Trúc Quỳnh (1922 – ?) là một nữ diễn viên kịch nói và điện ảnh Việt Nam. Bà là một trong những nghệ sĩ thế hệ đầu tiên của nền kịch nói cách mạng Việt Nam, đã được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân (đợt 2) năm 1988.

Tiểu sử

Trúc Quỳnh lần đầu được biết đến vào năm 1946 với vai diễn Phồn Y trong vở Lôi vũ của Tào Ngu. Mặc dù vở diễn chỉ có hai buổi, nhưng đã giúp bà ghi dấu ấn với khán giả cho đến nhiều năm sau đó.[1]

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Trúc Quỳnh đã tham gia biểu diễn, làm kịch kháng chiến ở nhiều nơi. Sau Hiệp định Geneve năm 1954, bà tham gia Đoàn Kịch nói Trung ương (nay là Nhà hát Kịch Việt Nam) và đã có nhiều vai diễn thành công.[2]

Các vai diễn tiêu biểu của bà bao gồm[1][2]:

  • Phồn Y trong Lôi Vũ (1946)
  • Mụ Chánh Tôn trong vở Chị Hoà (1954) (tác giả Học Phi, đạo diễn Thế Lữ) - cùng với Đào Mộng Long (vai Chánh Tôn), Thuý Thuý (vai chị Hoà), Quang Huy (vai Sơn), Lại Phú Cương (vai ông Hoà), Dương Viết Bát (vai em Hiệp).[2]
  • Panova trong Liuba (1958) - Kịch Liên Xô, cùng với Hữu Hạnh (vai Liuba), Minh Trị (vai Iravôi), Hoàng Uẩn (vai Sêvangia), Mạnh Linh (vai Chính uỷ Côtxkin), Thu Hà và Thu Lê (vai nữ thư ký Panova), Bạch Lan và Lệ Thanh (vai Dunka), Đào Mộng Long (vai tên chỉ điểm Shirơ). Vở diễn do đạo diễn Liên Xô Vasiliev chỉ đạo.[2][1]
  • Lida trong vở Platôn Krêtret (1960)
  • Má Năm trong vở Anh Trỗi (1965) (đồng sáng tác Lưu Trọng Lư, Đình Quang, Vũ Khiêu, đạo diễn Ngọc Phương).
  • Đất ngọt (1967) (sáng tác Tất Đạt, đạo diễn Đình Quang).
  • Bà Pho trong vở Sang sông (1970) (sáng tác Hà Văn Cầu, đạo diễn Trần Hoạt).
  • Âm mưu và hậu quả (1972) (sáng tác Bửu Tiến, đạo diễn Nguyễn Đình Nghi).
  • Những người bóc đá (1975) (sáng tác Hồng Phi, đạo diễn Dương Ngọc Đức).
  • Ngọc Cầm trong vở Những người ở lại (tác giả Nguyễn Huy Tưởng).[1]
  • Lâm Nhĩ Nhàn trong vở Đứng gác dưới ánh đèn nê-ông (1964) (kịch Trung Quốc).[1]
  • Vợ giáo sư Hoàng trong vở Giáo sư Hoàng.[1]
  • Bà mẹ trong vở Tay súng dân quân.[1]
  • Bà giáo trong vở Mẹ và những người con.[1]
  • Maria Jlitrina trong vở 'Khúc thứ ba bi tráng.[1]

Ngoài ra bà còn tham gia đóng phim điện ảnh với vai mẹ Núi trong Đường về quê mẹ (1971, đạo diễn Bùi Đình Hạc), bà cô Thị Nở trong Làng Vũ Đại ngày ấy (1982, đạo diễn Trần Văn Khoa).[2]

Trúc Quỳnh nhân danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân trong đợt 2 năm 1993.

Chưa rõ Trúc Quỳnh qua đời năm nào. NSND Đào Mộng Long, một người bạn diễn thân thiết của bà, đã viết thơ viếng trong sổ tang:[3]

Chữ rằng "sinh ký tử quy"
Dịch là "sống gửi thác về" Quỳnh ơi!
Đâu sân khấu đâu cuộc đời
Là đây tiếng khóc tiếng cười chen nhau
Trải qua mấy cuộc bể dâu
Càng say thế sự càng đau nhân tình
Dòng đời trôi kiếp phù sinh…

Gia đình

Một người con trai của Trúc Quỳnh là diễn viên Hoàng Thắng (1954-2017), người nổi tiếng với vai "Cậu Trời" Đặng Lân trong phim điện ảnh Đêm hội Long Trì (1989).[4] Ông là người con duy nhất của Trúc Quỳnh theo nghiệp diễn xuất, còn những người con khác làm giáo viên, kỹ sư, bác sĩ.[4]

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i Lý Khắc Cung (2004). Hà Nội - văn hóa và phong tục. Nhà xuất bản Thanh Niên. tr. 232–234.
  2. ^ a b c d e Trần Việt Ngữ (2017). Nghìn năm sân khấu Thăng Long. Nhà xuất bản Hà Nội. tr. 596–599. ISBN 6045523210.
  3. ^ Vân Long (ngày 4 tháng 8 năm 2012). "Nghệ sĩ nhân dân Đào Mộng Long làm thơ". Sức Khỏe & Đời Sống. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
  4. ^ a b Trần Hoàng Thiên Kim (ngày 28 tháng 4 năm 2017). "Nghệ sĩ Hoàng Thắng: Luôn tử tế với những vai không tử tế". Công An Nhân Dân. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.