Viên Áng (袁盎, bính âm: Yuán Àng), tự Ty (絲), là người nước Sở. Đại thần sống thời Hiếu Văn Hoàng ĐếHiếu Cảnh Hoàng Đế.

Tranh vẽ "Viên Áng can gián Hán Văn Đế về chỗ ngồi của Thận phu nhân tại Thượng Lâm uyển" thời Tống biểu thị Hán Văn Đế cùng Đậu Hoàng Hậu đang ngồi chăm chú nghe Viên Áng (đang bái lạy) khuyên ngăn về thứ tự ngồi của Thận phu nhân (ngồi ở phía sau, khuôn mặt không vui vẻ) tại vườn Thượng Lâm

Tiểu sử

Cha ông vốn là giặc cướp, sau dời đến An Lăng[1]. Ông từng làm Xá nhân dưới trướng Lã Lộc dưới trướng Lã hậu[2][3].

Với Thừa tướng Chu Bột

Thời Hán Văn Đế, anh trai là Viên Khoái đã tiến cử ông làm Lang trung

Giáng hầu Chu Bột làm Thừa tướng, mỗi khi bãi triều bước ra đều có vẻ mặt vô cùng đắc ý. Nhà vua đối xử với ông rất cung kính, thường dõi mắt tiễn Giáng hầu ra về.

Ông tiến lên tâu:

Bệ hạ thấy Thừa tướng như thế nào?

Hoàng Đế đáp:

Là xã tắc thần

Ông thưa:

"Giáng hầu chỉ có thể gọi là công thần, không phải là xã tắc thần. Xã tắc thần là khi Đế còn thì mình còn, khi Đế mất thì mình mất. Thuở Lã hậu sống, gia tộc Lã thị nắm quyền, tự ý phong vương cho nhau, Hoàng gia Lưu thị ngàn cân treo sợi tóc. Giáng hầu giữ chức Thái úy, nắm quyền binh lính trong tay, nhưng lại không ra can gián. Khi Lữ hậu băng hà, các đại thần cùng bàn lật đổ Lã thị, Thái úy nắm quyền, chẳng qua gặp đúng thời cơ mà thành công thôi. Cho nên gọi công thần thì được, không nên gọi là xã tắc thần. Nay Thừa tướng đối với bệ hạ lộ rõ vẻ kiêu ngạo. Bệ hạ cứ khiêm nhường khiến cho lễ nghĩa giữa vua và bề tôi bị đảo lộn, thần nghĩ bệ hạ không nên hành xử như vậy."

Về sau, mỗi khi ra triều, Hoàng Đế tỏ ra uy nghiêm, trang trọng, còn Giáng hầu có vẻ sợ sệt. Ít lâu sau, Giáng hầu đem lòng oán hận ông, trách rằng:

"Ta vốn có quan hệ tốt với anh nhà ngươi, thế mà nay ngươi lại dám ở ngay triều đình bôi nhọ ta"

Ông tạ thứ. Song, tuyệt thực không nhận lỗi.

Khi Giáng hầu bị bãi chức, người trong nước dâng thư cáo buộc ông mưu phảm. Triều đình bèn triệu ông về, giam vào ngụ (Sử ký chép là Thanh Thất (清室), Hán thư chép là Thỉnh Thất (請室)[4]). Các bậc công khanh tôn thất không ai dám đứng ra nói đỡ, chỉ có ông là bộc rõ ràng rằng Giáng hầu vô tội. Khi được phóng thích, ông đóng góp rất nhiều công lao, Giáng hầu từ đó kết giao thâm hậu với ông.[2][3].

Với Hoài Nam vương Lưu Trường

Lưu Trường vào triều yết kiến, ra tay giết chết Bích Dương Hầu (辟陽侯), hành vi cư xử vô cùng kiêu ngạo. Ông can gián rằng:

"Chư hầu mà quá kiêu ngạo, ắt sẽ sinh ra họa, bệ hạ nên nhân lúc này mà tước bớt đất phong của ông ta."'

Song, Hoàng Đế không nghe theo, Hoài Nam Vương ngày càng ngỗ ngược.

Đến khi Kích Bồi hầu thế tử Sài Kỳ (柴奇, con trai Sài Vũ) mưu phản bị phát giác, qua điều tra có liên lụy đến Hoài Nam Vương. Triều đình hạ lệnh triệu hắn về kinh, nhà vua đày ra đất Thục, dùng xe tù mui kín để áp giải đi.

