Trận New Carthage diễn ra vào đầu năm 209 TCN. Sau thất bại thảm hại của quân La Mã tại trận Thượng Baetis năm 211 TCN, thế trận quân La Mã tại bán đảo Iberia (Tây Ban NhaBồ Đào Nha ngày nay) rơi vào khủng hoảng sâu sắc. Cuối năm 210 TCN, vị tướng trẻ Publius Cornelius Scipio tiếp quản quyền chỉ huy cùng lực lượng viện binh. Đối mặt với ba đại quân Carthage mạnh mẽ đang phân tán trên bán đảo, Scipio nhận thấy việc giao chiến trực diện là vô cùng rủi ro. Thay vào đó, Scipio đưa ra một quyết định táo bạo: đánh thẳng vào New Carthage (Tân Carthage), thủ đô, trung tâm tài chính và hậu cần cốt lõi của người Carthage tại Iberia, nơi lúc bấy giờ do tướng Mago đồn trú.

Trận New Carthage
Một phần của Chiến tranh Punic lần thứ hai
Thời gianĐầu năm 209 TCN
Địa điểm
New Carthage, Iberia
37°36′B 0°59′T / 37,6°B 0,983°T / 37.600; -0.983
Kết quả La Mã giành chiến thắng
Tham chiến
La Mã Carthage
Chỉ huy và lãnh đạo
Publius Cornelius Scipio Mago (POW)
Lực lượng
  • Hơn 3.000
  •  • 1.000 binh lính
  •  • 2.000 dân binh
Thương vong và tổn thất
Không rõ Tất cả binh lính và thường dân thiệt mạng hoặc bị bắt giữ
Vị trí của New Carthage, được thể hiện trên bản đồ Tây Ban Nha hiện đại.

Đầu năm 209 TCN, Scipio áp sát thành phố và nhanh chóng mở màn cuộc tấn công. Ban đầu, quân La Mã chia làm hai mũi vây hãm cổng phía Đông và bắc thang leo tường phía Nam từ hướng cảng, nhưng cả hai đợt xung phong này đều bị quân đồn trú Carthage đẩy lùi. Sang buổi chiều, Scipio tái khởi động đợt tấn công thứ hai nhằm gia tăng áp lực, buộc tướng Mago phải điều quân từ bức tường phía Bắc, nơi nhìn ra một đầm lầy nông, sang viện trợ cho các điểm nóng. Nhận thấy sơ hở, Scipio lập tức cho 500 lính đặc nhiệm bí mật lội qua đầm lầy, trèo lên bức tường phía Bắc không người phòng thủ, đánh chiếm xuống cổng phía Đông và mở cổng từ bên trong cho đại quân tràn vào.

Thế trận nhanh chóng sụp đổ, tướng Mago cùng những toán quân cuối cùng phải rút lên thành lũy đầu hàng; New Carthage bị chiếm đóng và cướp phá. Quân La Mã thu giữ một lượng khổng lồ kim loại quý cùng rất nhiều vật tư chiến tranh. Chiến thắng này không chỉ tước đi căn cứ chỉ huy, tài chính và tiếp viện quan trọng nhất của Carthage tại Iberia, mà còn biến New Carthage thành trung tâm hậu cần chiến lược cho La Mã. Đây chính là bước ngoặt quyết định, đặt nền móng giúp La Mã hoàn toàn đánh đuổi người Carthage khỏi bán đảo Iberia vào năm 206 TCN.

Bối cảnh

Khi Cuộc chiến Punic lần hai bùng nổ (218 TCN), phần lớn Iberia nằm dưới tầm ảnh hưởng của Carthage.[1] La Mã nhanh chóng can thiệp bằng việc gửi quân đến vùng đông bắc bán đảo.[2] Sau 7 năm chiến đấu giằng co, người La Mã quyết định mở rộng quy mô bằng cách thuê thêm 20.000 lính đánh thuê Celtiberia để tiến xuống phía Nam và chia làm hai đạo quân. Tuy nhiên, bước ngoặt tồi tệ xảy ra vào năm 211 TCN khi lực lượng lính đánh thuê bất ngờ phản bội và đào ngũ, khiến cả hai đạo quân La Mã bị xé lẻ và đánh bại thảm hại trong hai trận chiến riêng biệt.[2][3]

