Tuyến nội tiết
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| Tuyến nội tiết | |
|---|---|
| Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found. Csc tuyến nội tiết:
1 Tuyến tùng 2 Tuyến yên 3 Tuyến giáp trạng 4 Tuyến ức 5 Tuyến thượng thận 6 Tụy 7 Buồng trứng (phái nữ) 8 Tuyến tiền liệt (phái nam) | |
| Chi tiết | |
| Định danh | |
| Latinh | glandulae endocrinae |
| TA | Lỗi Lua trong Mô_đun:Wikidata tại dòng 746: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). |
| TH | TH {{{2}}}.html H{{#property:P1694}} .{{{2}}}.{{{3}}} |
| TE | Bản mẫu:TerminologiaEmbryologica |
| FMA | {{#property:P1402}} |
| Thuật ngữ giải phẫu [[[d:Lỗi Lua trong Mô_đun:Wikidata tại dòng 865: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).|Chỉnh sửa cơ sở dữ liệu Wikidata]]] | |
Tuyến nội tiết là tuyến đổ vào máu một chất hóa học gọi là nội tiết tố, chất này được máu đưa đến các mô, cơ quan và có tác dụng lên các mô, các cơ đó. Tuyến không có ống tiết (ống dẫn), các tế bào tuyến đổ nội tiết tố trực tiếp vào máu, với lý do đó, nên tuyến có khá nhiều mạch máu.[1] Vì các tuyến hormone cũng thải hormone ra máu nên cũng là tuyến nội tiết, gọi chung toàn thể là hệ nội tiết.
Chức năng
Giúp điều hòa cơ thể
- Buồng trứng (phái nữ)
- Tuyến tiền liệt (phái nam)
- Vùng dưới đồi
- Rau thai
Điều hòa hoạt động tuyến nội tiết
1. Điều hòa ngược âm tính (negative feedback)
Điều hòa ngược âm tính là cơ chế chủ yếu và tinh vi nhất để giữ nồng độ hormon và hoạt động tuyến nội tiết trong khoảng hằng định sinh lý. Khi hormon tuyến đích giảm (ví dụ T3, T4 giảm), vùng dưới đồi và tuyến yên được “giải phóng phanh”, tăng tiết hormon giải phóng và hormon kích thích (TRH, TSH), làm tuyến giáp tăng tổng hợp – bài tiết hormon để đưa nồng độ trở về bình thường.
Ngược lại, khi hormon tuyến đích tăng cao (T3, T4 tăng), chúng ức chế ngược lên tuyến yên và dưới đồi, giảm tiết TRH, TSH, từ đó giảm hoạt động tuyến giáp, tránh tình trạng cường hormon. Cơ chế này tạo thành các “trục nội tiết” (dưới đồi – yên – giáp, – thượng thận, – sinh dục…) giúp cơ thể tự cân bằng trước thay đổi của môi trường và trạng thái sinh lý.
2. Điều hòa ngược dương tính (positive feedback)
Điều hòa ngược dương tính ít gặp hơn và thường chỉ xuất hiện thoáng qua trong một số hiện tượng mang tính “bùng nổ” sinh lý. Ở cơ chế này, hormon tuyến đích tăng lại càng kích thích tuyến chỉ huy tăng bài tiết hormon kích thích, tạo thành vòng khuếch đại thay vì vòng tự ổn định như feedback âm.
Một ví dụ kinh điển là “LH surge” trước rụng trứng: estrogen tăng cao, thay vì ức chế lại kích thích vùng dưới đồi và tuyến yên, làm LH tăng vọt, thúc đẩy phóng noãn; sau sự kiện này, trục nhanh chóng quay trở lại điều hòa ngược âm tính. Nếu vòng dương tính kéo dài, nó sẽ trở thành bệnh lý (ví dụ một số khối u tiết hormon không được kiểm soát), nên về bản chất sinh lý, cơ chế này luôn mang tính tạm thời, phục vụ một mục tiêu cụ thể (phóng noãn, đáp ứng stress cấp…) rồi trở lại nền ổn định.[2]
3. Điều hòa theo nhịp sinh học (circadian/ultradian)
Hoạt động nhiều tuyến nội tiết chịu ảnh hưởng của đồng hồ sinh học trung ương tại nhân trên giao thoa (SCN) vùng dưới đồi, tạo ra các nhịp tiết hormon theo ngày và theo chu kỳ ngắn.[3] Cortisol là ví dụ điển hình: nồng độ cao nhất vào sáng sớm, giảm dần trong ngày và thấp nhất về đêm, phù hợp với nhu cầu thức – ngủ, huy động năng lượng và đáp ứng stress nhẹ; hormon GH tiết thành các “xung” mạnh vào ban đêm giai đoạn ngủ sâu, hỗ trợ tăng trưởng và sửa chữa mô.
