Cú lợn bồ hóng lớn
Cú lợn bồ hóng lớn (danh pháp hai phần: Tyto tenebricosa) là một loài cú có kích thước trung bình đến lớn, được tìm thấy ở khu vực đông nam Úc, rừng mưa núi cao của New Guinea và đã được quan sát thấy trên Đảo Flinders ở Eo biển Bass. Cú lợn bồ hóng nhỏ (T. multipunctata), đôi khi được coi là cùng loài với loài này, trong trường hợp đó, chúng được gọi chung là cú lợn bồ hóng.[3] Loài này nhỏ hơn đáng kể và sinh sống ở vùng nhiệt đới ẩm ướt của Bắc Queensland, Úc.
| Cú lợn bồ hóng lớn | |
|---|---|
| Tình trạng bảo tồn | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Aves |
| Bộ (ordo) | Strigiformes |
| Họ (familia) | Tytonidae |
| Chi (genus) | Tyto |
| Loài (species) | T. tenebricosa |
| Danh pháp hai phần | |
| Tyto tenebricosa Gould, 1845 | |
Phân bố cú bồ hóng lớn | |
| Phân loài | |
| |
Mô tả
Loài cú này có đầu lốm đốm trắng mịn và các đốm trắng rải rác trên cánh. Con cái có màu nhạt hơn con trống. Chúng có vẻ là loài nặng nhất trong số các loài còn sống thuộc họ cú lợn, tuy nhiên phân loài cú mặt nạ Úc ở Tasmania còn lớn hơn nữa.[4] Con cái dài từ 41 đến 50 cm (16 đến 20 in)[5] và nặng 750 đến 1.200 g (1,65 đến 2,65 lb). Con đực nhỏ hơn có chiều dài từ 37 đến 43 cm (15 đến 17 in) và nặng 500 đến 700 g (1,1 đến 1,5 lb).[4][6] Chiều dài sải cánh từ 30–40 cm. Đôi mắt to, sẫm màu nằm trong một đĩa mặt tròn lớn. Đĩa mặt có màu xám bạc sẫm hoặc đen muội (thay đổi theo tuổi) và có viền đen dày. Phần trên cơ thể có màu đen đến xám đậm, phần dưới nhạt hơn. Đuôi ngắn và chân có lông. Bàn chân và móng vuốt lớn. Tiếng kêu của chúng là một tiếng thét chói tai có thể kéo dài đến hai giây.[7]
Môi trường sống
Chúng là loài hoạt động về đêm và trú ngụ trong các hốc cây lớn, hang động và trong tán lá rậm rạp vào ban ngày. Hiếm khi được nhìn thấy hoặc nghe thấy, chúng có thể được tìm thấy ở những khu vực có khe núi sâu trong rừng ẩm ướt, nơi có cây bạch đàn vỏ nhẵn, dương xỉ thân gỗ và thảm thực vật dưới tán rừng ẩm ướt. Chúng có thể săn mồi ở những khu vực khô hơn nhưng thường trú ngụ và sinh sản ở những khu vực ẩm ướt hơn.[7]
Chế độ ăn
Động vật có vú, từ các loài thú có túi lớn sống trên cây như sóc bay lớn, đến các loài pseudocheiridae và petaurus breviceps, cũng như bandicoot, động vật gặm nhấm và chuột túi antechinus, là những thức ăn phổ biến nhất trong khẩu phần ăn của cú bồ hóng lớn. Chúng cũng thỉnh thoảng ăn chim, dơi và côn trùng. Thói quen ăn uống của chúng đã thay đổi kể từ khi con người xâm chiếm thuộc địa, có thể do sự suy giảm các loài động vật trên cạn, và chúng ăn nhiều động vật sống trên cây hơn.[8]
Tập tính
Loài này có tính lãnh thổ và được cho là sống ở cùng một khu vực trong suốt cuộc đời trưởng thành. Chúng có nhiều tiếng kêu đặc trưng, bao gồm tiếng rít và tiếng thét điển hình của cú lợn, tiếng kêu "bom rơi" đặc trưng và tiếng líu lo như côn trùng khi tiếp xúc gần với những con cú đen lớn khác.[7]
Sinh sản
