Bước tới nội dung

Tiếng Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Tiếng Nôm)

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Protection banner”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “about”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “about”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Tiếng Việt, còn gọi là tiếng Kinh hay tiếng phổ thông,[lower-alpha 1] là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á, được công nhận là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam và một bộ phận đáng kể 5 triệu Việt kiều ở ngoại quốc, đồng thời là ngôn ngữ thứ hai của 53 dân tộc thiểu số được công nhận tại Việt Nam. Trên thế giới, tiếng Việt được công nhận là một trong những ngôn ngữ chính thức của Thành phố San Francisco, Hoa Kỳ,[1] và là ngôn ngữ chính thức của một dân tộc thiểu số được công nhận tại SécSlovakia.

Dựa trên vốn từ vựng cơ bản, tiếng Việt đã được giới ngôn ngữ học phân loại là một ngôn ngữ Nam Á, có quan hệ di truyền với những ngôn ngữ như Mường, Khmer, Môn, v.v. Đây cũng là ngôn ngữ Nam Á được sử dụng bởi nhiều người nhất (hơn hẳn tổng số người nói tất cả các ngôn ngữ khác cùng trong ngữ hệ cộng lại). Xuyên suốt quá trình lịch sử, tiếng Việt đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng từ các thứ tiếng thuộc ngữ hệ ngoại lai như Hán, Tai-Kadai, v.v. qua đó phát sinh nhiều đặc điểm khác thường so với các ngôn ngữ chị em, chẳng hạn như thanh điệu hoặc hình vị đơn âm tiết.

Lịch sử

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Từ tiền ngữ Vietic tới tiếng Việt cổ

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”.

Theo A. G. Haudricourt giải thích từ năm 1954, nhóm ngôn ngữ Việt-Mường ở thời kỳ khoảng đầu Công nguyên là những ngôn ngữ hay phương ngữ không thanh điệu. Về sau, qua quá trình giao thoa với Hoa ngữ và nhất là với các ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai vốn có hệ thống thanh điệu phát triển cao hơn, hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt xuất hiện và có diện mạo như ngày nay, theo quy luật hình thành thanh điệu. Sự xuất hiện các thanh điệu, bắt đầu khoảng thế kỷ thứ VI (thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam) với 3 thanh điệu và phát triển thêm vào khoảng thế kỷ XII (nhà Lý) với 6 thanh điệu. Sau đó một số phụ âm đầu biến đổi cho tới ngày nay. Trong quá trình biến đổi, các phụ âm cuối rụng đi làm thay đổi các kết thúc âm tiết và phụ âm đầu chuyển từ lẫn lộn vô thanh với hữu thanh sang tách biệt.

Ví dụ[2] của A.G. Haudricourt.

Đầu Công nguyên
(vô thanh điệu)
Thế kỷ VI
(3 thanh)
Thế kỷ XII
(6 thanh)
Ngày nay
pa pa pa ba
sla, hla hla la la
ba ba
la la
pas, pah pả bả
slas, hlah hlà lả lả
bas, bah
las, lah
pax, paʔ
slax, hlaʔ hlá
bax, baʔ pạ bạ
lax, laʔ lạ lạ

Tiếng Việt trung đại

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”. Bản mẫu:Mở rộng

Tiếng Việt hiện đại

Pháp thuộc

Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ thứ XIX, tiếng Pháp dần thay thế vị trí của cổ văn, trở thành ngôn ngữ chính thức trong giáo dục, hành chínhngoại giao. Chữ Quốc ngữ (chữ Latinh tiếng Việt), do một số nhà truyền giáo châu Âu tạo ra, đặc biệt là hai tu sĩ người Bồ Đào Nha Gaspar do AmaralAntonio Barbosa, với mục đích ban đầu là dùng ký tự Latinh ghi lại tiếng Việt, được chính quyền Pháp thuộc bảo hộ sử dụng nhằm thay thế chữ Hán với chữ Nôm để đồng văn tự với tiếng Pháp, dần dần sử dụng phổ biến trong xã hội cùng tiếng Pháp.