Ông đang làm Trung lang tướng, ông vào can gián rằng:

"Bệ hạ vốn dĩ nuông chiều Hoài Nam Vương, không ngăn cấm nên mới đến nông nỗi này. Nay bệ hạ lại dùng biện pháp thô bạo đè bẹp ông ta. Hoài Nam Vương là người cứng cỏi, cương trực; nhỡ đâu trên đường, gặp phải sương mù[5]

mà đổ bệnh chết dọc đường, thì bệ hạ sẽ mang tiếng là thiên hạ rộng lớn mà lại không dung nổi người em, gánh cái danh "sát đệ", lúc đó tính sao đây?"

Nhưng, Hoàng Đế không nghe, vẫn quyết định cho thi hành[2][3][6][7].[8]

An ủi Hoàng Đế

Hoài Nam Vương đi đến Ung thành[9] đổ bệnh rồi hoăng. Khi tin dữ về, Hoàng Đế bỏ cả ăn uống, khóc lóc vô cùng đau thương. Ông vào triều, dập đầu xin tạ lỗi.

Hoàng Đế nói:

Vì ta không nghe lời của khanh nên mới đến nông nỗi này.

Ông đáp lại:

Bệ hạ hãy tự mở lòng rộng lượng, chuyện này đã là quá khứ rồi, sao có thể hối hận được sao! Vả lại, bệ hạ vốn có ba đức hại cao dày vượt trội hơn cả người đời, việc này không đủ để hủy hoại danh tiếng của bệ hạ

Nhà vua hỏi ba đức hạnh của Hoàng Đế là gì, ông tâu:

"Thuở bệ hạ ở đất Đại[10], Thái hậu lâm bệnh suốt 3 năm trời. Trong ba năm đó, bệ hạ không hề chợp mắt, không cởi áo nương mình, thuốc thang nếu không chính miệng bệ hạ nếm thử thuốc thì không được dâng lên. Bậc hiền đức như Tăng Sâm khi còn là dân thường làm điều đó còn thấy khó, nay bệ hạ ở ngôi vương mà hành xử được như vậy, cái hiếu đã vượt xa Tăng Sâm rồi!

Lúc Lữ thị nắm quyền, đại thần tự ý chuyên chế, thế mà bệ hạ dám cưỡi xe trạm sáu ngựa chạy thẳng vào kinh sư (Trường An) đầy cạm bẫy, cái dũng của những bậc dũng sĩ như Mạnh Bôn, Hạ Dục cũng không bằng bệ hạ.

Hơn nữa, việc bệ hạ đày Hoài Nam Vương đi, vốn dĩ là muốn làm khổ cái ý chí của ông ta, khiến ông ta biết sai mà sửa đổi. Chẳng qua là do đám quan lại hữu ty phụ trách hộ vệ canh gác không cẩn thẩn, ông ta mới bị đổ bệnh mà chết thôi"

[11]

Nghe đến đó, nhà vua mới nguôi ngoai cởi bỏ được khung mắc trong lòng. Từ đó, danh tiếng của ông lẫy lừng.[2][3][6][7].[8]

Hạ bệ hoạn quan Triệu Đàm

Khi bàn luận việc lớn, ông thường rất khảng khái. Bấy giờ hoạn quan Triệu Đàm[12], là tên nịnh hót nên được sủng ái, thường xuyên hãm hại ông khiến ông rất lo lắng.

Cháu gọi bằng chú là Viên Chủng đang giữ chức Thường thị kỵ[13], bèn hiến kế với ông rằng:

"Thúc phụ[14] hãy hạ nhục hắn ta ngay trước mặt mọi người, sau này dù hắn có nói xấu thúc phụ trước mặt Đế, Hoàng Đế không thèm tin nữa"

Một hôm, khi Hoàng Đế ra triều đi đến Đông cung, cho gọi hắn lên ngồi cùng xe. Ông lập tức quỳ sụp trước xe vua tâu lớn:

"Thần nghe nói, thiên tử khi cùng ngồi chung trên cỗ xe sáu thước[15], thì người ngồi cùng phải là bậc hào kiệt anh hùng thiên hạ. Nay Nhà Hán tuy có thiếu nhân tài, bệ hạ cớ sao lại độc nhất đi ngồi chung xe với một kẻ sót lại sau hình phạt dao cưa[16] như thế!"

