Bản mẫu:1000 bài cơ bản Bản mẫu:InfoboxBản mẫu:Wikidata hình ảnh

William Shakespeare (tên phiên âm: Quy-li-am Sếch-xpia, không rõ ngày sinh của ông, nhưng theo truyền thống được ghi nhận là vào ngày 23 tháng 4 năm 1564, ngày thánh George; mất ngày 23 tháng 4 năm 1616 theo lịch Julius (hoặc ngày 3 tháng 5 năm 1616 theo lịch Gregorius)) là một nhà vănnhà viết kịch người Anh, được đánh giá là nhà văn vĩ đại nhất của Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại[1] và nổi tiếng với các tác phẩm như Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Hăm-lét, Ô-ten-lô,... Ông còn được vinh danh là nhà thơ tiêu biểu của nước Anh và là "Thi sĩ của dòng sông Avon" (Avon là dòng sông nơi sinh của Shakespeare, Stratford-upon-Avon).[2] Những tác phẩm của ông, bao gồm cả những tác phẩm đồng tác giả, bao gồm 39 vở kịch, 154 bản sonnet, hai bản trường ca, và vài bài thơ ngắn. Những vở kịch của ông đã được dịch ra thành rất nhiều ngôn ngữ lớn và được trình diễn nhiều hơn bất kì nhà viết kịch nào.[3]

Shakespeare được sinh ra và lớn lên tại Stratford-upon-Avon. Vào năm 18 tuổi, ông kết hôn với Anne Hathaway và có ba người con, đó là Susanna Hall và cặp đôi song sinh, Hamnet Shakespeare và Judith Quiney. Trong những năm từ 1585-1592, sự nghiệp của ông thành công vang dội tại thủ đô Luân Đôn với vai trò là một diễn viên, nhà văn và đôi lúc là người sở hữu của một công ty kịch Lord Chamberlain's Men, với tên gọi sau đó là King's Men. Ông quay về quê Stratford để nghỉ hưu vào năm 1613, lúc ông 49 tuổi, sau đó 3 năm ông qua đời tại đấy. Số ít tài liệu về cuộc sống của ông tại đây đã được tìm thấy, được suy đoán là về các vấn đề thể chất, tình dục, tín ngưỡng, tôn giáo, và được cho là do những người khác có quan hệ gần gũi với ông ghi chép lại.[4]

Hầu hết các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông được ông sáng tác trong giai đoạn từ 1589 đến 1613.[5] Những vở kịch đầu tiên của ông chủ yếu là hài kịch và kịch lịch sử, những thể loại này được ông tăng lên sự tinh tế của nghệ thuật vào cuối thế kỉ XVI. Sau đó, ông sáng tác chủ yếu là bi kịch đến năm 1608, bao gồm các tác phẩm Hamlet, Vua Lear, OthelloMacbeth, gồm một vài tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bằng tiếng Anh. Trong giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp sáng tác, ông sáng tác những vở chính kịch (tragicomedies) và đồng thời hợp tác với một số nhà viết kịch khác.

Nhiều vở kịch của ông được tái bản nhiều lần với các chất lượng khác nhau và một cách chính xác trong suốt cuộc đời của ông. Năm 1623, hai đồng nghiệp cũ của Shakespeare, cũng làm việc trên sân khấu kịch, xuất bản First Folio, một tập hợp tất cả các vở kịch được coi là của ông. Nhưng đến nay, chỉ có hai trong tổng số đó được công nhận là của Shakespeare.

Cuộc đời và sự nghiệp

Thơ ấu

Tập tin:William Shakespeares birthplace, Stratford-upon-Avon 26l2007.jpg
Căn nhà của John Shakespeare, thân phụ của William Shakespeare tại Stratford-upon-Avon. Đây được tin là nơi sinh của nhà văn.