Gia Định báo là tờ báo đầu tiên mà phát hành bằng chữ Quốc ngữ tại Nam Kỳ vào năm 1865, đặt nền móng cho sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc ngữ như là chữ viết chính của tiếng Việt sau này.

Mặt khác, những khái niệm chính trị xã hội, kỹ thuật mới dẫn đến việc nhập các thuật ngữ, từ ngữ mới. Có 2 xu hướng về cách thức nhập thuật ngữ là:

  1. Nhập từ phiên âm của ngôn ngữ phương Tây, chủ yếu là từ tiếng Pháp và có thể sử dụng bởi tầng lớp thị dân có thể vốn không thạo chữ Hán [3] như ghi đông, phanh, lốp, găng, pê đan, phuốc tăng (nay gọi là phuộc),...
  2. Nhập qua âm Hán Việt của chữ Hán từ tiếng Trungtiếng Nhật (từ Hán-Việt gốc Nhật) như chính đảng, kinh tế, giai cấp, bán kính, câu lạc bộ,... Trong giới văn hoa thì các tên riêng phương tây mà dùng là từ Hán Việt như Á Căn Đình (Argentina), Nã Phá Luân (Napoleon),... hay Tòa Bạch Ốc (Nhà Trắng),...

Hậu thuộc địa

Bản mẫu:Mở rộng Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra thời kỳ độc lập mới cho Việt Nam. Dưới sự dẫn dắt của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tiếng Việt thay thế hoàn toàn tiếng Phápvăn ngôn, trở thành ngôn ngữ làm việc cấp quốc gia duy nhất.

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam (1954–1975), sự chuẩn hóa tiếng Việt diễn ra có phần khác nhau ở các lãnh thổ nằm dưới sự kiểm soát của một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng hòa miền Nam Việt Nam, một bên là Việt Nam Cộng hòa.

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, tiếng Việt trong nước được chuẩn hóa theo một hướng duy nhất. Sự phổ biến hơn của các phương tiện truyền thanh và truyền hình trên toàn quốc góp phần chuẩn hóa tiếng Việt về chính tả và âm điệu. Từ Hán Việt và từ thuần Việt được người Việt sử dụng song song tùy thuộc ngữ cảnh hay văn phong. Sự di cư để học tập và làm việc giữa các vùng miền giúp mọi người ở Việt Nam được tiếp xúc và hiểu nhiều hơn với các phương ngữ tiếng Việt.

Phân bố

Mức độ phổ biến của tiếng Việt trên khắp lãnh thổ Việt Nam.
Phân bố độ phổ biến của tiếng Việt trên lãnh thổ Việt Nam. Trong đó các khu vực màu vàng nhạt là các khu vực sử dụng tiếng dân tộc bản địa trong đời sống là nhiều hơn so với tiếng Việt.

Theo Ethnologue, tiếng Việt có tại Anh, Ba Lan, Campuchia, Côte d'Ivoire, Đức, Hà Lan, Lào, Na Uy, Nouvelle-Calédonie, Phần Lan, Pháp, Philippines, Cộng hòa Séc, Sénégal, Thái Lan, Vanuatu, Đài Loan, Nga... Riêng Trung Quốcngười Kinh bản địaĐông Hưng, tiếng Việt của họ có pha trộn âm giọng của các ngôn ngữ Hán (Quan thoại, tiếng Quảng Đông,...).

Tiếng Việt là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc vì người Việt được công nhận là "dân tộc thiểu số" tại Séc.[4]

Phương ngữ

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Tiếng Việt có sự thay đổi trong giọng nói từ Bắc vào Nam, không đột ngột mà tiệm tiến dần theo từng vùng liền nhau. Trong đó, giọng Bắc (Nam Định – Thái Bình), giọng Trung Huế và giọng Nam Sài Gòn là 3 phân loại chính. Hiện nay, cách đọc chuẩn ở Việt Nam dựa vào giọng Hà Nội.[5] Tuy nhiên, chưa có quy định nào nói rằng giọng Hà Nội là chuẩn quốc gia.[6]

Ngữ âm

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Nguyên âm

Dưới đây là bảng các nguyên âm theo giọng Hà Nội.