Sau thảm họa năm 211 TCN, tướng Gaius Claudius Nero được cử sang cùng viện binh vào năm 210 TCN để cứu hoãn tình thế, giúp La Mã duy trì một căn cứ cố thủ nhỏ ở đông bắc Iberia.[3] Cuối năm đó, Publius Cornelius Scipio[note 1] được cử đến tiếp quản toàn bộ quyền chỉ huy cùng với các lực lượng viện binh bổ sung.[5][6] Đây là một quyết định phá vỡ mọi tiền lệ của La Mã, bởi Scipio lúc đó còn rất trẻ (khoảng 25 tuổi) và hoàn toàn chưa có kinh nghiệm nắm giữ bất kỳ chức vụ cao cấp nào trong bộ máy chính trị hay quân sự trước đó.[7]

Scipio nắm trong tay khoảng 31.000 quân (28.000 bộ binh và 3.000 kỵ binh).[8] Phía Carthage sở hữu tổng lực lượng áp đảo được chia làm ba đạo quân riêng biệt, mỗi đạo quân đều đông bằng hoặc hơn toàn bộ quân La Mã, lần lượt đóng tại miền Trung Iberia (do Hasdrubal Barca chỉ huy),[note 2] vùng Gades và vùng Lusitania. Mặc dù thua kém về quân số, vị trí địa lý phân tán xa nhau của 3 đạo quân Carthage lại tạo ra điểm yếu: họ không thể hỗ trợ lẫn nhau kịp thời, mở ra cơ hội để Scipio tiến quân từ Tarraco đánh phủ đầu một đạo quân lẻ loi.[12][13][14]

Mặc dù có cơ hội đánh lẻ, việc ép một kẻ địch cố thủ bước vào quyết chiến thời bấy giờ là rất khó do đối phương có thể ẩn nấp trong trại hoặc rút lui.[15][16] Một chiến dịch kéo dài không phân thắng bại sẽ buộc La Mã phải rút quân, làm sụp đổ niềm tin của các đồng minh Iberia. Hơn nữa, việc kéo dài thời gian có thể giúp các đạo quân Carthage khác kịp hội quân để tiêu diệt La Mã như năm 211 TCN.[17][12] Do uy tín của La Mã tại Iberia đã suy giảm nghiêm trọng sau thất bại trước đó, Scipio bắt buộc phải tìm kiếm một chiến thắng nhanh chóng và vang dội để củng cố lòng tin của các bộ tộc đồng minh và ngăn chặn làn sóng phản bội.[18][19]

Mở đầu

Ảnh chụp một bức tượng bán thân bằng đá cẩm thạch của một người đàn ông, với phần mũi bị gãy.
Tượng bán thân bằng đá cẩm thạch Publius Cornelius Scipio thế kỷ thứ 2 TCN[20][21]

Ngay khi vừa đặt chân đến Iberia, Scipio đã quyết định chọn một chiến lược chủ động tấn công. Thay vì tiêu hao lực lượng để tìm kiếm một trận quyết chiến với các đại quân Carthage, Scipio chọn giáng một đòn chí mạng vào thẳng "trái tim" vật lực của đế chế này tại Iberia: thủ đô New Carthage (Tân Carthage).[22] Thành phố này, người La Mã gọi là Carthago Nova, được thành lập vào khoảng năm 227 TCN bởi Hasdrubal "Tốt lành",[note 3] Viên chỉ huy Mago tại đây chỉ có vỏn vẹn 1.000 quân chính quy để thủ thành, cộng thêm lực lượng huy động từ cư dân địa phương, mà sau đó thực tế bao gồm khoảng 2.000 dân quân có khả năng chiến đấu tương đối tốt cùng một số lượng không rõ lính không chính quy. Tương truyền, Scipio còn thu thập được thông tin chi tiết về mức độ có thể lội qua đầm lầy phía Bắc, đặc biệt là sự ảnh hưởng thủy triều và hướng gió lên mực nước nơi này.[note 4][29][30][22]