[2][3]

Ngăn Văn Đế lao xe xuống dốc hiểm

Hoàng Đế đi từ Bá Lăng[17], muốn về phía Tây mà lao nhanh xuống con dốc cao hiểm trở. Ông đang cưỡi ngựa liền tiến đến đi sóng đôi với xe vua rồi ghì chặt dây cương lại. Hoàng Đế hỏi:

"Tướng quân nhát gan thế sao?"

Ông đáp:

Thần nghe nói, kẻ có tài sản ngàn vàng thì không ngồi gần mái hiền nhà[18], kẻ có tài sản trăm vàng thì không cưỡi lên thanh của xe (dễ ngã),thánh chủ thì không dấn thân vào nguy hiểm cầu may. Nay bệ hạ điều khiển cỗ xe sáu ngựa, lao bạt mạng xuống ngọn núi hiểm trở khôn lường, nhỡ đâu ngựa bị giật mình kinh hãi, xe bị hư hỏng, bệ hạ dù có tự coi nhẹ mình, thì đối với Cao Miếu và Thái hậu sẽ ra sao đây?

Hoàng Đế nghe xong, không lao xe nữa.[2][3]

Với Thận phu nhân

Hoàng đế ngự giá đến vườn Thượng Lâm, Hoàng hậuThận phu nhân đều tháp tùng. Khi ở trong cung cấm, hai người vốn nhường ngồi chung chiếu nhau. Đến lúc chuẩn bị an tọa (ngồi), vị quan Lang thự trưởng vừa trải chiếu ra. Ông liền tới kéo lùi chiếu của phu nhân ra sau.

Phu nhân nổi giận, nhất quyết không ngồi. Hoàng Đế cũng vậy, đứng dậy đi vào trong cung.

Ông liền tiến trước và giải thích rằng:

Thần nghe nói ngôi thứ tôn ti có trật tự thì trên dưới mới hòa thuận. Nay bệ hạ đã lập Hoàng hậu, thì phu nhân dù có được sùng ái đến đâu cũng chỉ là thiếp. Thiếp với chủ sao có thể ngồi ngang hàng với nhanh được chứ! Làm như vậy là mất đi cái trật tự vậy. Vả lại, bệ hạ yêu quý phu nhân, thì cứ ban thưởng hậu hĩnh là được. Việc bệ hạ nâng niu phu nhân hiện tại, tưởng là vì bà ấy, nhưng thực chất là đang rước họa đến cho bà ấy đó. Bệ hạ chưa từng nhìn thấy bài học "Người thỉ" ngày trước hay sao?[19]?

Nghe đến đó, nhà vua mới vui, vào cung đem giảng lại cho phu nhân nghe. Phu nhân bèn ban thưởng cho ông 50 cân vàng.[2][3]

Bị điều làm Long Tây Đô úy quận

Vì tính cương trực, liêm chính, thẳng thắn can gián, vậy nên không thể ở lại lâu tại triều đình. Ông bị điều làm Long Tây Đô úy quận. Tại đây, ông nhân từ, yêu thương binh sĩ, khiến binh sĩ ai nấy đều tranh nhau liều chết vì ông. Sau đó, ông được thăm làm Tề Tướng quốc, Ngô Tướng quốc.

Lúc sửa soạn lên đường cáo từ, Viên Chủng bảo Viên Áng rằng:

"Ngô Vương kiêu ngạo lâu nay, trong nước lại lắm gian thần. Nếu thúc phụ định dùng luật cứng rẳn luận tội, trừ gian diệt ác, nếu chúng không dâng thư lên triều đình vu cáo thúc phụ, chúng cũng sẽ dùng lưỡi kiếm ắc mà đâm chết thúc phụ thôi! Phương Nam là nơi thấp kém, ẩm ướt, thúc phụ sang đó cứ ngày ngày rượu rượu say, đừng làm gì cả, thỉnh thoảng chỉ cần khuyên Ngô Vương đừng làm phản là được rồi. Làm như thế may ra mới thoát được cái chết."