  Trước Giữa Sau
Đôi, giữa ia/iê Bản mẫu:IPAblink ưa/ươ Bản mẫu:IPAblink ua/uô Bản mẫu:IPAblink
Đóng i/y Bản mẫu:IPAblink ư Bản mẫu:IPAblink u Bản mẫu:IPAblink
Nửa đóng/
Vừa
ê Bản mẫu:IPAblink ơ Bản mẫu:IPAblink
â Bản mẫu:IPAblink
ô Bản mẫu:IPAblink
Nửa mở/
Mở
e Bản mẫu:IPAblink a Bản mẫu:IPAblink
ă Bản mẫu:IPAblink
o Bản mẫu:IPAblink

Trong bảng trên, các nguyên âm trước, giữa và nguyên âm mở là nguyên âm không tròn môi, còn lại là nguyên âm tròn môi. Ăâ là dạng ngắn của aơ.

Đồng thời, tiếng Việt còn có hệ thống nguyên âm đôi và nguyên âm ba.

Phụ âm

Bảng dưới đây trình bày các phụ âm trong tiếng Việt và chính tả tương ứng của chúng.

Môi Răng/
Lợi
Quặt lưỡi Ngạc cứng Ngạc mềm Thanh hầu
Mũi m Bản mẫu:IPAblink n Bản mẫu:IPAblink nh Bản mẫu:IPAblink ng/ngh Bản mẫu:IPAblink
Tắc không bật hơi p Bản mẫu:IPAblink t Bản mẫu:IPAblink tr Bản mẫu:IPAblink ch Bản mẫu:IPAblink c/k/q Bản mẫu:IPAblink
bật hơi th Bản mẫu:IPAblink
hút vào b Bản mẫu:IPAblink đ Bản mẫu:IPAblink
Xát vô thanh ph Bản mẫu:IPAblink x Bản mẫu:IPAblink s [[[:Bản mẫu:IPAplink]]~Bản mẫu:IPAplink] kh [[[:Bản mẫu:IPAplink]]~Bản mẫu:IPAplink] h Bản mẫu:IPAblink
hữu thanh v Bản mẫu:IPAblink d/gi [[[:Bản mẫu:IPAplink]]~Bản mẫu:IPAplink] g/gh Bản mẫu:IPAblink
Tiếp cận l Bản mẫu:IPAblink y/i Bản mẫu:IPAblink u/o Bản mẫu:IPAblink
R-tính r Bản mẫu:IPAblink

Một số phụ âm chỉ có một cách viết (như b, p) nhưng một số có nhiều hơn một cách viết như k, có thể biểu diễn bằng c, k hay q. Đồng thời, các phụ âm có thay đổi tuỳ theo địa phương. Sự khác biệt về phụ âm giữa các vùng miền trình bày kỹ càng hơn trong bài phương ngữ tiếng Việt.

Thanh điệu

Thanh điệu Miêu tả Đường nét thanh điệu Dấu phụ Ví dụ Âm thanh Unicode
ngang bằng giữa ˧ (không dấu) ma <phonos file="Vi ngang tone.ogg">a</phonos>
huyền   thấp dần ˨˩ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”. <phonos file="Vi huyen tone.ogg">à</phonos> U+0340 hoặc U+0300
sắc   cao dần, mạnh ˧˥ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”. <phonos file="Vi sac tone.ogg">á</phonos> U+0341 hoặc U+0301
hỏi   thấp dần rồi cao dần, thô ˧˩˧ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”. mả <phonos file="Vi hoi tone.ogg">ả</phonos> U+0309
ngã   cao dần, tắc ˧ˀ˦˥ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”. <phonos file="Vi nga tone.ogg">ã</phonos> U+0342 hoặc U+0303
nặng   thấp dần, tắc, ngắn ˨˩ˀ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”. mạ <phonos file="Vi nang tone.ogg">ạ</phonos> U+0323

Tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của tiếng Việt luôn mang 1 thanh điệu nào đó. Do các thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ biểu thị bằng các dấu thanh còn gọi là dấu nên một số người quen gọi các thanh điệu của tiếng Việt là các "dấu". Có sự khác biệt về số lượng thanh điệu và điệu trị của thanh điệu giữa các phương ngôn của tiếng Việt, thanh điệu có tên gọi giống nhau không đồng nghĩa với việc nói chúng sẽ giống nhau trong mọi phương ngôn của tiếng Việt. Phương ngôn tiếng Việt Bắc Bộ có 6 thanh điệu, phương ngôn tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ có 5 thanh điệu. Thanh điệu của tiếng Việt tiêu chuẩn gồm 6 thanh: ngang (còn gọi là thanh không dấu do chữ quốc ngữ không có dấu thanh cho thanh điệu này), sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng nhưng lại thiếu các quy định cụ thể về việc lấy cách phát âm trong phương ngôn nào của tiếng Việt làm cách phát âm tiêu chuẩn cho 6 thanh điệu này.

Các âm tiết mang vần nhập thanh, tức là các vần kết thúc bằng 1 trong 3 phụ âm cuối Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”. (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "c" hoặc chữ cái nhị hợp "ch"), Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”. (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "t"), Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”. (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "p") chỉ có thể mang thanh sắc hoặc thanh nặng. 3 âm tắc trên đã làm cho các âm tiết mang vần nhập thanh chỉ có thể mang các thanh điệu có điệu trị ngắn và nhanh.

Trong thơ ca các thanh điệu phân thành 2 nhóm: thanh bằng gồm có nganghuyền, thanh trắc gồm các thanh còn lại. Trong các thể thơ cổ như Đường luậtlục bát, có thể có sự hòa hợp thanh điệu bằng trắc giữa các tiếng trong 1 câu thơ.

Ngữ pháp

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Tiếng Việt là 1 ngôn ngữ đơn lập. Các quan hệ ngữ pháp thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống hư từ và cách sắp xếp trật tự từ trong câu. Trật tự từ thông dụng nhất trong tiếng Việt là chủ ngữ - vị ngữ - tân ngữ (SVO). Tuy nhiên, trật tự trong câu có thể trong một số trường hợp sắp xếp theo kiểu ngôn ngữ nổi bật chủ đề, vì thế mà 1 câu có thể theo trật tự Tân ngữ - Chủ ngữ - Vị ngữ (OSV).

Vị trí các từ sắp xếp theo thứ tự, từ mang ý chính đứng trước từ mang ý phụ đứng sau bổ sung nghĩa cho từ mang ý chính, tương tự như danh từ đứng trước tính từ đứng sau bổ sung nghĩa cho danh từ. Tuy nhiên trong một số trường hợp, bổ ngữ (bao gồm từ mang ý phụ và tính từ) sẽ đứng trước danh từ.

Tiếng Việt còn có hệ thống đại từ nhân xưng dựa trên các từ ngữ chỉ quan hệ xã hội và hệ thống danh từ đơn vị.

Từ vựng

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Từ vựng tiếng Việt có 2 bộ phận chính: từ thuần Việttừ mượn. Ngoài ra còn có những từ hỗn chủng là kết quả của sự kết hợp các yếu tố thuần Việt và ngoại lai.

Từ thuần Việt

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Từ thuần Việt là những từ xuất hiện lâu hơn trong tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất trong đời sống hằng ngày. Do có sự tiếp xúc từ sớm hơn với các ngôn ngữ nhóm Tày-Thái nên nhiều từ thuần Việt và các từ tương ứng trong các tiếng này có sự giống nhau nhất định về ngữ âmngữ nghĩa.[7]

Từ Hán Việt

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu khi nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm khu vực Việt Nam. Quá trình tiếp xúc đã đưa vào tiếng Việt một khối lượng từ ngữ của tiếng Hán. Giai đoạn đầu, hiện tượng này diễn ra lẻ tẻ, rời rạc hơn chủ yếu thông qua đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc giữa người Việtngười Hán, tạo nên 1 lớp từ có nguồn gốc Hán cổ mà đã hoà lẫn với các từ thuần Việt.[8] Đến đời Đường, tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua đường sách vở. Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu đọc theo ngữ âm đời Đường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là âm Hán–Việt. Khi đưa vào tiếng Việt, bên cạnh việc thay đổi về mặt ngữ âm, một số từ Hán Việt thay đổi cả ngữ nghĩa.[8]

Từ Hán-Việt chiếm 1 phần trong vốn từ vựng tiếng Việt, chúng hiện diện một số lĩnh vực của đời sống xã hội.