Một khi đã áp sát New Carthage, quân La Mã chỉ có vỏn vẹn từ một đến hai tuần để công phá thành phố trước khi các đại quân Carthage kịp tới cứu viện. Thế nhưng, việc công thành theo kiểu đánh chiếm trực tiếp đối với một pháo đài kiên cố là điều cực kỳ hiếm khi thành công trong lịch sử. Nếu những nơi như vậy bị thất thủ, thường là do có kẻ gian nội ứng từ bên trong (điều gần như không thể xảy ra với New Carthage) hoặc phải trải qua một cuộc bao vây trường kỳ. Nhưng các cuộc bao vây thường kéo dài hàng tháng, và chắc chắn ít nhất một đạo quân Carthage sẽ kịp đến giải viện trước khi New Carthage bị khuất phục bằng con đường vây hãm.[note 5][32][33]

Vào đầu năm 209 TCN, Scipio để lại 3.000 bộ binh và 300 kỵ binh ở lại trấn giữ khu vực Iberia do La Mã kiểm soát, rồi dẫn dắt toàn bộ lực lượng còn lại gồm 25.000 bộ binh và 2.500 kỵ binh tiến về phía Nam.[34] Cùng lúc đó, 35 chiến hạm dưới sự chỉ huy của Gaius Laelius, phó tướng của Scipio, cũng giương buồm ra khơi để hội quân với đại quân tại New Carthage.[35] Cuộc hành quân này được giữ bí mật tuyệt đối đến mức khi xuất phát, chỉ có Scipio và Laelius biết rõ đích đến; các sĩ quan chỉ huy khác chỉ được tiết lộ thông tin khi đã ở trên đường đi.[36]

Trận đánh

a map of the city of New Carthage, showing the terrain around it and the various Roman attacks
Thành New Carthage và các cuộc tấn công, nghi binh khác nhau của quân La Mã

Trận đánh đầu tiên

Đến New Carthage sau chuyến hành quân cấp tốc, Scipio cho lập trại trên đồi ở dải đất hẹp đối diện cổng chính, chỉ đào hào đắp lũy phòng thủ mặt sau để tập trung hoàn toàn cho mặt trận phía trước. Về phía Carthage, tướng Mago găm lại một phần quân chính quy làm dự bị tại cố thủ đài phía Tây, trải quân còn lại ở tường phía Nam, đặt 2.000 dân quân ở cổng Đông và rải toàn bộ lính tuyển mộ mang vũ khí tầm xa khắp chu vi thành. Sau lời hiệu triệu nảy lửa của Scipio, sáng hôm sau quân La Mã đồng loạt phát động công thành: hạm đội bắn phá, áp sát tường phía Nam từ hướng cảng, còn 2.000 quân lê dương tinh nhuệ mang theo thang áp sát cổng Đông và các đoạn tường lân cận.[37]

Theo tập tục chiến tranh Punic (tránh bị coi là yếu thế), 2.000 dân quân Carthage đã chủ động mở cổng Đông tràn ra nghênh chiến. Quân La Mã cố ý lùi lại, kéo cuộc giáp lá kề lưng về gần doanh trại của mình (cách cổng khoảng 400m). Dù địa hình eo đất hẹp ngăn cản quân La Mã phát huy lợi thế quân số hay đánh tạt sườn, bước ngoặt vẫn xuất hiện nhờ nguồn lực: La Mã liên tục thay quân mới từ lực lượng dự bị dồi dào trong trại, trong khi quân Carthage không có quân tiếp viện nên dần kiệt sức, bị đẩy lùi và cuối cùng vỡ trận tháo chạy.[38]

Quân La Mã thừa thắng truy kích, gây thương vong lớn cho quân Carthage đang chen chúc tháo chạy qua cổng Đông.[26][38] Tuy nhiên, âm mưu thừa cơ tràn qua cổng trước khi nó khép lại của La Mã đã thất bại. Ngay lập tức, họ chuyển hướng sang bắc thang leo lên các bức tường hai bên cổng Đông nhằm đánh chiếm khi địch chưa kịp hoàn hòn. Cùng thời điểm đó, lực lượng thủy quân lục chiến La Mã từ hạm đội biển cũng tiến hành cuộc leo thành tương tự nhắm vào bức tường phía Nam.