Ông nghe kế sách của cháu. Quả nhiên, Ngô Vương hậu đãi ông rất nhiều.[2][3]

Với Thân Đô Gia

Viên Áng cáo già về quê, dọc đường dặp Thừa tướng Thân Đô Gia (申屠嘉). Ông xuống xe cung kính bái kiến, nhưng Thừa tướng chỉ ngồi trên xe nghiêng mình đáp lễ chứ không xuống. Ông trở về, cảm thấy vô cùng xấu hổ với đám tùy tùng của mình, ông đi thẳng đến phut dâng bái thiếp xin gặp. Thừa tướng để ông đợi một lúc lâu mới chịu vào.

Ông bèn quỳ xuống nói;

"Xin được thưa truyện riêng"

Thừa tướng lạnh lùng đáp:

"Nếu sứ quân nói việc công, hãy đến các phòng ban mà bàn bạc với Trường sử, Duyện thuộc, ta sẽ xem xét tấu lên; còn nếu là việc tư, ta đây không tiếp chuyện riêng."

Ông liền quỳ thuyết phục rằng:

"Ngài làm thừa tướng, tự lượng mình so với Trần Bình, Giáng hầu thì ai hơn?"

Thừa tướng đáp:

"Ta không bằng"

Ông nói:

"Hay lắm, chính ngài cũng tự nhận không bằn họ. Trần Bình , Giáng hầu phò tá Cao Đế bình định thiên hạ, , làm tướng quốc, giết triệt cánh nhà chư Lữ, bảo toàn cơ nghiệp họ Lưu. Còn ngài chỉ là kẻ tài quan quyết trương, nhờ tích công mà leo dần lên chức chức Đội suất, rồi làm Thái thú Hoài Dương, chứ chẳng có mưu sách công thành dã chiến gì cả. Hoàng thượng từ Đại quốc lên đây, mỗi lần thiết triều, các Lang quan dâng thư, ngài chưa từng không dừng xe xe ngựa để nhận lấy lời họ nói. Lời nào không dùng thì bỏ qua, lời nào dùng được thì tiếp thu, chưa từng không khen hay. Vì sao? Là vì muốn chiêu mộ hiền sĩ đại phu trong thiên hạ. Hoàng thượng được nghe những điều chưa từng nghe, sáng tỏ những điều chưa từng biết, ngày một thánh minh, trí tuệ. Trong khi đó, ngài lại tự bịt tai che mắt, khóa miệng thiên hạ, khiến ngài ngu muội đi. Lấy một vị thánh chủ mà chất vấn một kẻ ngu tưởng, tai họa giáng xuống đầu ngài không còn lâu đâu!"

Thừa tướng nghe xong giật mình kinh hãi, sụp xuống lại rằng:

Gia tôi là kẻ thô lậu quê mùa, nên không biết được điều đó, thật may mắn được tướng quân chỉ giáo!

Thân Đô Gia kéo ông vào trong đuện ngồi cùng, tôn làm thượng khách

Mối thù với Tiều Thố

Vốn dĩ từ xưa nay, ông và Tiều Thố chả ưa gì nhau. Tiều Thố mà ngồi ở đâu là ông bỏ chỗ khác; ông ngồi đâu thì Tiều Thố tránh đi; hai người chưa từng ngồi chung một phòng mà nói chuyện.

Khi Hiêu Cảnh Hoàng Đế lên ngôi, Tiều Thố được làm Ngự sử đại phu. Thố sai thuộc hạ điều tra ông nhận tiền tài vậy chất của Lưu Tỵ, khép tội chết. Hoàng Đế hạ chiêu tha tội chết nhưng miễn chức tước, biến ông thành phó thường dân.

[20]Khi tin tức bảy nước phản loạn truyền đến kinh sư[21], Tiều Thố bàn với các Thừa sử rằng:

"Viên Áng nhận rất nhiều tiền bạc của Ngô vương, chuyên môn che giấu cho hắn, cam đoan hắn không phản. Nay quả nhiên hắn đã phản, ta muốn xin bệ hạ cho bắt trị tội Viên Áng để tra mưu kế của hắn."

Thừa sử can rằng:

"Sự việc chưa phát tác có thể trị tội được, nay binh mã của địch đang rầm rộ phía Tây, trị tội ông ta có ích gì! Viên Áng chắc không tham gia mưu phản đâu."

Song, Tiều thố còn do dự.