Từ có nguồn gốc Ấn–Âu

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng đến tiếng Việt và các từ ngữ gốc Pháp thâm nhập vào tiếng Việt. Sự ảnh hưởng này là do tiếng Pháp có sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Nhà nước và trong giảng dạy ở nhà trường cũng như trong các loại sách báo khác. Ảnh hưởng này kéo theo sự xuất hiện của các từ gốc Pháp trong các lĩnh vực khác nhau đặc biệt là trong khoa học kỹ thuật.

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Do đó, một số từ ngữ gốc Nga có điều kiện du nhập vào tiếng Việt. Đồng thời, cùng với sự tiếp xúc, hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, trong tiếng Việt cũng xuất hiện các từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng Anh.

Nhìn chung, khi đưa vào tiếng Việt, những từ này đã Việt hoá về mặt âm đọc (thêm thanh điệu, thay đổi âm hoặc giảm bớt âm tiết). Những từ đơn âm tiết (hoặc đơn âm hoá), vay mượn qua khẩu ngữ thâm nhập vào tiếng Việt. Trong khi đó, những từ có 2 âm tiết trở lên, vay mượn thông qua sách vở vẫn còn dấu ấn ngoại lai.[9] Có những từ vay mượn nguyên dạng nên tạo ảnh hưởng trong cách phát âm.

Từ có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số

Là 1 nước đa sắc tộc với 54 dân tộc đã công nhận, tiếng Việt phổ thông tiếp nhận 1 phần tiếng dân tộc thiểu số, gồm từ thông dụng và tên riêng của người hay địa vật và các từ này có thể có vần "phi Việt". Quá trình này diễn ra trong lịch sử. Dựa theo tên người/danh xưng đăng tải trên báo chí và các địa danh trên các bản đồ hành chính, chúng ta có thể phân loại các cách nhập tiếng dân tộc thiểu số như sau:[10]

  1. Từ tiếng nói của hầu hết các dân tộc từ Quảng Bình trở ra, đã cư trú lâu hơn cùng người Kinh và/hoặc thuộc vùng Văn hóa Đông Á, như người Mường, Tày, Nùng, Thái,... thì họ tên người thì theo từ Hán Việt như các họ "Triệu", "Đàm", "Cầm", "Đèo",..., còn địa danh thì theo ghi âm như "Nậm", "Huổi/ Khuổi", "Pắc",... Đôi khi sự giao lưu với người Kinh dẫn đến những tên hỗn hợp như Hang Bua (tên tiếng Thái là Thẩm Bua, nghĩa là Hang Sen).[11]
  2. Từ tiếng H'Mông thì theo ghi âm mà không theo từ Hán Việt, mặc dù tiếng H'Mông có quan hệ gần hơn với tiếng Hoa. Ví dụ như các họ Vàng (Vương, Vang), Giàng (Dương, Yang),... hay các địa danh như Lào Cai (nghĩa chữ là Chợ Cũ, từ Hán ViệtLão Nhai 老街), Sa Pa (Sa Pả, nghĩa chữ là Bãi Cát),... Trường hợp loại trừ là họ tên vua Mèo mà dùng từ Hán Việt như Vương Chí Sình.
  3. Từ tiếng nói của các dân tộc ở Tây Nguyên, Nam Bộ,... thì theo ghi âm là chính, như Đắk Lắk, Krông Pắc,... hoặc biến âm như Sóc Trăng, Nha Trang,... Cá biệt có việc giới chức biên phòng đã "Kinh hóa" địa danh đặt tên đồn biên phòng, ví dụ tại xã Pờ Y có Đồn/Cửa khẩu Bờ Y.