Lực lượng đồn trú Carthage đã ngoan cường chống trả đợt xung phong ban đầu. Cùng lúc đó, những tàn quân dân quân sống sót sau đợt xuất kích kịp thời rút lên tường thành tiếp viện, khiến hàng rào phòng thủ thêm vững chắc và gây tổn thất vô cùng nặng nề cho lực lượng lê dương lẫn thủy quân lục chiến La Mã. Nhận thấy đợt vượt tường không còn khả năng thành công và thương vong ngày một tăng cao, Scipio đã quyết định phát lệnh thu quân, khép lại đợt công thành đầu tiên.[39]

Trận đánh thứ hai

Khác với thông lệ nghỉ ngơi nhiều ngày sau khi công thành thất bại, Scipio khiến quân Carthage bất ngờ khi tái khởi động đợt tấn công ngay trong buổi chiều bằng quân số tươi mới và thêm thang leo. La Mã gia tăng áp lực ở cả 3 hướng: hạm đội nã pháo phía Nam, bộ binh nghi binh ở kênh phía Tây và đòn chủ lực dồn vào cổng Đông. Do đã cạn kiệt đạn dược từ buổi sáng, quân Carthage chống trả rất chật vật, buộc tướng Mago phải rút quân từ tường phía Bắc sang chi viện. Đúng như tính toán, Scipio lập tức tung 500 quân tinh nhuệ ém sẵn lội qua đầm lầy phía Bắc, nơi giờ đây đã hoàn toàn trống trải phòng thủ.[40][41]

Nguyên nhân giúp quân La Mã lội qua đầm lầy phía Bắc tạo ra nhiều tranh cãi giữa các sử gia cổ đại. Polybius cho rằng hiện tượng thủy triều rút vào buổi chiều giúp đầm lầy có thể lội qua được và Scipio đã nắm được quy luật này từ trước nhờ công tác tình báo. Ngược lại, Livy bác bỏ yếu tố thủy triều do chu kỳ thời gian không phù hợp, thay vào đó ông giải thích rằng chính luồng gió Bắc định kỳ mỗi chiều đã thổi dạt nước đầm lầy đi. Dẫu vậy, cả hai tài liệu đều để lại nghi vấn về việc tại sao quân Carthage lại bất cẩn không phòng bị trước hiện tượng này.

Giới nghiên cứu hiện đại đưa ra nhiều giả thuyết thực tế hơn: đầm lầy có thể là hồ nuôi cá hoặc ruộng muối được điều tiết mực nước qua hệ thống cống xả ở phía Tây, và đòn di chuyển của La Mã tại đây thực chất là để mở cống xả cạn nước đầm lầy. Ngược lại, nhà nghiên cứu J. H. Richardson bác bỏ cả Polybius lẫn Livy vì lý do địa chất/thủy văn (thủy triều ở New Carthage quá yếu và không gian không đủ tạo ra gió lớn để thổi cạn hàng triệu lít nước). Ông nhận định bản thân đầm lầy vốn đã đủ nông để lội qua mà không cần hiện tượng tự nhiên đặc biệt nào.

Mặc dù tuyến đường chính xác mà 500 lính La Mã băng qua đầm lầy vẫn còn gây tranh cãi (có thể đi theo dải đất ngầm, đi qua vùng đầm lầy nông hoặc bám sát bờ Nam), kết quả thực tế là họ đã thành công vượt qua đầm lầy một cách an toàn. Nhờ sự lơ là và mất cảnh giác hoàn toàn của quân Carthage do đang tập trung vào các mặt trận khác, toán đặc nhiệm La Mã đã áp sát và leo lên tường thành phía Bắc mà không hề bị phát hiện.

