Triều đại Al Bu Said
Nhà Al Bu Said (tiếng Ả Rập: آل بوسعيد, phát âm tiếng Ả Rập: [aːl buː sa.ʕiːd]), là vương tộc cầm quyền hiện tại của Oman, và là hoàng tộc cầm quyền trước đây của Đế quốc Oman (1744–1856), Vương quốc Hồi giáo Muscat và Oman (1856–1970) và Vương quốc Hồi giáo Zanzibar (1856–1964).[1] Triều đại này được thành lập bởi Ahmad bin Said Al Busaidi vào ngày 20 tháng 11 năm 1744 và hiện do đương kiêm quốc vương Haitham bin Tariq Al Said đứng đầu.
| Al Bu Said آل بوسعيد Al Said | |
|---|---|
| Royal house | |
| Tập tin:Royal Standard of Oman.svg | |
| Quốc gia | Oman Zanzibar |
| Thời gian thành lập | 20 November 1744 |
| Người sáng lập | Ahmad bin Said |
| Người đứng đầu hiện tại | Haitham bin Tariq |
| Danh hiệu | Sultan of Oman (1970–present) Sultan of Zanzibar (1856–1964) Sultan of Muscat and Oman (1856–1970) Sultan of the Omani Empire (1791–1856) Imam of Oman (1749–1791) |
| Truyền thống | Ibadi Islam |
| Tài sản | Al Baraka Palace Al Maamoura Palace Al Shomoukh Palace |
| Nhánh gia đình | Royal Family of Zanzibar |
| Website | www www |
Lịch sử
Triều đại Busaid bắt nguồn từ các bộ tộc Azd thông qua tổ tiên theo dòng cha, al-'Atik (sinh ra ở al-Asad sinh ra ở Imran), người đã định cư tại Dibba (Dabá), do đó nhóm này còn được gọi là "Azd xứ Daba".[2] Giống như những người Qahtani khác, người Azd ban đầu đến từ Yemen và di cư về phía Bắc sau khi đập Marib bị phá hủy.
Với sự trỗi dậy của Hồi giáo, người Azd đã khẳng định mình là một lực lượng hàng đầu trong các cuộc chinh phạt của người Hồi giáo tiếp theo và sau đó là trong các vương quốc của Caliphate Umayyad thông qua vị tướng lừng danh Al-Muhallab ibn Abi Sufra (Abu Said), tổ tiên của bộ tộc Busaid. Hầu hết các phần đầu của biên niên sử phổ quát tiền Hồi giáo về người Ả Rập đều bắt đầu với Azd.
Lên nắm quyền
Ahmad bin Said al-Busaidi, một chiến lược gia quân sự sắc sảo, là thống đốc Sohar khi hạm đội Ba Tư tấn công thị trấn. Ông đã cầm cự được 9 tháng, cuối cùng buộc vị chỉ huy Ba Tư là hoàng đế Nader Shah phải chấp nhận thỏa thuận và rời khỏi Oman hoàn toàn chỉ trong vòng vài năm chiếm đóng. Ông được bầu làm imam vào ngày 20 tháng 11 năm 1744, đánh dấu lần cuối cùng Oman bị các thế lực nước ngoài chiếm đóng và mở đầu cho một nhà nước thống nhất mới. Đó cũng là khởi đầu của một triều đại kéo dài đến ngày nay, khiến Oman trở thành một trong những triều đại trị vì lâu đời nhất còn tồn tại ở Ả Rập và là triều đại đầu tiên giành được độc lập.
Con cháu của ông không mang danh hiệu tôn giáo Imam, mà là Sayyid, một danh hiệu danh dự mà các thành viên vương thất vẫn giữ cho đến ngày nay, do đó từ bỏ mọi hình thức uy quyền tinh thần, đồng thời bồi dưỡng các học giả Hồi giáo và thúc đẩy học thuật Hồi giáo.
Thương mại phát triển mạnh mẽ trong suốt 39 năm trị vì của Ahmed và hải quân Oman đã phát triển thành một lực lượng hùng mạnh ở Ấn Độ Dương, chỉ đứng sau Đế quốc Anh trong khu vực, có khả năng thanh trừng lực lượng Ba Tư khỏi toàn bộ khu vực và bảo vệ tàu thuyền Ottoman ở Vịnh Oman, Ấn Độ Dương và Bờ biển Cướp biển thuộc Các Quốc gia Đình chiến.
Khi ông qua đời vào năm 1778, các ulema đã bầu chọn con trai của Ahmed là Said bin Ahmad Al Busaidi lên ngôi, một người rất sùng đạo nhưng lại ngại tham gia các công việc hành chính. Vì các nguyên lý của chủ nghĩa Ibadi cho phép phân chia nhiệm vụ giữa các nhà lãnh đạo theo các đường lối tôn giáo, hành chính và quân sự, ông đã chuyển đến Rustaq cho đến khi qua đời vào năm 1811.