Các chữ và vần "phi Việt" viết theo hướng dẫn trong Quyết định 240/QĐ "Về tên riêng không phải tiếng Việt",[12] trong đó các chữ cái F, J, W, Z có thể tùy nghi sử dụng.

Từ hỗn chủng

Từ hỗn chủng là những từ tạo thành từ các yếu tố có nguồn gốc khác nhau như giữa yếu tố thuần Việt và Hán Việt, giữa yếu tố thuần Việt và yếu tố Ấn-Âu. Cùng với sự phát triển của tiếng Việt, các từ hỗn chủng đã gia tăng, đóng 1 vai trò trong việc diễn đạt các khái niệm mới hơn trong xã hội.

Ví dụ:

  • vôi hoá (Hán-Nôm: Bản mẫu:Nôm) – "vôi" là thuần Việt, "hoá" là Hán-Việt.
  • ôm kế – "ôm" là từ tiếng Đức Ohm, "kế" là Hán-Việt.
  • nhà băng – "nhà" là thuần Việt, "băng" là từ tiếng Pháp banque.
  • game thủ – "game" là tiếng Anh, "thủ" là Hán-Việt.

Chữ viết

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”.

"Tôi nói tiếng Việt Nam" (碎呐㗂越南), bên trên viết bằng Chữ Quốc ngữ (chữ Latinh), bên dưới viết bằng chữ Nôm (gạch chân) với chữ Hán
Truyện Nôm Phan Trần, ấn bản Nhâm Tý (1912) triều Duy Tân.
Một trang Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum tức Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651

Theo dòng lịch sử phát triển, tiếng Việt có 3 dạng ký tự để viết là chữ Hán, chữ Nôm (dựa trên chữ Hán) và chữ Quốc ngữ (chữ Latinh).

Chữ Hán và chữ Nôm là văn tự chính của Việt Nam trước thế kỷ 20. Tất cả các tác phẩm sử học và văn học cổ truyền Việt Nam đều viết bằng chữ Hán, chữ Nôm như Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Đoạn trường tân thanh, Đại Việt sử ký toàn thư,...

Chữ Quốc ngữ là chữ Latinh dựa trên bảng chữ cái và âm vị của tiếng Bồ Đào Nha đối chiếu với tiếng Việt, do các nhà truyền giáo Dòng Tên Bồ Đào Nha xây dựng vào đầu thế kỷ 17 rồi do giáo sĩ Alexandre de Rhodes người Avinhon chuẩn định.[13] Đây là người cho in cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum năm 1651. Cuối thế kỷ 18 tại Đàng Trong diễn ra cuộc chỉnh lý chữ Quốc ngữ dưới sự điều phối của Giám mục Pierre Pigneau de Behaine (hay còn biết tới dưới tên Bá Đa Lộc), từ điển có tên Dictionarium Anamatico-Latinum soạn quãng năm 1772–1773 nhưng mới chỉ là bản viết tay. Sau đó, từ điển của Taberd mang tên Nam Việt–Dương Hiệp Tự vị (tựa Latinh giống với tựa cuốn của Bá Đa Lộc) xuất bản năm 1838 tại Serampore, Ấn Độ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.

Chữ Quốc ngữ từ lúc ra đời tuy có hơn 200 năm hình thành và phát triển, nhưng chưa đủ phổ biến để là văn tự chính ở Việt Nam vì chữ Hánchữ Nôm vẫn là dạng văn tự phổ biến của tiếng Việt. Phải đến cuối thế kỷ 19, vào thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa bảo hộ chữ Quốc ngữ và cổ súy thay thế chữ Hán và chữ Nôm để tiếng Việt đồng văn tự Latinh với tiếng Pháp, bắt đầu từ Nam Kỳ rồi tới Bắc Kỳ và Trung Kỳ để dễ dàng phổ biến tiếng Pháp và văn hóa Pháp. Còn các nhà cải cách Việt Nam ủng hộ việc truyền bá hệ chữ Latinh như phương tiện để khai dân trí, chấn dân khí. Cải cách giáo dục năm 1906 của vua Thành Thái cũng bao gồm chương trình dạy chữ Quốc ngữ. Tuy vậy trong giai đoạn này, sự bóc lột của Thực dân Pháp khiến người Việt không được đi học đầy đủ, nên hầu hết người Việt giai đoạn này trở nên mù chữ với cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Ngay sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập quốc, Chính phủ phát động Bình dân học vụ với mục tiêu nhanh chóng giải quyết nạn mù chữ bằng cách đẩy mạnh dạy chữ Quốc ngữ cho người dân. Chữ Hán và chữ Nôm vẫn được một lượng người Việt sử dụng song song cùng chữ Quốc ngữ, nhưng đến năm 1950, giảng dạy chữ Hán Nôm bị loại ra khỏi chương trình giáo dục của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì độ phổ biến ở Việt Nam không còn nhiều.[14]