Tại cổng Đông, quân La Mã dùng đội hình mai rùa (testudo) áp sát phá cổng, trong khi hướng hải quân phía Nam vẫn tiếp tục giao tranh dữ dội. Trong lúc quân Carthage dồn toàn lực cố thủ hai hướng này, 500 lính La Mã đột nhập từ phía Bắc đã đánh thọc dọc theo tường thành, hạ gục các toán gác và mở toang cổng Đông từ bên trong. Việc cổng chính bị vỡ cùng lúc với sức ép dồn dập từ các hướng đã khiến toàn bộ hệ thống phòng thủ của Carthage sụp đổ, tạo điều kiện cho đại quân La Mã ồ ạt tràn vào chiếm lĩnh tường thành.

Bên trong New Carthage

Dù quân La Mã tràn vào ngày càng đông, nguy cơ bị bật bãi vẫn tồn tại do lực lượng phòng thủ có thể phản công từ các ngõ hẹp hoặc từ đồn lũy phía Tây, nơi Mago đang nắm giữ phần lớn 1.000 quân chính quy. Trước tình thế đó, Scipio lần đầu tiên trực tiếp dẫn đại quân tiến thẳng vào khu chợ trung tâm để làm chủ tình hình. Đồng thời, các toán quân La Mã khác được bật đèn xanh cướp phá thành phố một cách cuồng nhiệt: tàn sát mọi binh lính lẫn dân thường Carthage gặp trên đường và gom toàn bộ tài sản giá trị về tập kết tại khu chợ.

Scipio chia quân dập tắt các ổ kháng cự còn lại trên đồi, đồng thời tự mình dẫn 1.000 quân áp sát đồn lũy ép Mago đầu hàng. Nhận thấy cục diện đã an bài, Mago chính thức giao nộp đồn lũy cùng toàn bộ lực lượng. Ngay sau khi sự kháng cự chấm dứt, Scipio lập tức ra lệnh dừng cướp phá và cho quân đóng trại qua đêm tại khu chợ. Hôm sau, một phần chiến lợi phẩm được bán đấu giá cho các thương nhân đi theo quân đội; toàn bộ số tiền thu được cùng của cải tịch thu được chia đều cho tất cả binh lính lê dương dựa theo cấp bậc, kể cả những người không trực tiếp tham gia chiến đấu.

Sau chiến thắng, Scipio tiến hành ban thưởng cho những cá nhân có thành tích chiến đấu dũng cảm. Đáng chú ý nhất là cuộc tranh chấp danh giá quanh vương miện tường thành (corona muralis), danh hiệu dành cho người đầu tiên trèo lên mặt thành, giữa bách quân trưởng Quintus Trebellius (thuộc Quân đoàn IV) và lính thủy tên Sextus Digitius. Sau khi xác minh kỹ lưỡng và nhận thấy cả hai đều chạm tường thành cùng một lúc, Scipio đã đưa ra quyết định thấu đáo khi trao vương miện cho cả hai chiến sĩ.

Chiến lợi phẩm và tù binh

Bên cạnh của cải cá nhân bị cướp phá, La Mã đã thu giữ một lượng trang thiết bị chiến tranh "khổng lồ", bao gồm 63 tàu thương mại, nhiều máy bắn đá, lượng lớn vũ khí giáp trụ, cùng một trữ lượng lương thực dồi dào. Đặc biệt, việc đánh chiếm thành phố còn giúp La Mã làm chủ một xưởng đúc tiền đang hoạt động và kho bạc chất đầy tài sản với 600 talent bạc.

Khoảng 10.000 người Carthage sống sót bị bắt làm tù binh, trong đó có 15 hạ nghị sĩ và 2 ủy viên Hội đồng 30 người của Carthage. Bên cạnh đó, La Mã nắm giữ hơn 300 con tin là thân nhân các thủ lĩnh bộ tộc Iberia. Nhằm phục vụ mục đích ngoại giao, Scipio phô trương chính sách khoan hồng: ông chăm sóc tử tế các con tin và phóng thích họ về quê nhà để đổi lấy sự trung thành của các bộ tộc bản địa đối với La Mã.