Tổ được làm trong một cây rỗng lớn hoặc trong hang động. Cú cái ngủ trong tổ vài tuần trước khi đẻ một hoặc hai quả trứng màu trắng nhạt. Thông thường, việc làm tổ bắt đầu từ tháng Giêng đến tháng Sáu, nhưng có thể diễn ra vào hầu hết mọi thời điểm trong năm tùy thuộc vào vị trí và điều kiện khí hậu. Thời gian ấp trứng là 42 ngày. Cú đực mang thức ăn cho cú cái, và cú cái hiếm khi rời tổ. Cú con mới sinh có lông tơ màu xám nhạt và có thể bay sau ba tháng. Cú con vẫn phụ thuộc vào bố mẹ trong một thời gian dài sau khi rời tổ. Tuổi thọ của chúng chưa được biết rõ. Chúng có tính lãnh thổ và sống định cư quanh năm.[7]
Tình trạng bảo tồn
Quốc tế
Tình trạng của chúng không bị đe dọa trên toàn cầu.[1]
Úc
Cú đen lớn không được liệt kê là loài bị đe dọa theo Đạo luật Bảo vệ Môi trường và Bảo tồn Đa dạng Sinh học năm 1999 của Úc. Tuy nhiên, tình trạng bảo tồn của chúng khác nhau giữa các tiểu bang ở Úc. Ví dụ:
- Cú đen lớn được liệt kê là bị đe dọa theo Đạo luật Đảm bảo Hệ thực vật và Động vật (1988) của Victoria.[9] Theo Đạo luật này, một "Bản tuyên bố hành động" về việc phục hồi và quản lý loài này trong tương lai đã được chuẩn bị.[10]
- Trong danh sách tư vấn năm 2007 về các loài động vật có xương sống bị đe dọa ở Victoria, cú mèo đen được liệt kê là dễ bị tổn thương.[11]
- Theo Đạo luật Bảo tồn các loài bị đe dọa của New South Wales (1995), loài này được xếp vào nhóm loài dễ bị tổn thương.
Tham khảo
- ^ a ă Bản mẫu:Chú thích IUCN
- ^ "Appendices | CITES". cites.org. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022.
- ^ Christidis, L. and Boles, W.E. (2008) 'Systematics and Taxonomy of Australian Birds.' (CSIRO Publishing: Collingwood)
- ^ a ă Dunning, John B. Jr., biên tập (2008). CRC Handbook of Avian Body Masses (ấn bản thứ 2). CRC Press. ISBN 978-1-4200-6444-5.
- ^ Duncan, J. R. (2003). Owls of the world: their lives, behavior and survival. Firefly Books.
- ^ Dhillon, J., M.D. Bruce, J. S. Marks, and G. M. Kirwan (2022). Sooty Owl (Tyto tenebricosa), version 2.0. In Birds of the World (S. M. Billerman, Editor). Cornell Lab of Ornithology, Ithaca, NY, USA.
- ^ a ă â b Dhillon, Jimmy; Bruce, Murray D.; Marks, Jeffrey S.; Kirwan, Guy M. (2022). "Sooty Owl (Tyto tenebricosa), version 2.0". Birds of the World (bằng tiếng Anh). doi:10.2173/bow.sooowl1.02. ISSN 2771-3105.
- ^ Bilney, Rohan; Cooke, Raylene; White, John (2006). "Change in the diet of sooty owls (Tyto tenebricosa) since European settlement: from terrestrial to arboreal prey and increased overlap with powerful owls". Wildlife Research. 33 (1): 17–24. doi:10.1071/WR04128. hdl:10536/DRO/DU:30003762.
- ^ Department of Sustainability and Environment, Victoria Lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2005 tại Wayback Machine
- ^ "Wayback Machine" (PDF). www.environment.vic.gov.au. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2026.
- ^ Victorian Department of Sustainability and Environment (2007). Advisory List of Threatened Vertebrate Fauna in Victoria - 2007. East Melbourne, Victoria: Department of Sustainability and Environment. tr. 15. ISBN 978-1-74208-039-0.