Có người đem chuyện kể cho ông khiến ông sợ hãi. Đến đêm, ông đến Đậu Anh (竇嬰) phủ, kể rõ lý do Ngô vương làm phản. Đậu Anh vào tâu, Hoàng Đế liền triệu kiến ông.

Ông vào gặp, nói rõ Ngô vương làm phản là do chính sách Tiều Thố, rồi hiến kế chém chết Tiều Thố để tạ lỗi nước Ngô, quân Ngô sẽ tự động lui binh.

Hoàng Đế nghe theo, phong ônh làm Thái thường vào năm thứ 3[22], Đậu Anh làm Đại tướng quân. Hai người vốn dĩ thân thiết nhau. Lúc bấy giờ, các hiền đại phu ở vùng lăng tẩm trong kinh sư tranh nhau đến bám vịn, kết giao hai người, xe ngựa tụ tập mỗi ngày lên đến hàng trăm cỗ[23][24][2][3].

Nhưng, bản chất bọn phản loạn là "cướp ngôi Hoàng Đế", còn vụ Tiều Thố chỉ là trên danh nghĩa. Thế nên việc Tiều Thố chết không còn quan trọng với quân phản loạn nữa.[25].

Ngô vương cười bảo rằng:

"Ta nay đã là Hoàng Đế phía Đông rồi, còn cần gì phải nhận cái sắc phong Thái thường nhà Hán nữa!.

Đây chính là vết nhơ đen trong cuộc đời ông.

Tháo chạy khỏi trại doanh nước Ngô

Ông làm sứ giả đến nước Ngô. Ngô Vương muốn ép ông làm tướng soái, nhưng ông không chịu. Ngô Vương muốn giết ông, lệnh Đô úy đem năm trăm quân vây chặt, canh giữ ông ở trong quân doanh.

Vì chuyện xưa, ông không để lộ, vẫn đối xử hắn tử tế như xưa. Có người mách nước với gã tòng sử: "Chủ công đã biết người thông gia với nàng hầu rồi đấy". Hắn sợ hãi mà bỏ trốn. Ông tự đánh xe đuổi theo, nhưng không những bắt tội mà còn đem nàng hầu ban tặng cho hắn, rồi cho hắn tiếp tục làm tòng sử.

Khi đi sử nước Ngô bị vây lỏng, hắn năm xưa vừa vặn lại đang làm quan Hiệu úy Tư mã canh giữ ông. Hắn đem hết tiền bạc tư trang của mình mua hai thạch rượu ngon chất lượng cao. Gặp lúc trời đại hàn, binh lính vừa đói khát, hắn cho uống rượu say, đám lính canh ở góc Tây Nam đều lăn ra ngủ.

Đêm đến, viên tư mã vào kéo dạy ông bảo:

"Chủ công mau trốn đi thôi! Ngô vương đã định đến sáng mai sẽ chém đầu ngài đấy."

Ông không tin, hỏi là ai, viên Tư mã đáp:

"Thần chính là gã tòng sử từng trộm nàng hầu chủ công ngày trước đây."

Ông kinh ngạc, tạ ơn rồi bảo:

"Ngươi may mắn có cha mẹ già, ta không đành lòng để phải liên lụy."

Viên Tư mã nói:

"Chủ công cứ đi đi, thần cũng sẽ bỏ trốn, đem cha mẹ đi ẩn náu, chủ công lo gì nữa!"

Hắn dùng dao rạch màn trướng, dẫn ông đi xuyên qua đám lính say rượu mà thẳng tiên ra ngoài. Hắn và ông từ biệt nhau tại đó. Ông cởi bỏ phần lông của cờ tiết, giấu vào trong ngực, tay chống gậy, đi bộ bảy tám dặm[26]. Đến sáng thì gặp được kỵ binh của nước Lương, thúc ngựa phi nhanh, tìm đường trở về báo cáo triều đình[2][3].

Tình bạn với hiệp khách Kịch Mạng

Sau khi dẹp Loạn bảy nước, nhà vua phong cho con trai Nguyên Vương là Bình Lục hầu Lưu Lễ làm Sở Vương, phong ông là Sở tướng quốc. Ông từng dâng thư hiến kế nhiều lần, nhưng không được trọng dụng. Ông cáo bệnh xin từ quan về quê, sống một cuộc đời chìm nổi cùng dân làng, giao hào, cùng chơi chọi ggà, đua chó

Đại hiệp khách Kịch Mạng ở Lạc Dương từng thăm ông, ông tiếp khách cực kỳ nồng hậu. Có kẻ giàu hỏi rằng tên này là gã cờ bạc, sao ông lại tiếp khách như vậy.