Scipio phóng thích các công dân Carthage về lại nhà cũ, trong khi trưng dụng tầng lớp thợ thủ công nghèo làm nô lệ sản xuất vũ khí cho La Mã và tuyển nô lệ khỏe mạnh làm thủy thủ cho 18 chiến hạm tái chế (đều hứa trả tự do sau chiến tranh). Nguồn tài nguyên tịch thu được giúp quân La Mã tại Iberia hoàn toàn tự cung tự cấp về lương thực, vũ khí và quân số cho đến hết cuộc chiến. Sau khi sửa sang lại tường thành, Scipio để lại một đồn bốt cố thủ mạnh rồi rút đại quân về Tarraco.

Hậu quả và Tác động chiến lược

Việc làm chủ New Carthage giúp La Mã kiểm soát hầu hết bờ biển Địa Trung Hải ở Iberia, giải phóng hoàn toàn các căn cứ phía bắc khỏi mối đe doạ bị chia cắt hay tập kích hậu phương. Trái lại, đòn bất ngờ này đẩy quân Carthage vào thế phòng thủ bị động, bị cắt đứt liên lạc với chính quốc. Sự chia rẽ giữa các tướng Carthage khiến họ không thể hợp nhất lực lượng, dù tổng quân số của họ tại bán đảo vẫn hoàn toàn áp đảo quân La Mã.

Chiến thắng tại New Carthage mở đường cho chuỗi thắng lợi tiếp theo của Scipio: đánh bại Hasdrubal tại trận Baecula (208 TCN), khiến Hasdrubal phải tháo chạy sang Ý và bỏ mạng tại trận Metaurus (207 TCN), và tiếp đó là chiến thắng quyết định tại trận Ilipa (206 TCN) trước đại quân Carthage cùng voi chiến. Thất bại toàn diện này đã đặt chấm hết cho sự hiện diện của Carthage tại Iberia, buộc thành phố cố thủ cuối cùng là Gades phải quay sang quy phục La Mã.

Ghi chú, trích dẫn, tham khảo

Ghi chú

  1. ^ Publius Cornelius Scipio là con trai của Publius Scipio và cháu ruột của Gnaeus Scipio, hai vị tướng đồng chỉ huy quân La Mã tại Iberia đã tử trận trước đó (năm 211 TCN).[4]
  2. ^ Hasdrubal là em trai của Hannibal Barca, người đã dẫn dắt một đạo quân Carthage từ Iberia tiến đánh nước Ý thuộc La Mã vào năm 218 TCN.[9][10][11]
  3. ^ Hasdrubal là chú của Hannibal và Hasdrubal Barca qua hôn nhân.[23] nhà chính trị quân sự của Carthage tại Iberia thời bấy giờ. Nơi đây sở hữu một cảng nước sâu rộng lớn với cơ sở hạ tầng hoàn thiện, nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi cho việc giao thương và di chuyển đến Carthage. Ngay khu vực núi đồi lân cận còn có các mỏ bạc mang lại trữ lượng vô cùng dồi dào. Cảng thành nằm trên một vịnh biển hướng về phía Nam, với lối vào rộng vỏn vẹn chừng 600 mét; còn bản thân đô thị lại nằm ở bờ phía Bắc.[23] Một bán đảo đồi núi đã ngăn cách vịnh biển này với một đầm lầy thủy triều rộng nhưng nông ở phía Bắc. Thành phố được xây dựng trên và giữa năm ngọn đồi thuộc bán đảo đó. Con đường duy nhất kết nối nơi này với đất liền là một dải đất hẹp (eo đất) rộng khoảng 300 mét ở phía Đông, trong khi đầm lầy phía Bắc nối với vịnh chính qua một kênh nước hẹp ở phía Tây thành phố.[24] Địa điểm này nằm cách căn cứ chính của quân La Mã khoảng 450km về phía Nam.[25] Scipio đã cử thám tử đi do thám kỹ lưỡng về địa hình, hệ thống phòng thủ cũng như lực lượng đồn trú tại New Carthage. Scipio nắm được rằng thành phố được bảo vệ bởi những bức tường thành kiên cố và sừng sững dài tới 3.700 mét, mà phần lớn chiều dài đó đều tiếp giáp với các vùng nước rộng lớn.[23][26] Ở phía Đông, con đường tiếp cận chính vào thành phố, có một cổng thành được cố thủ vô cùng chắc chắn. Đối với người Carthage, New Carthage vừa là nơi đúc tiền, vừa là kho bạc trung tâm tại Iberia. Nơi đây đồng thời đóng vai trò là kho quân nhu chính, căn cứ hải quân cung cấp trang thiết bị chiến tranh, và là nơi giam giữ rất nhiều con tin thuộc các bộ tộc Iberia nhằm buộc họ phải trung thành.[27]
  4. ^ Nhà sử học hiện đại Dexter Hoyos mô tả quy mô nhỏ của đơn vị đồn trú này là "sự tự mãn chiến lược không chính đáng" của Hasdrubal Barca, người nắm quyền chỉ huy toàn bộ bán đảo Iberia người Carthage.[28]
  5. ^ Khi Hannibal bao vây Saguntum, cách Tân Carthage 350 km về phía bắc, vào năm 219 TCN, ông đã mất tám tháng để chiếm được nơi này.[31]

