Võ Thừa Tự
Võ Thừa Tự (chữ Hán: 武承嗣; 649 - 19 tháng 9, 698), tự Phụng Tiên (奉先), người Văn Thủy, Tịnh Châu (nay là Văn Thủy, Sơn Tây), ngoại thích đại thần nhà Đường, cháu trai Võ Tắc Thiên (武则天).
| Võ Thừa Tự | |
|---|---|
Năm 684, thụ Lễ bộ Thượng thư cùng Trung Thư môn hạ Tam phẩm. Năm 685, thêm thêm Đồng bình chương sự, trở thành Tể tướng, hơn tháng thì bãi miễn. Năm 689, thụ Nạp ngôn. Năm 690, tiến Văn Xương Tả tướng.
Thời kỳ Võ Chu, Võ Thừa Tự trắng trợn tru diệt hoàng thất nhà Đường cùng trung thần, thành lập Võ thị thất miếu, thỉnh cầu Võ Tắc Thiên lập thành Thái tử, gặp phải đám người Địch Nhân Kiệt phản đối quyết liệt nên chuyện không thành.
Năm 698, vì chuyện Lý Hiển được lập làm Thái tử, u buồn mà chết. Tặng Thái úy, Tịnh Châu mục, thụy hiệu Tuyên (宣).
Thân thế
Võ Thừa Tự là con trai của Võ Nguyên Sảng (武元爽). Võ Tắc Thiên lấy thân phận Thiên hậu lâm triều xưng chế, vì củng cố quyền thế của bản thân, bắt đầu trọng dụng Võ thị thân tộc, Hạ Lan Mẫn Chi (贺兰敏之) chết rồi, Võ Thừa Tự từ Lĩnh Nam được triệu hồi kinh, nhận chức Thượng thư phụng ngự, không lâu thì được đề bạt làm Bí thư giám, kế thừa tước vị Chu Quốc công của ông nội là Võ Sĩ Hoạch (武士彟).
Năm 685, đảm nhiệm Lễ bộ Thượng thư, không lâu thì thụ chức Thái thường khanh cùng Trung Thư môn hạ Tam phẩm. Võ Thừa Tự dựa vào bám váy mà leo lên chức Tể tướng, Võ Thừa Tự thân cư yếu chức hơn mười năm.
Bia mộ của ông, do nhà thư pháp Thôi Dung (崔融) viết là bia mộ Thân vương thời Đường lớn nhất trong lịch sử được tìm thấy cho đến nay, hiện tại được lưu giữ tại Bảo tàng Nông nghiệp Trung Quốc.
Thông tin cá nhân
Tổ tiên
- Tằng tổ phụ: Võ Hoa (武華), thời Tùy từng nhậm Thái thú Lạc Dương. Năm 684, cải phong Thái Nguyên quận vương (太原郡王), sau lại tôn vị Chu An Thành vương (周安成王). Võ Tắc Thiên xưng Đế, truy phong Hiến Tổ Lập Cực Văn Mục Hoàng đế (显祖立極文穆皇帝).
- Tằng tổ mẫu : Triệu thị (趙氏), sau phong Thái Nguyện quận vương phi (太原郡王妃) rồi Thành vương phi (成王妃). Võ Tắc Thiên xưng Đế, truy phong Văn Mục Hoàng hậu (文穆皇后).
- Tổ phụ: Võ Sĩ Ước, nhậm Kim tử quang lộc đại phu, Công bộ thượng thư, tước Ứng quốc công (應國公). Về sau lần lượt truy phong Thái Nguyên Quận vương (太原郡王), Ngụy Trung Hiếu vương (魏忠孝王) rồi Hiếu Minh Cao hoàng đế (孝明高皇帝).
- Tổ mẫu: Tương Lý phu nhân (相里夫人), nguyên phối của Võ Sĩ Ước.
- Thân phụ: Võ Nguyên Sảng, tước Ngụy Đức vương (魏德王).
- Thân mẫu: không rõ họ, được phong Phu nhân.
Hậu duệ
- Võ Diên Cơ (武延基, 679 - 701), phong Ngụy vương (魏王), sau do đắc tội anh em họ Trương nên bị xử tử. Vợ là Vĩnh Thái công chúa Lý Tiên Huệ, con gái Đường Trung Tông.
- Võ Diên Nghĩa (武延義), kế thừa tước vị Ngụy vương sau khi anh trai bị giết, sau sự biến Thần Long giáng làm Ngụy quốc công (魏国公).
- Võ Diên An (武延安), nhậm Quang lộc tự khanh, tước Hình công (邢公).
- Võ Diên Thọ (武延壽), nhậm Vệ úy khanh, tước Yến công (燕公).
- Trưởng nữ, tước Thái Nguyên Quận phu nhân (太原郡夫人), lấy Yến vương Mộ Dung Hi Quang (慕容曦光).
- Nhị nữ, tước Bình Dương Quận phu nhân (平阳郡夫人), lấy Tả lĩnh quân Vệ tướng quân Mộ Dung Uy (慕容威).
- Võ Diên Quang (武延光), tảo thương.
- Võ Diên Tú (武延秀, 685 - 710), tước Hằng công (恆公), bị giết trong sự biến Thần Long, tặng Hoài Dương vương (淮陽王). Vợ là An Lạc công chúa, con gái Đường Trung Tông.
- Trưởng nữ, gả cho Trịnh Khắc Nghệ (郑克乂), con trai Thiên Kim công chúa.