Tại Việt Nam hiện nay, người dân chủ yếu sử dụng chữ Quốc ngữ là chính, còn chữ Hán và chữ Nôm thường dùng trong các hoạt động liên quan tới văn hóa truyền thống như viết thư pháp, câu đối, tìm hiểu lịch sử và văn học cổ, và được giảng dạy trong chuyên ngành Hán Nôm bậc đại học cũng như tại các tổ chức phong trào dạy học chữ Hán và chữ Nôm được sử dụng trong tiếng Việt. Trái ngược lại là cộng đồng người Kinh bản địa ở Đông Hưng (Trung Quốc), do không bị ảnh hưởng bởi chính sách thay thế chữ Hán và chữ Nôm bằng chữ Quốc ngữ của Thực dân Pháp (vùng đất họ sống trở thành lãnh thổ Đại Thanh theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887, nên họ không bị Thực dân Pháp đô hộ), những thế hệ con cháu ở đây không bị gián đoạn chuyện đi học và không bị mù chữ. Người Kinh bản địa ở Đông Hưng vẫn duy trì được sự phổ biến của chữ Hán và chữ Nôm trong cộng đồng và vẫn dùng làm văn tự chính cho tiếng Việt ở thời hiện đại giống như người Việt xưa, thay vì dùng chữ Latinh như người Việt ở Việt Nam hiện tại.[15]

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, tại Chương I Điều 5 Mục 3, ghi tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam.[16] Không có bất kỳ văn bản nào ở cấp nhà nước quy định giọng chuẩnquốc tự ("chữ viết quốc gia" hoặc văn tự chính thức) của tiếng Việt.[17] Phần lớn các văn bản hành chính tiếng Việt ở Việt Nam được viết bằng chữ Quốc ngữ theo "Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt" áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục, nêu tại Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984[12] do những người thụ hưởng giáo dục đó sau này ra làm việc trong mọi lĩnh vực xã hội hướng tới việc chuẩn hóa chính tả tiếng Việt. Không có luật lệ nào cấm người Việt viết tiếng Việt hiện đại bằng chữ Hán Nôm.

Thư pháp

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”. Cùng với chữ Hán, KanaHangul, có người "yêu thích" thư pháp nâng chữ viết tiếng Việt lên thành một bộ môn nghệ thuật.

Thư pháp chữ Việt ban đầu là thư pháp chữ Nôm và chữ Hán. Sau này chữ Quốc ngữ trở nên phổ biến hơn trong khi nhu cầu và sở thích treo chữ trong nhà vẫn còn, người chơi chữ đã khởi xướng thư pháp chữ Quốc ngữ. Còn thư pháp chữ Hán và chữ Nôm hiện nay vẫn duy trì song song.