Trích dẫn

  1. ^ Miles 2011, tr. 220.
  2. ^ a b Zimmermann 2015, tr. 291.
  3. ^ a b Edwell 2015, tr. 322.
  4. ^ Miles 2011, tr. 268, 298–299.
  5. ^ Edwell 2015, tr. 323.
  6. ^ Carey 2007, tr. 78.
  7. ^ Lowe 2000, tr. 39–40.
  8. ^ Goldsworthy 2001, tr. 271.
  9. ^ Erdkamp 2015, tr. 71.
  10. ^ Hoyos 2015, tr. 107.
  11. ^ Goldsworthy 2001, tr. 169–170.
  12. ^ a b Lazenby 1998, tr. 134.
  13. ^ Goldsworthy 2006, tr. 271–272.
  14. ^ Bagnall 1999, tr. 207.
  15. ^ Goldsworthy 2006, tr. 56.
  16. ^ Sabin 1996, tr. 64.
  17. ^ Goldsworthy 2006, tr. 247, 272.
  18. ^ Goldsworthy 2004, tr. 57.
  19. ^ Goldsworthy 2006, tr. 247.
  20. ^ Coarelli 1981, tr. 73–74.
  21. ^ Etcheto 2012, tr. 274–278.
  22. ^ a b Zimmermann 2015, tr. 292.
  23. ^ a b c Bagnall 1999, tr. 147.
  24. ^ Bagnall 1999, tr. 207–208.
  25. ^ Lazenby 1998, tr. 139.
  26. ^ a b Lowe 2000, tr. 41.
  27. ^ Carey 2007, tr. 79.
  28. ^ Hoyos 2003, tr. 144.
  29. ^ Lazenby 1998, tr. 134–135.
  30. ^ Goldsworthy 2004, tr. 58, 60.
  31. ^ Goldsworthy 2001, tr. 163.
  32. ^ Goldsworthy 2004, tr. 58.
  33. ^ Lazenby 1998, tr. 87.
  34. ^ Lowe 2000, tr. 40.
  35. ^ Goldsworthy 2004, tr. 59.
  36. ^ Lazenby 1998, tr. 135.
  37. ^ Bagnall 1999, tr. 208.
  38. ^ a b Goldsworthy 2004, tr. 61–62.
  39. ^ Goldsworthy 2004, tr. 62–63.
  40. ^ Goldsworthy 2006, tr. 274.
  41. ^ Lazenby 1998, tr. 138.

Tham khảo

  • Bagnall, Nigel (1999). The Punic Wars: Rome, Carthage and the Struggle for the Mediterranean. London: Pimlico. ISBN 978-0-7126-6608-4.
  • Carey, Brian Todd (2007). Hannibal's Last Battle: Zama & the Fall of Carthage. Barnsley, South Yorkshire: Pen & Sword. ISBN 978-1-84415-635-1.
  • Champion, Craige B. (2015) [2011]. "Polybius and the Punic Wars". Trong Hoyos, Dexter (biên tập). A Companion to the Punic Wars. Chichester, West Sussex: John Wiley & Sons. tr. 95–110. ISBN 978-1-1190-2550-4.
  • Coarelli, Filippo (1981). "La doppia tradizione sulla morte di Romolo e gli auguracula dell'Arx e del Quirinale". Trong Pallottino, Massimo (biên tập). li Etruschi e Roma: atti dell'incontro di studio in onore di Massimo Pallottino (bằng tiếng Ý). Rome: G. Bretschneider. tr. 173–188. ISBN 978-88-85007-51-2.
  • Edwell, Peter (2015) [2011]. "War Abroad: Spain, Sicily, Macedon, Africa". Trong Hoyos, Dexter (biên tập). A Companion to the Punic Wars. Chichester, West Sussex: John Wiley & Sons. tr. 320–338. ISBN 978-1-119-02550-4.
  • Erdkamp, Paul (2015) [2011]. "Manpower and Food Supply in the First and Second Punic Wars". Trong Hoyos, Dexter (biên tập). A Companion to the Punic Wars. Chichester, West Sussex: John Wiley & Sons. tr. 58–76. ISBN 978-1-1190-2550-4.
  • Etcheto, Henri (2012). Les Scipions. Famille et pouvoir à Rome à l'époque républicaine (bằng tiếng Pháp). Bordeaux: Ausonius Éditions. ISBN 978-2-35613-073-0.
  • Goldsworthy, Adrian (2001). Cannae. London: Cassell. ISBN 978-0-304-35714-7.
  • Goldsworthy, Adrian (2004) [2003]. In the Name of Rome: The Men Who Won the Roman Empire. London: Phoenix. ISBN 978-0-7538-1789-6.
  • Goldsworthy, Adrian (2006) [2000]. The Fall of Carthage: The Punic Wars 265–146 BC. London: Phoenix. ISBN 978-0-304-36642-2.
  • Hoyos, Dexter (2003). Hannibal's Dynasty: Power and Politics in the Western Mediterranean, 247–183 BC. London: Routledge. ISBN 978-0-203-41782-9.
  • Hoyos, Dexter (2015). Mastering the West: Rome and Carthage at War. Oxford: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-986010-4.
  • Lazenby, John (1996). The First Punic War: A Military History. Stanford, California: Stanford University Press. ISBN 978-0-8047-2673-3.
  • Lazenby, John (1998) [1st pub. 1978]. Hannibal's War: A Military History of the Second Punic War. Warminster: Aris & Phillips. ISBN 978-0-85668-080-9.
  • Lowe, Benedict J. (2000). "Polybius 10.10.12 and the Existence of Salt-Flats at Carthago Nova". Phoenix. 54 (1/2 (Spring - Summer)). Classical Association of Canada: 39–52. doi:10.2307/1089089. JSTOR 1089089.
  • Miles, Richard (2011). Carthage Must be Destroyed. London: Penguin. ISBN 978-0-14-101809-6.
  • Richardson, J H (2018). "P Cornelius Scipio and the Capture of New Carthage: The Tide, the Wind, and Other Fantasies". Classical Quarterly. 68 (2): 458–474. doi:10.1017/S0009838818000368. ISSN 0009-8388. S2CID 171813844.
  • Sabin, Philip (1996). "The Mechanics of Battle in the Second Punic War". Bulletin of the Institute of Classical Studies. Supplement. 67 (67): 59–79. JSTOR 43767903.
  • Zimmermann, Klaus (2015) [2011]. "Roman Strategy and Aims in the Second Punic War". Trong Hoyos, Dexter (biên tập). A Companion to the Punic Wars. Chichester, West Sussex: John Wiley & Sons. tr. 280–298. ISBN 978-1-1190-2550-4.