Trống cái (trống đại, đại cổ) là nhạc cụ bộ gõ, chi gõ, không định âm, có kích thước lớn, xuất hiện ở khắp Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Dù ở đồng bằng hay miền núi người ta đều nhận ra sự có mặt của trống cái.

Trống lệnh dùng trong quân đội thời Tây Sơn

Nó không chỉ đơn thuần là một nhạc cụ mà đã trở thành một dụng cụ thông tin trong trường học, quân đội, lễ hội... từ xưa đến nay.

Cấu tạo

Theo định nghĩa "trống cái" là trống lớn (đại cổ). Người ta thường quy ước loại trống có đường kính mặt từ 50cm trở lên là trống cái. Những chiếc trống kích thước rất lớn, đường kính từ 150cm, tang trống từ 170cm còn được gọi là trống sấm.[1]

Trống cái của các dân tộc Việt Nam có những đặc điểm sau:

  • Hai mặt trống bịt da (thường là da trâu, bò), đường kính từ 50cm trở lên, được cố định bằng đinh. Cũng có một số loại trống cái căng dây xạ như trống cơm, điển hình là trống k'thu của dân tộc Cơ Tu[2][3] và trống của dân tộc Ba Na.
  • Tang trống bằng gỗ, hình trụ khum, thường ghép từ nhiều mảnh gỗ và cố định bởi các vòng đai xung quanh để giữ chặt phần thân trống.[4] Một số ít loại trống cái dùng tang liền khối, như trống bát nhã trong chùa và trống cái hơgơr.[5][6]. Các nghệ nhân làng trống Đọi Tam quan niệm: "da trâu tang mít" (tang bằng gỗ mít)[7]; trong khi người Gia Rai thường dùng gỗ sao nguyên khối chế tác trống cái.[5][6]
    Tập tin:Trống cái, Khu trưng bày nhạc cụ của Cố NSUT Đức Dậu.jpg
    Trống cái tại Khu trưng bày nhạc cụ của Cố NSUT Đức Dậu
     
    Trống hơgơr, một loại trống cái của dân tộc Ê Đê và Gia Rai. Da trống được bịt đến giữa phần thân.
  • Trống sấm
  • Tang trống sấm
  • Mặt trống sấm

Âm thanh

Âm thanh trống trầm và vang xa. Người ta có thể dùng một hoặc hai dùi gỗ để đánh trống (tùy theo tính chất của công việc). Cách đánh trống có nhiều cách: đánh giữa mặt trống, rìa mặt trống hay tang trống,... Mỗi cách đều tạo âm sắc riêng. Có thể đánh nhanh hoặc chậm tùy trường hợp.

Tập tin:Cocmualan.JPG
Tranh Đông Hồ vẽ cảnh múa lân, các nhân vật trong tranh sử dụng một số nhạc cụ Việt Nam như trống cái, kèn bầu, thanh la

Chức năng

Đời sống, văn hoá

Trống cái là phương tiện thông tin trong cộng đồng (báo động, điểm giờ...) cũng như cổ động. Thời xưa có tiếng trống báo canh, trống việc làng, trống thu thuế... là chi tiết dường như chỉ còn thấy trong văn học, lịch sử. Ngày nay, tiếng trống trường từ lâu đã trở nên quen thuộc với mỗi thế hệ học sinh Việt Nam, từ buổi khai giảng đầu năm cho đến các tiết học hằng ngày. Trong nhiều trận đấu thể thao và các buổi đấu vật truyền thống, tiếng trống cùng âm thanh cổ động hò reo của khán giả đã góp phần khơi dậy tinh thần thi đấu của các vận động viên.

Trống cái, trống sấm được dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng, là nhạc khí quan trọng trong không gian đình làng, đền, chùa Việt Nam. Nghi lễ gióng trống khai hội đã trở thành một nét văn hoá độc đáo xuyên suốt hầu hết các lễ hội dân gian của người Việt. Các dân tộc thiểu số cũng dùng trống cái trong các nghi lễ.

Vị trí trong dàn nhạc dân tộc Việt Nam

Trống cái là nhạc khí dân tộc phổ biến, xuất hiện hoà tấu trong nhiều loại hình nghệ thuật từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng đến miền núi. Trống cái có thể đứng ở một trong các vị trí sau:

  • Hoà tấu
  • Chỉ huy, dẫn nhịp
  • Khen chê
  • Đánh hồi cùng chiêng

Trống cái được treo bằng quai xách trên thân trống, hoặc đặt trên giá gỗ hay kim loại. Đối với diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên (Gia Rai, Ba Na), người ta còn quàng dây đeo trống trước bụng[8], hoặc treo trên giá và khiêng (như quang gánh), vừa đánh trống dẫn dắt dàn cồng chiêng vừa đi đầu theo vòng tròn xoang.[9]

Người Kinh

Trống cái là một trong những nhạc cụ chủ đạo trong Hát Xoan Phú Thọ, đóng vai trò giữ nhịp.

Vào thế kỷ 1516 trống cái đã xuất hiện trong các dàn nhạc như Đường thượng chi nhạcNhã nhạc. Đến thế kỷ 18 người ta nhận thấy sự có mặt của nó trong dàn nhạc lễ và trong các ban nhạc sân khấu.

Góp mặt trong nghệ thuật tuồng (hát bội), chiếc trống cái (gọi là trống chầu) mang vai trò đại diện cho khán giả, chấm câu và đánh giá diễn xuất của nghệ sĩ (tương tự trống chầu trong Ca trù có kích thước như trống đế).[1] Trống cái trong Chèo gióng lên cùng chiêng khi mở đầu buổi diễn, sau đó tấu cùng loạt nhạc cụ gõ trong đoạn Thi nhịp.

Các dân tộc khác ở Việt Nam

Người Mường dùng trống cái trong một số dàn nhạc hoà tấu và nghệ thuật múa Trống đu. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, dân tộc Thái và Thổ dùng trống cái cùng dàn cồng chiêng (xoè hoa, đâm đuống), nghệ thuật múa sư tử. Trống cái cũng là "nhạc trưởng" của dàn cồng chiêng nhiều dân tộc Tây Nguyên, dẫn nhịp điều khiển toàn bộ dàn chiêng.

Chú thích

  1. ^ a ă Túy-Phượng, Trần Lê (ngày 14 tháng 7 năm 2015). "Nhạc cụ cổ truyền VN – Trống". Đọt Chuối Non (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  2. ^ Nẵng, Báo Công an TP Đà. "Giá trị nhân văn trong kho tàng âm nhạc người Cơ tu". cadn.com.vn. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  3. ^ thanhnien.vn (ngày 12 tháng 2 năm 2024). "Tết của người dân Đồng bào miền núi Cơ Tu ở Nam Đông". thanhnien.vn. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  4. ^ "Làng nghề dưới chân núi Đọi". Báo Hà Nam điện tử (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
  5. ^ a ă "Độc đáo trống cổ của người Jrai". Báo Gia Lai điện tử. ngày 15 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
  6. ^ a ă "Trống – Báu vật của người Jrai ở Gia Lai". scov.gov.vn. ngày 25 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
  7. ^ "Nghìn năm làng trống dưới chân núi Đọi". Báo Giáo dục và Thời đại Online. ngày 13 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  8. ^ Acomm(http://www.acomm.com.vn), Copyright(c) 2014. "Người nặng lòng với văn hóa Jrai | Ban Dân vận Trung ương". danvan.vn. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  9. ^ "Bảo tồn trống da". Báo Gia Lai điện tử. ngày 19 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.