Những nhịp này giúp cơ thể chủ động phân bố tác dụng hormon theo thời điểm thích hợp, tối ưu hóa chuyển hóa, miễn dịch và hoạt động thần kinh. Rối loạn nhịp (thức đêm kéo dài, làm việc ca kíp, stress mạn) có thể phá vỡ mẫu tiết sinh lý, góp phần vào hội chứng chuyển hóa, rối loạn tâm thần – nội tiết.
4. Điều hòa bởi hệ thần kinh và chất dẫn truyền
Hệ thần kinh trung ương, đặc biệt vùng dưới đồi, là “tuyến chỉ huy trên cùng” của nhiều tuyến nội tiết thông qua các neuron tiết hormon và chất dẫn truyền. Các hormon giải phóng (CRH, TRH, GnRH, GHRH) thực chất là các peptide thần kinh do vùng dưới đồi tiết vào hệ cửa dưới đồi – yên, điều khiển tuyến yên trước; đồng thời các chất dẫn truyền như noradrenalin, dopamin, serotonin, GABA… điều biến cường độ và nhịp hoạt động của các neuron này.
Dopamin là yếu tố ức chế chính tiết prolactin, stress thần kinh kích thích trục CRH–ACTH–cortisol, phản ứng giao cảm kích thích tủy thượng thận tiết catecholamin. Nhờ “giao diện” thần kinh – nội tiết này, các kích thích cảm xúc, đau, lạnh, đói, sợ hãi… đều có thể nhanh chóng chuyển thành thay đổi hormon, giúp cơ thể thích nghi tức thời với hoàn cảnh.
5. Điều hòa bằng nồng độ chất chuyển hóa và chất điện giải
Nhiều tuyến nội tiết không phụ thuộc tuyến yên mà đáp ứng trực tiếp với nồng độ các chất trong máu (glucose, Ca2+, K+, Na+, áp lực thẩm thấu…). Tụy nội tiết là ví dụ điển hình: tế bào β nhạy với tăng glucose máu, tự động tăng tiết insulin giúp đưa đường vào tế bào và dự trữ, trong khi tế bào α tăng tiết glucagon khi đường máu giảm, huy động glycogen và tân tạo glucose. Tuyến cận giáp điều chỉnh lượng PTH chủ yếu theo nồng độ Ca2+ máu: hạ calci kích thích tiết PTH để huy động Ca2+ từ xương, tăng tái hấp thu ở thận và tăng hoạt hóa vitamin D. Tế bào cạnh cầu thận tiết renin khi huyết áp, Na+ hoặc thể tích dịch ngoại bào giảm, khởi phát hệ renin–angiotensin–aldosteron để giữ muối nước và tăng huyết áp. Kiểu “cảm biến – đáp ứng” trực tiếp này giúp cơ thể chỉnh rất tinh các tham số nội môi mà không cần qua nhiều tầng hormon trung gian.
6. Điều hòa bởi hormon khác và trạng thái sinh lý
Hoạt động của một hormon thường bị điều chỉnh bởi sự hiện diện, thiếu hụt hoặc dư thừa của hormon khác cũng như trạng thái sinh lý chung của cơ thể (mang thai, tuổi dậy thì, mãn kinh, bệnh mạn…). Estrogen và progesteron là ví dụ điển hình: estrogen làm tăng thụ thể progesteron ở tử cung, từ đó tăng độ nhạy với progesteron trong pha hoàng thể; hormon tuyến giáp ở mức cận cao có thể làm tăng đáp ứng với catecholamin (tăng số lượng thụ thể β), khiến triệu chứng cường giáp mang màu sắc giao cảm.
Trong thai kỳ, nhau thai trở thành một “tuyến nội tiết lớn” với hCG, hPL, estrogen, progesteron… vừa tự điều hòa vừa tác động lên trục mẹ, làm thay đổi set-point của nhiều hệ (chuyển hóa, tim mạch, thận…).
Ở mức hệ thống, các trục nội tiết không hoạt động độc lập mà tạo thành mạng lưới, trong đó một thay đổi ở trục này (ví dụ suy giáp, hội chứng Cushing, suy yên) có thể làm lệch hoạt động các trục khác thông qua nhiều lớp điều hòa chéo.
Xem thêm
Chú thích
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Giải phẫu các tuyến nội tiết Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Ngày chuẩn' not found. dieutri
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Navbar/configuration' not found.