Con trai ông, Hamad bin Said, đã dời đô từ thành phố nội địa Rustaq đến vùng ven biển Muscat vào năm 1783 và xưng quốc vương, ngụ ý quyền lực hoàn toàn cha truyền con nối. Ông là một nhà lãnh đạo tài ba trong 8 năm và đã thúc đẩy chính sách cải cách trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nhưng đột ngột qua đời vào năm 1792 vì bệnh đậu mùa.
Liên minh với Đế quốc Anh
Sultan bin Ahmed nắm quyền điều hành chính phủ sau cái chết của cháu trai và củng cố hạm đội vốn đã hùng mạnh bằng cách bổ sung thêm nhiều tàu chiến và tàu chở hàng hiện đại. Ông cũng cần một đồng minh mạnh mẽ để giúp giành lại quyền kiểm soát Mombasa từ gia tộc Mazrui, ngăn chặn phong trào lan rộng từ nơi ngày nay là Ả Rập Xê Út và ngăn chặn các bộ lạc Al Qasimi từ thành phố Bandar Lingeh của Ba Tư xâm nhập vào Oman. Ông đã tìm thấy đồng minh đắc lực này ở Anh, lúc này đã là một quốc gia hàng hải hùng mạnh với một đế chế đang bành trướng trên toàn thế giới. Vào cuối thế kỷ XVIII, Đế quốc Anh đang có chiến tranh với Pháp và biết rằng tướng Pháp là Napoleon Bonaparte, đang lên kế hoạch hành quân qua Ba Tư và chiếm Muscat trên đường xâm lược Ấn Độ. Năm 1798, Anh và Oman đã ký kết Hiệp ước Thương mại và Hàng hải.
Sultan bin Ahmed cam kết bảo vệ lợi ích của Anh tại Ấn Độ, và các lãnh thổ của ông trở thành lãnh thổ ngoài biên giới của Pháp. Ông cho phép Công ty Đông Ấn Anh thành lập trạm giao dịch đầu tiên ở Vịnh Ba Tư, và một lãnh sự Anh được cử đến Muscat. Bên cạnh việc đánh bại Bonaparte, người Anh còn có một động cơ khác khi ký kết hiệp ước với Oman: họ muốn gây áp lực buộc Quốc vương chấm dứt chế độ nô lệ, vốn đã bị Anh tuyên bố là bất hợp pháp vào năm 1772. Vào thời điểm này, hoạt động thương mại từ Châu Phi đến Oman vẫn đang phát triển mạnh mẽ, và vị thế của Zanzibar như một trung tâm thương mại quan trọng càng được củng cố khi nguồn cung ngà voi từ Mozambique đến Ấn Độ bị sụt giảm do thuế xuất khẩu quá cao của Bồ Đào Nha. Thay vào đó, các thương nhân chỉ vận chuyển ngà voi của họ qua Zanzibar. Các tàu chiến Oman liên tục giao tranh trên khắp vịnh, khiến Quốc vương luôn bận tâm. Trong một lần xuất kích trên một con tàu ở Vịnh Ba Tư vào năm 1804, Quốc vương Sayyid đã bị một viên đạn lạc bắn vào đầu. Ông được chôn cất tại Lingeh.
Tham khảo
- ^ Hoffman, Valerie (ngày 11 tháng 1 năm 2016). "Muscat and Zanzibar, Sultanate of". The Encyclopedia of Empire. John Wiley & Sons, Ltd. ISBN 978-1-11844-064-3.
- ^ "The Countries and Tribes of the Persian Gulf" (bằng tiếng Anh). 1920. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2018.
Tài liệu tham khảo mở rộng
- Wilkinson, Origins. op. cit. pg. 73.
- Public Records Office. London: Foreign Office Archives. (Cited as F.O.) F.O. 93/33/82.
- Randall L. Pouwels. Horn and Crescent: Cultural Change and Traditional Islam on the East African.
- Peter J. Ochs. Maverick guide to Oman. pg. 110 – 114.
- Gabriel Said Reynolds. The Qurʼān in its historical context/Arab Client Tribes. pg. 57–58.
- John Townsend. Oman: the making of a modern state. pg. 43–45.
- Chris McIntyre, Susan McIntyre. Zanzibar. pg. 14–15
- R. Khanam. Encyclopaedic ethnography of Middle-East and Central Asia: A-I, Volume 1 pg. 68
- Ibn Khallikan. Ibn Khallikan's Biographical dictionary.
- Universiṭah ha-ʻIvrit bi-Yerushalayim. Makhon le-limude Asyah ṿe-Afriḳah, Ḳeren Maḳs Shlesinger. Jerusalem studies in Arabic and Islam, Volume 28. pg. 234.
- Colonel S. B, Miles. The Countries and Tribes of the Persian Gulf.