Theo lời của ông thì Kịch Mạng đúng là kẻ cờ bạc, khi mẹ mất, ông tiễn đưa đông đến hơn một ngàn cỗ xe. Khi một mai có việc nguy cấp đến gõ cửa, kẻ không lấy cớ người thân để đùn đẩy, không lấy chuyên sống chết để từ chối, chỉ có Quý Tâm và Kịch Mạng.

Sau đó, ông còn hỏi lại kẻ nhà giàu nếu gặp tình hình nguy cấp thì sao. Sau đó, ông tuyệt giao với kẻ nhà giàu luôn. Các vương công nghe chuyện đều ca tụng ông.[2][3]

Bị Lương vương sát hại

Mặc dù ông đã về quê, nhưng Hoàng Đế đều sai người đế n hỏi ông về mưu lược, kế sách lớn. Bấy giờ, có Lương vương muốn làm người kế vị ngai vàng. Ông vào triều can gián khiến mưu đồ bị chặn đứng, không thể làm gì được.

Lương vương hận ông thấu xương, sai sát thủ đến ám sát ông.

Tên sát thủ này đến từ Quan Trung, đi hỏi về ông thấy ai cũng ca ngợi. Tên này đến gặp ông và nói:

"Thần nhận vàng vủa Lương vương đến để lấy mạng ngài. Nhưng ngàu là bậc trưởng giả nhân hậu, thần không nỡ xuống tay. Dẫu vậy, thần sẽ có mười mấy sát thủ khác nữa đến đấy, ngài phải hết sức phòng bị!"

Ông nghe xong trong lòng bất an. Trong nhà ông dạo lại xảy ra nhiều hiện tượng kỳ quái, ông bèn tìm đến chỗ thầy bói Bồi Sinh xem quẻ. Trên đuòng về, ông bị đám sát thủ của Lương vương phục kích, chặn đứng và chém chết ông ngay phía ngoài quách thành An Lăng.[2][3][27]

Đánh giá

Thái Sử Công (Tư Mã Thiên) đánh giá ông tuy không phải là người hiếu học, nhưng rất giỏi việc tùy cơ ứng biến, bản chất có lòng nhân hậu, khi nói về điều nghĩa thì vô cùng khảng khái. Gặp lúc Hiếu Văn Đế lên ngôi, tài năng của ông vừa vặn hợp với thời thế. Đến lúc loạn bảy nước, ông dâng lời thuyết phục, tuy được nghe nhưng cuối cùng chả đi đâu. Bản tính thích hư danh, tự phụ mình là hiền tài, cuối cùng bị chính cái tiếng ấy làm hại.[2]

Trong Hán thư là người công chính thẳng thắn, nhưng cũng hay theo phụ họa theo thời thế. Ghi cương ngựa được vua trọng dụng, kéo lùi chiếu ngồi giúp sủng phi thoát họa tai ương.

Hán thư có bày tỏ đáng thương rằng danh tiếng thì lập nên mà thân xác lại bại vong.[3][28]

Có thể thấy, ông là một người chính trực, thẳng thắn can gián, điều mà nhiều công thần sợ hãi, sợ bị chém. từ việc Giáng hầu khinh thường, Lưu Trường kiêu ngạo, sắp xếp chỗ ngồi cho phu nhân,... nhưng vụ dâng thư chém Tiều Thố luôn là vết nhơ đen trong cuộc đời ông. Nhưng công bằng mà nói, vụ ám sát của ông chính là cái giá phải trả khi can gián ngay thẳng, chính trực. Quả thực, không lâu sau đó, Lưu Vũ bị phát giác là thuê sát thủ đến chém chết ông, dần dần Lưu Vũ bị thất sủng, mặc dù Thái hậu có gây sức ép lên ông.

Chú giải

  1. ^ Nằm ở phía Bắc Trường An, thuộc quận Phú Phong. Nguồn gốc tên gọi đến từ "An Lăng" của Hiếu Huệ Hoàng Đế. Thời bấy giờ, sau này khi xây Đế lăng xong, họ sẽ thành thập đơn vị hành chính xung quanh lăng. Thế nên, nó được gọi là An Lăng. Nay nằm ở Hàm Dương, Thiểm Tây
  2. ^ a b c d e f g h i j k l m Sử ký, Viên Áng Tiêu Thố truyện
  3. ^ a b c d e f g h i j k l m Hán thư, Viên Áng Tiêu Thố truyện
  4. ^ Do sử gia đời sau viết hay viết nhanh dẫn đến việc gộp nét với nhau dẫn đến nhầm ký tự, với cả bộ Thủy và bộ Ngôn nếu viết theo lối Hành thư thì dễ nhầm ký tự với nhau
  5. ^ Sử ký chép là vụ lộ (霧露, sương mù, sương độc), còn hán thư lại chép là sương lộ (霜露, sương mù, sương muối)
  6. ^ a b Hán thư, Hoài Nam Hành Sơn Tề Bắc vương truyện
  7. ^ a b Hán thư, Văn Đế bản kỷ
  8. ^ a b Sử ký, Hiếu Văn bản kỷ
  9. ^ Nay nằm ở phía đông huyện Phượng Tường, địa cấp thị Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây
  10. ^ Nay chủ yếu nằm ở tỉnh Hà BắcSơn Tây ngày nay, thời Hán nằm tại biên giới Nhà HánHung Nô
  11. ^ Trong Hán thư còn chép: Hoàng Đế hỏi: "Vậy giờ phải làm sao?, ông tây: "Hoài Nam vương có ba người con của em mình lên làm Vương. Thế là Văn Đế lập cả ba người con của em mình lên làm Vương
  12. ^ Hán thư chép là Triệu Đồng
  13. ^ Hán thư chép thêm: "Tay cầm cờ tiết đi hộ vệ hai bên xe vưa"
  14. ^ Cách gọi chú (em trai của bố) bên Trung Hoa
  15. ^ Thời Tây Hán, 1 thước tương đương với 23,1 cm. Như vậy, 6 thước dài khoảng 1,386 mét.
  16. ^ Trước khi làm Hoạn quan, người ta bắt buộc phải trải qua giai đoạn gọi là "tịnh thân" tức là [[Thiến], tức là cắt bỏ bộ phận sinh dục, chính vì thế, Hoạn quan thường không lập gia đình.
  17. ^ Đây là huyện thời Nhà Hán, có lăng của Hán Văn Đế (nay nằm gần sông Bá Thủy, làng Giang Thôn, cao nguyên Bạch Lạc Nguyên, ngoại ô phía đông thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây). Nay nằm ở phái đông Tây An.
  18. ^ Ngày xưa, công nghệ gạch nung còn rất kém, gạch ngói đôi khi không bền vững, hay bị vỡ bất cứ lúc nào, mái nhà cao, rơi một phát là trúng vào đấu, dẫn đến Chấn thương sọ não khả năng tử vong rất là cao. Câu nói này thể hiện sự bất chấp đến liều mạng.
  19. ^ Vụ Thích phu nhânLã hậu năm xưa thời Cao Hoàng Đế
  20. ^ Sử ký không chép chi tiết về cái chết của Tiều Thố, toàn bộ sự việc đẩy xuống Tiều Thố truyện, còn Hán thư có chép về sự việc này.
  21. ^ Tức Trường An
  22. ^ Hán thư: Quyển 19: Bách Quan Công Khanh Biểu chép: "孝景二年元年: 故吳相袁盎為奉常。殷。"
  23. ^ Sử ký, quyển 107, Ngụy Cơ Vũ An hầu truyện
  24. ^ Hán thư, quyển 52, Đậu Điền Quán Hàn truyện
  25. ^ Hán thư, quyển 35: Kinh Yên Ngô truyện
  26. ^ Sử ký chép là 7, 8 dặm (2,898 - 3,312 km), Hắn thư chép 70 dặm (28,98 km)
  27. ^ Hán thư, quyển 47: Văn tam vương truyện
  28. ^ Hán thư, quyển 47: Văn tam vương truyện

Tham khảo

Chức vụ

Tiền nhiệm
Du
Phụng thường
154 TCN
Kế nhiệm
Ân