Bộ gõ tiếng Việt và giao tiếp tiếng Việt qua mạng

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”. Tuy cùng là chữ Latinh, ngoài 22 ký tự không dấu có trong bảng chữ cái tiếng Anh thì chữ Quốc ngữ còn chứa lượng ký tự có dấu, bao gồm 7 ký tự Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư cùng 60 chữ nguyên âm (A, Ă, Â, E, Ê, I, O, Ô, Ơ, U, Ư, Y) mang thanh điệu sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng. Tổng cộng là máy tính hay điện thoại cần phải nạp thêm 67 ký tự, gấp hơn 2,5 lần bảng chữ cái của tiếng Anh (26 ký tự) thì mới đủ để viết tiếng Việt. Nên để có thể viết tiếng Việt trên máy tínhđiện thoại di động cần có bộ gõ là phần mềm hỗ trợ soạn thảo văn bản bằng tiếng Việt đi kèm một số phông chữ Quốc ngữ. Người dùng cũng có thể cài đặt thêm các phông ký tự chữ Quốc ngữ khác phục vụ trang trí và nghệ thuật. Các bộ gõ tiếng Việt khác nhau sẽ quy định các phím bấm khác nhau để hiển thị các dấu thanh, dấu mũ và dấu móc. Có những quy ước chuẩn dấu tiếng Việt, bộ mã, cách gõ và những phần mềm khác nhau. Có bộ mã chữ Việt theo chuẩn quốc tế Unicode.

Do ký tự có dấu phải mã hóa mất lượng bộ nhớ lớn hơn ký tự không dấu, việc tin nhắn SMS bằng tiếng Việt có dấu bị hạn chế 70 ký tự/tin nhắn (ít hơn một nửa so với 180 ký tự/tin nhắn của tiếng Anh) nên trước đây người Việt thường nhắn tin SMS không dấu để có thể viết nhiều nội dung hơn và tiết kiệm tiền hơn dù nội dung bằng tiếng Việt không dấu có thể gây hiểu nhầm. Một số trường hợp lợi dụng viết tắt, biến đổi ký tự nhằm giảm số lượng (j=gi; f=ph; bỏ h trong "gh","ngh") hay thể hiện rõ âm (z=d vì "đ" viết không dấu thành "d"). Hiện nay nhờ sự phát triển của Internet trên di động (như Wi-Fi, 4G không giới hạn dung lượng) cùng các ứng dụng OTTmạng xã hội, việc nhắn tin bằng tiếng Việt có dấu trở nên thoải mái hơn mà không lo bị hạn chế ký tự.

Đối với việc gõ chữ Hánchữ Nôm bằng tiếng Việt, do dạng ký tự này hiện không được sử dụng phổ biến ở Việt Nam nên các hãng sản xuất máy tính, điện thoại hay phần mềm coi như loại bỏ. Thời gian gần đây để phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu về lịch sử hay văn học cổ cũng như chuyên ngành Hán Nôm, một số cá nhân hay tổ chức đã tạo ra những trang web hay phần mềm giúp viết chữ Hán và chữ Nôm bằng bộ gõ chữ Quốc ngữ. Với chữ Hán do đồng bộ với các chữ của bộ gõ tiếng Trung và tiếng Nhật nên việc hiển thị không khó khăn, còn chữ Nôm do một lượng chữ chưa được mã hoá đầy đủ nên có thể hiển thị bị lỗi trên một số máy tính và điện thoại dưới dạng ô vuông hay dấu hỏi chấm.

Xem thêm

Phụ chú

Bản mẫu:Notelist

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc, Các từ ngữ gốc Ấn-Âu Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nhà xuất bản Giáo dục, H., 1997, trang 213–219.
  4. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  7. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  8. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  9. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  10. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  11. ^ Tháng Giêng trẩy hội Hang Bua. cinet, 2012. Truy cập 22/02/2016.
  12. ^ a ă Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt. Thuvien Phapluat, 2015. Truy cập 12/05/2017.
  13. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  14. ^ Vũ Thế Khôi (2009). "Ai "bức tử" chữ Hán - Nôm?" Bản mẫu:Webarchive
  15. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  16. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  17. ^ "Chữ quốc ngữ chưa được Nhà nước công nhận là quốc tự", Giáo dục VN, 22/12/2012

Thư mục

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Tiếng Việt

Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.

  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Ngoại ngữ

Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.

  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.

Tuyển tập

Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.

  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  • Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Side box

Bản mẫu:Side box Bản mẫu:Side box

Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản. Bản mẫu:Thanh chủ đề Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Authority control”.
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng