nintendo of Europe. ngày 17 tháng 11 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010. NoE: "Minish Cap" nằm trong dòng thời gian của Zelda như thế nào? Liệu nó có phải là phần tiền truyện của "The Legend of Zelda: Four Swords Adventures" sắp ra mắt trên GameCube? Aonuma: "Đúng vậy, tựa trò chơi này diễn ra trước "The Legend of Zelda: Four Swords Adventures" và tiết lộ bí mật về sự ra đời của Four Swords."
  10. ^ "The Legend of Zelda: The Minish Cap for Gameboy Advance". Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012.
  11. ^ a b "Review: The Legend of Zelda: The Minish Cap". 1UP.com. Bản gốc lưu trữ tháng 9 27, 2007. Truy cập tháng 5 9, 2007.
  12. ^ "The Legend of Zelda: The Minish Cap - Review". AllGame. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  13. ^ "Review: The Legend of Zelda: The Minish Cap". Edge (144): 91. 2004. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2025.
  14. ^ "Review: The Legend of Zelda: The Minish Cap". GamePro. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2007.
  15. ^ "Legend of Zelda: The Minish Cap". Game Informer. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2006.
  16. ^ Harris, Craig (ngày 10 tháng 1 năm 2005). "IGN: The Legend of Zelda: The Minish Cap review". IGN. Bản gốc lưu trữ tháng 5 9, 2006. Truy cập tháng 10 28, 2007.
  17. ^ Crites, Jacob (ngày 19 tháng 12 năm 2011). "The Legend of Zelda: The Minish Cap Review (3DS eShop / GBA)". Nintendo Life. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  18. ^ "The Legend of Zelda: The Minish Cap Reviews and Articles". GameRankings. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012.
  19. ^ "GameSpy's Game of the Year 2005". GameSpy. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2007.
  20. ^ "2005 Nintendo Power Awards". Nintendo Power. Quyển 203. tr. 53..
  21. ^ "NP Top 200". Nintendo Power. Quyển 200. tr. 61..
  22. ^ Jenkins, David (ngày 12 tháng 11 năm 2004). "Japanese Sales Charts, Week Ending November 7th". Gamasutra. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009.
  23. ^ "2004 Top 100 Best Selling Japanese Console Games". The Magic Box. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009.
  24. ^ Kohler, Chris (ngày 26 tháng 6 năm 2007). "Big Zelda Sales In Japan". Wired. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009.
  25. ^ Feldman, Curt (ngày 16 tháng 2 năm 2005). "NPD: January console-game revenues flat". GameSpot. CBS Interactive. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009.
  26. ^ Thorsen, Tor (ngày 29 tháng 3 năm 2005). "ChartSpot: February 2005". GameSpot. CBS Interactive. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009.
  27. ^ Adams, David (ngày 16 tháng 3 năm 2005). "Top of the Console Pops". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2013.
  28. ^ Surette, Tim (ngày 28 tháng 7 năm 2005). "NPD: 2005 game sales up 21 percent". GameSpot. CBS Interactive. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009.
  29. ^ "Nintendo 2005 Annual Report" (PDF). tr. 37. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2008.
  30. ^ Keiser, Joe (ngày 2 tháng 8 năm 2006). "The Century's Top 50 Handheld Games". Next Generation. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2007.
  31. ^ 2021CESAゲーム白書 (2021 CESA Games White Papers). Computer Entertainment Supplier's Association. 2021. ISBN 978-4-902346-43-5.
  32. ^ "60–41 ONM". Official Nintendo Magazine. Future plc. ngày 23 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2009.
  33. ^ "2006 Awards Category Details Handheld Game of the Year". interactive.org. Academy of Interactive Arts & Sciences. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2023.
Notes

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).