William Shakespeare là con trai của John Shakespeare, một người thợ làm găng tay và ủy viên hội đồng địa phương đến từ Snitterfield và Mary Arden, con gái của một chủ đất giàu có.[6] Ông được sinh ra tại Stratford-upon-Avon và được rửa tội vào ngày 26 tháng 4 năm 1564 tại đó. Ngày sinh thật sự của ông vẫn chưa rõ, nhưng những báo cáo ban đầu là ngày 23 tháng 4 năm 1564, ngày của thánh George (St. George's Day).[7] Ông là con thứ ba trong tổng số tám người con của gia đình Shakespeare và là lớn nhất trong những người con còn sống sót.[8]

Mặc dù không còn những ghi chép về quãng đời đầu tiên của ông, nhưng các nhà nghiên cứu về tiểu sử của ông đồng ý rằng Shakespeare được giáo dục tại King's New Grammar School (Trường Văn phạm mới của nhà Vua) ở Stratford,[9] một ngôi trường miễn học phí thành lập năm 1553,[10] cách nhà ông khoảng một phần tư dặm. Vào thời Nữ hoàng Elizabeth, các trường dạy ngữ pháp có chất lượng không đồng nhất nhưng có một khuôn mẫu chương trình được quy định bởi luật pháp áp dụng trên toàn nước Anh,[11] và trường cũng cung cấp chương trình giáo dục chuyên sâu về ngữ pháp tiếng Latinh và những tác giả cổ điển trong tiếng Latinh.

Hôn nhân

Năm 18 tuổi, Shakespeare kết hôn với Anne Hathaway, lớn hơn ông đến 8 tuổi. Chúng ta biết rất ít về bà, nhiều khả năng bà là con cả trong gia đình Hathaway làng Shottery, gần Stratford. Giáo hội của Worcester đồng ý cho phép tổ chức lễ cưới vào ngày 27 tháng 11, 1582. Sáu tháng sau khi kết hôn, Anne sinh được một người con gái, Susanna, được rửa tội vào ngày 26 tháng 5 năm 1583.[12] Cặp song sinh một trai Hamnet và một gái Judith được sinh ra hai năm sau đó và được rửa tội vào ngày 2 tháng 2 năm 1585.[13] Hamnet mất vì một nguyên nhân không rõ vào năm 11 tuổi và được mai táng vào ngày 11 tháng 8 năm 1596. Nhân vật anh hùng trong vở bi kịch Hamlet của Shakespeare được đặt theo tên người con Hamnet của ông.[14]

"Những năm mất tích" (1582-1585)

Trong những năm đầu hôn nhân của Shakespeare cho đến năm 1585, hầu hết mọi thông tin về Shakespeare rất mơ hồ bí ẩn, người ta gọi đó là "Những năm mất tích". Người ta phỏng đoán rằng ông hành nghề thầy cãi vì các vở kịch của ông thể hiện kiến thức luật pháp. Cũng có thể Shakespeare đã làm thợ làm vườn vì các nhân vật trong nhiều tác phẩm của ông am hiểu nhiều về thiên nhiên. Hoặc ông đã tham gia vào công việc của gia đình, buôn bán len và lúa mạch, làm găng tay... Nhiều khả năng ông không làm thầy thuốc, trong vở kịch Macbeth có lời thoại "Hãy đem thuốc mà đổ cho chó."[15]

Thời ấy, ở Anh thường có các gánh hát lưu động đi lưu diễn ở các miền quê. Một ngày nọ, Shakespeare bắt đầu bị hấp dẫn bởi sân khấu kịch và các gánh hát lưu động, với tài năng văn chương trời phú, ông đã rời quê hương lên kinh đô Luân Đôn, tìm kiếm tiền đồ và sự nghiệp cho mình.[16]

Đến Luân Đôn

Vào năm 1585, ông rời quê lên Luân Đôn đang lúc kịch trường ở chốn kinh kỳ trong thời kỳ sôi nổi, nước Anh đang dưới sự trị vì của Nữ hoàng Elizabeth I.Lúc ở kinh thành Luân Đôn, ông được Bá tước Southampton giúp đỡ. Dưới mái nhà của bá tước, có một người Ý lưu vong là Giovani Florio. Chính Florio đã giúp Shakespeare hiểu biết thêm về văn học Phục Hưng của ÝPháp. Cuộc sống đang êm đềm thì xảy ra biến cố. Đó là vụ án Essex và Southampton (1601). Essex bị kết tội gây loạn chống triều đình Elizabeth I. Shakespeare cũng bị tình nghi có liên quan vì vở kịch Richard III được diễn ra một hôm trước đó. Essex bị tử hình, Southampton bị tù chung thân, còn Shakespeare trốn biệtLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”..

Vào năm 1603, Elizabeth I qua đời, Quốc vương nước ScotlandJames VI lên nối ngôi và trở thành Quốc vương James I của nước Anh; khi đó Bá tước Southampton được trả tự do và trọng dụng. Shakespeare xuất hiện trở lại với đoàn kịch của mình và được triều đình hậu đãi.

Đôi khi các vở kịch được viết nên để ca tụng và gây ấn tượng cho các bậc vua chúa. Khi Shakespeare soạn các vở kịch lịch sử, ông phải đảm bảo cân nhắc sao cho vở kịch không mạo phạm đến hoàng gia. Vì vậy, ông phải thay đổi thời gian và các sự kiện lịch sử để tạo hình ảnh tốt đẹp cho gia tộc Tudor - gia tộc của Nữ hoàng Elizabeth I. Đến khi James I lên ngôi, ông cũng làm điều tương tự với gia tộc Stuart.

Trước đó vào năm 1588, vua Tây Ban Nha phái hạm đội Armada sang xâm lược nước Anh nhưng đã thất bại. Có thể Shakespeare

Vào thời Nữ hoàng Elizabeth I, phục trang vượt quá vai vế xã hội bị coi là phạm pháp. Chỉ các diễn viên mới có thể phá lệ, diện trang phục như các bậc vua chúa quý tộc để biểu diễn. Chi phí được đầu tư cho nhiều bộ trang phục lộng lẫy, và các chuyên gia chế tạo ra chúng được coi là những nhân vật quan trọng.

Cuối đời

Tập tin:Shakspeare signature.jpg
Chữ ký của Shakespeare trong tờ di chúc

Vào năm 1612, Shakespeare rời kinh đô Luân Đôn trở về quê hương sau bao năm theo đuổi sự nghiệp viết kịch và hoạt động sân khấu. Có thể ông đã nhận thấy sân khấu kịch Anh ngày sàng sa sút vào con đường quý tộc hoá, và với số tài sản tích góp được sau nhiều năm cũng đủ để ông mua một căn nhà ở thị trấn quê hương, sống những năm cuối đời. Ngày 25 tháng 3 năm 1616, Shakespeare hoàn thành tờ di chúc của mình, sức khỏe của ông không được tốt và ông đã qua đời một tháng sau đó. Ông mất ngày 23 tháng 4 năm 1616. Trong di chúc, ông để lại hầu hết tài sản cho cô con gái Susanna, và ông yêu cầu trên bia mộ của mình phải được viết những dòng chữ này: Bản mẫu:Cquote

Ngày nay, ở thị trấn Stratford quê hương ông, người ta thành lập Công ty kịch nghệ Shakespeare Hoàng gia, còn căn nhà nơi ông sinh sống giờ đây trở thành Viện bảo tàng Shakespeare, như để kỉ niệm cuộc đời và sự nghiệp của nhà viết kịch vĩ đại này.[17]

Tác phẩm

Trong đời mình, Shakespeare viết hơn 40 vở kịch, tất cả đều dưới dạng thơ, và được chia thành ba loại:

Chú thích

  • ^[a] Nay thường được xếp vào một loại mới: Romances
  • ^[b] Kịch về các vấn đề xã hội
  • ^[c] Được xem là của Shakespeare

Tầm ảnh hưởng

Cống hiến của Shakepeare in đậm dấu ấn lên kịch nghệvăn chương các thế hệ sau. Ví như ông đã phát triển kịch nghệ cả về xây dựng nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữthể loại. Cho tới trước vở Romeo và Juliet, lãng mạn không được xem là đề tài giá trị đối với bi kịch. Độc thoại đã từng được sử dụng chủ yếu để truyền đạt thông tin về nhân vậtsự kiện nhưng Shakespeare đã sử dụng nó để khám phá tâm trí nhân vật. Tác phẩm của Shakepeare ảnh hưởng sâu sắc tới thi ca thế hệ sau. Rõ ràng, ông vĩ đại hơn hẳn các nhà viết kịch lớn của Pháp trước thời ông như Racine hay Molière.[18] Những nhà thơ trường phái lãng mạn đã nỗ lực để làm sống lại kịch thơ Shakespeare, dù đạt được rất ít thành công. Nhà phê bình Gorge Steiner phát biểu rằng tất cả các vở kịch thơ từ Coleridge đến Tennyson chỉ là những "phiên bản mờ nhạt viết dựa trên các chủ đề của Shakespeare". Tuy nhiên, vào thế kỷ XVIII, đại văn hào nước PhápVoltaire (FranÇois-Marie Arouet, 16941778) – khi phân tích về kịch nghệ của Shakespeare cũng như những nhà soạn kịch nổi tiếng khác – đã phê phán ông, theo đó ông chỉ đáng được tôn vinh tại Anh:[19] Bản mẫu:Cquote

Voltaire cũng bảo Shakespeare là "quái vật" tuy nhiên, bảo đại văn hào Pháp không bao giờ biết khen ngợi ông thì thật sai lầm. Voltaire luôn luôn cho rằng, ông là một nhà soạn kịch "có bản chất cao đẹp, mặc dù tởm lợm". Thời đó, Quốc vương Friedrich II (tức Friedrich Đại Đế, 17121786) – vị đại anh quân của nước Phổ và cũng chính là bạn thân của Voltaire[20] chỉ có thể đọc Shakespeare bằng các bản dịch tiếng Pháp. Vào năm 1780, xuất bản tác phẩm "De la littérature allemande". Qua đó, ông phê phán "các tác phẩm ghê tởm" của Shakespeare:[21][22] Bản mẫu:Cquote

Vị Quốc vương này chỉ trích Shakespeare còn thậm tệ hơn cả Voltaire: "Làm sao đống tác phẩm quái đản nửa đê tiện nửa cao thượng, nửa bi thảm nửa hài hước, lại thu hút ai được?"[23] Song, Shakespeare đã ảnh hưởng lên những nhà viết tiểu thuyết Thomas Hardy, William FauknerCharles Dickens. Dickens thường trích dẫn Shakespeare, có thể rút ra 25 trong số các tựa tác phẩm của ông là lấy từ các tác phẩm của Shakespeare. Ngay từ thế kỷ XVIII, dù bị một đại anh quân nước Phổ và một đại văn hào nước Pháp phê phán dữ dội, trớ trêu thay, Shakespeare lại truyền cảm nền văn hóa nghệ - thuật khắp châu Âu, và trớ trêu hơn nữa - ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với nền văn nghệ Đức, nhà thơ Johann Gottfried Herder đã tán dương tài năng viết kịch của ông "như thần thánh".[24] Như doanh nhân nước Đức Ludwig Reiners (1896 - 1957) viết vào năm 1952, các đại văn hào Đức thời Friedrich II Đại Đế đã "bắt chước những vở kịch tồi tệ, nhảm nhí và chán ngắt của Shakespeare".[25] Trước tình cảnh đó, Quốc vương Friedrich II Đại Đế – với thái độ công kích nền văn hóa Đức (kể cả tác phẩm duy nhất mà ông biết của đại thi hào Goethe chịu ảnh hưởng của Shakespeare[23]) – lại phải viết:[26] Bản mẫu:Cquote

Nạn nhân cho những màn nhại lại (parody) đầy thâm thúy

William Shakespeare có tầm ảnh hưởng cực kỳ sâu rộng đối với loạt phim hài kịch tình huống kinh điển của Anh, Blackadder (1983-1989) của nam diễn viên Rowan Atkinson. Shakespeare không chỉ là nguồn cảm hứng bối cảnh, mà tác phẩm của ông còn là chất liệu để loạt phim này thực hiện các màn châm biếm, nhại lại đầy thông minh.

Mùa đầu tiên, The Black Adder (1983), được phát sóng chỉ vài tháng sau khi BBC hoàn thành chuỗi sản xuất quy mô lớn cho các vở kịch lịch sử về Chiến tranh Hoa Hồng của Shakespeare, bao gồm ba phần của Henry VI và Richard III. Sự trùng hợp về mặt thời gian này biến loạt phim thành một cuộc đối thoại giễu nhại trực tiếp với các dự án chính kịch hàn lâm của đài truyền hình quốc gia. Để tăng tính châm biếm, ê-kíp sản xuất đã sử dụng lại chính các diễn viên từ các bản dựng Shakespeare của BBC. Ron Cook, người thủ vai Richard III trong bản chính kịch, đã truyền cảm hứng trực tiếp cho ngoại hình lấm lét, mái tóc và phong thái của nhân vật Edmund Blackadder (do Rowan Atkinson thủ vai) .Đồng thời, Peter Benson, người đóng vai Henry VI của Shakespeare, lại được giao vai Henry VII trong tập mở màn của Blackadder.

Sự chiếm đoạt văn bản diễn ra ngay từ tập đầu tiên "The Foretelling", kiến tạo một lịch sử thay thế nơi Richard III (do Peter Cook thủ vai) là một vị vua nhân hậu, dũng cảm nhưng lại tự hạ thấp mình, trái ngược hoàn toàn với hình tượng bạo chúa gù lưng tự căm ghét bản thân của Shakespeare. Bài độc thoại mở đầu của Richard III trong phim là sự đảo ngược hài hước của vở kịch gốc, chuyển từ mùa đông của sự bất mãn sang mùa hè của sự mãn nguyện ngọt ngào bị che phủ bởi những đám mây nhà Tudor. Trong trận chiến Bosworth, vị vua này đã trộn lẫn một cách hỗn loạn hai bài phát biểu nổi tiếng trong vở Henry V về lòng dũng cảm trên chiến trường. Cái chết của ông do Edmund vô tình chém đầu khi đang mượn ngựa, kèm theo tiếng kêu tuyệt vọng đòi đổi vương quốc lấy một con ngựa, mở đầu cho chuỗi bi kịch đầy tiếng cười. Sau đó, Thái tử Harry đã thương tiếc ông bằng cách nhại lại lời tiễn biệt nổi tiếng dành cho Hamlet về những chuyến bay của thiên thần đưa tiễn nhà vua về nơi an nghỉ.

Sự phát triển nhân vật Edmund Blackadder cũng gắn liền với kịch nghệ Shakespearean. Edmund được đặt tên theo nhân vật Edmund trong vở King Lear, đứa con ngoại hôn phản nghịch của Bá tước Gloucester, kẻ luôn âm mưu chống lại cha và người anh hợp pháp Edgar. Sự tương phản giữa dòng họ Blackadder hư cấu và vương triều Blackadder có thật trong lịch sử Scotland càng làm nổi bật tính chất giễu nhại lịch sử. Ở cuối mùa 1, tập "The Black Seal", ngay trước khi Edmund chết vì uống phải thuốc độc (một sự mô phỏng trực tiếp kết thúc bi thảm của vở Hamlet), cha của anh đã gọi anh là "Edgar" – một cái gật đầu đầy châm biếm về sự nhầm lẫn danh tính trong King Lear.

Các vở kịch khác cũng được đưa vào cấu trúc tự sự của mùa đầu tiên một cách có hệ thống. Trong "Born to be King", phân cảnh Edmund hoang tưởng về chiếc dao găm và vở kịch nội bộ mô phỏng trực tiếp vở Hamlet cùng những câu thoại liên quan đến ngày định mệnh trong Julius Caesar. Ở tập "The Queen of Spain's Beard", kế hoạch cải trang bằng trang phục của Edmund là sự giễu nhại cốt truyện Đêm thứ mười hai. Thậm chí, ba mụ phù thủy trong rừng gặp Edmund lại được đặt tên là Goneril, Regan và Cordelia (ba cô con gái của Vua Lear), nhưng lại đưa ra những lời tiên tri nhầm lẫn tương tự ba mụ phù thủy trong Macbeth. Sự hiện diện dày đặc này lý giải vì sao phần credit cuối phim của mùa 1 ghi nhận một cách trào phúng rằng Shakespeare chịu trách nhiệm cho các phần lời thoại bổ sung.

Bước sang Blackadder II (1986), bối cảnh triều đại Elizabeth I tạo điều kiện cho các nhà biên kịch Richard CurtisBen Elton khai thác sâu hơn vào ngôn ngữ và mô-típ kịch Phục hưng. Việc giễu nhại giờ đây không còn dừng lại ở việc nhại câu chữ đơn thuần mà đi sâu vào việc giải cấu trúc các mô-típ nhân vật truyền thống.

Tập phim mở màn "Bells" là sự tri ân trực tiếp đối với vở Đêm thứ mười haiAs You Like It qua nhân vật Kate. Cô cải trang thành một chàng trai tên "Bob" để kiếm sống và khiến Edmund rơi vào một cuộc khủng hoảng tình cảm hài hước khi anh đem lòng yêu "cậu thiếu niên" này. Diễn viên Tim McInnerny tiết lộ rằng vai diễn Lord Percy ngốc nghếch của ông được lấy cảm hứng trực tiếp từ nhân vật Sir Andrew Aguecheek trong Đêm thứ mười hai. Nhân vật Nursie với những câu chuyện dung tục về tình dục là sự giễu nhại Vú nuôi trong Romeo and Juliet. Cả hai vai diễn này đều được đảm nhiệm bởi cùng một nữ diễn viên Patsy Byrne (bà từng đóng Vú nuôi trong bản dựng của Thames Television năm 1976). Đoạn thoại của Sir Thomas More về giới tính sinh học cũng liên kết trực tiếp đến vở kịch Sir Thomas More, tác phẩm mà Shakespeare được cho là đã tham gia đồng sáng tác. Tiêu đề tập phim "Bells" và câu thoại chúc tụng Kate là lời gợi nhắc rõ ràng đến The Taming of the Shrew.

Sự chuyển thế mô-típ tiếp tục xuất hiện trong tập "Head", nơi cốt truyện chính phản chiếu vở kịch Measure for Measure khi Edmund tìm cách tráo đổi thủ cấp để che giấu việc hành quyết không thành. Lời thoại của nhân vật khi nói về sự sủng ái của Nữ hoàng dành cho Robert Deveraux (Bá tước vùng Essex, người được ngợi ca trong Henry V) củng cố tính chất lịch sử liên văn bản của loạt phim.

Trong tập "Money", sự xuất hiện của gã ăn mày điên Tom, kẻ liên tục than vãn về cái lạnh, trực tiếp chế giễu màn cải trang của Edgar thành Tom o'Bedlam trong King Lear. Lord Percy cũng bóp méo câu thơ lãng mạn trong Richard II khi đề xuất ngồi trên thảm và kể những câu chuyện buồn. Trò đùa về Shakespeare đạt đến đỉnh điểm khi Edmund sỉ nhục trí tuệ của Baldrick bằng cách nói rằng hắn là kẻ sẽ cười trước một vở hài kịch của Shakespeare, vạch trần sự lỗi thời của những trò hài hước thời Elizabeth đối với công chúng hiện đại. Cuối tập phim, bài hát ballad kết thúc đã mượn lời khuyên nổi tiếng của Polonius trong Hamlet về việc không nên vay hay cho vay tiền.

Tập "Beer" giới thiệu hình ảnh Nữ hoàng Elizabeth cải trang để đi uống bia cùng thần dân, mô phỏng hành động cải trang của Vua Henry V trong đêm trước trận Agincourt. Ở tập "Chains", sự xuất hiện của Lord Melchett dưới cương vị Lord Chamberlain phản ánh một chi tiết lịch sử thực tế: vào cuối triều đại Elizabeth I, người nắm giữ chức vụ Lord Chamberlain là Henry Carey, em họ của Nữ hoàng và đồng thời là người bảo trợ cho đoàn kịch của Shakespeare (The Lord Chamberlain's Men). Lời thoại trong tập này cũng trích dẫn trực tiếp từ King Lear về việc con người chỉ như những bộ phận nhạy cảm trước các vị thần.

Blackadder the Third (1987) tập trung châm biếm tính chất tự phụ của giới diễn viên kịch nghệ và những mê tín trong nhà hát thông qua tập phim "Sense and Senility".

Bối cảnh lịch sử thời kỳ Nhiếp chính (Regency) được khắc họa chân thực qua cuộc bạo động của một người thuộc phong trào Luddite (do Ben Elton thủ vai). Kẻ vô chính phủ này ném bom vào Thái tử George và hét lớn yêu cầu đập tan máy dệt Spinning Jenny, thiêu rụi nàng Rosalind lăn lộn và tiêu diệt Gertrude lên xuống dịch chuyển. Lời thoại này là một sự kết hợp ngôn ngữ cực kỳ tinh tế giữa máy móc công nghiệp thời kỳ đầu và tên các nhân vật nữ nổi tiếng của Shakespeare (Rosalind trong As You Like It và Gertrude trong Hamlet). Vụ tấn công khiến Thái tử George rơi vào trạng thái hoang tưởng cực độ, liên tục cố gắng siết cổ Baldrick mỗi khi thấy hắn dọn dẹp, mặc dù Baldrick chỉ đang làm những công việc dọn dẹp bình thường như lau giày, cọ cà rốt và bắp cải một cách vô hại trong góc phòng.

Để cải thiện hình ảnh trước công chúng, Edmund đề xuất Thái tử viết một bài phát biểu và thuê hai diễn viên kịch tự phụ Keanrick (Hugh Paddick) và Mossop (Kenneth Connor) đến dạy hùng biện. Sự tương tác giữa Edmund và hai diễn viên này đã bộc lộ những trò đùa sâu cay nhất về sự mê tín sân khấu đối với "vở kịch Scotland" (Macbeth). Mỗi khi Edmund cố tình nói từ "Macbeth", hai diễn viên bắt buộc phải thực hiện trò vỗ tay pattycake và tụng câu chú trừ tà đau đớn:

"Hot potato, orchestra stalls, Puck will make amends!" ( "Khoai tây nóng, hàng ghế khán giả, Puck sẽ chuộc lỗi!")

Nghiên cứu về lịch sử phát sóng cho thấy sự tranh luận thú vị xung quanh phụ đề của câu chú này: bản DVD tại Mỹ ghi là "orchestra stalls, Puck will make amends" (nhắc đến nhân vật Puck trong A Midsummer Night's Dream), bản DVD tại Anh ghi là "off his drawers, pluck to make amends" (phù hợp với hành động nhổ tóc mũi gây đau đớn của hai diễn viên), trong khi bản phát sóng gốc của BBC ghi là "orchestra stalls, but we'll make amends!". Chi tiết Baldrick kể rằng chú của mình từng đóng vai "chiếc bao che hạ bộ thứ hai" (second codpiece) trong vở Macbeth càng làm tăng tính châm biếm đối với sự thiêng liêng của tác phẩm này.

Màn kịch nội bộ mà Keanrick và Mossop tập luyện có tên "The Bloody Murder of the Foul Prince Romero and His Enormously Bosomed Wife" là sự giễu nhại phóng đại các vở bi kịch trả thù đẫm máu của Shakespeare. Buổi diễn thử mở đầu bằng câu thoại đầy kịch tính về mùa xuân đến cùng những cơn mưa dịu dàng. Khi Edmund quyết định bỏ việc vì bị xúc phạm và đặt cược với Baldrick rằng hắn không thể tự xoay xở trong 5 phút, anh đã quay lại sau đúng 4 phút 22 giây để thu tiền cược. Trong thời gian ngắn ngủi đó, Baldrick vì không hiểu bản chất của kịch nghệ nên đã tưởng lầm buổi diễn thử của hai diễn viên là một âm mưu ám sát Thái tử George ngoài đời thực. Edmund đã lợi dụng sự kém cỏi trong việc phân biệt hư cấu và thực tại của Thái tử để buộc tội hai diễn viên phản quốc, sử dụng chính kịch bản của họ làm bằng chứng tội phạm, dẫn đến việc họ bị bắt giữ và hành quyết. Điều này cho thấy văn bản kịch nghệ trong thế giới Blackadder không chỉ là nghệ thuật, mà còn là công cụ chính trị nguy hiểm có thể bị bóp méo bởi những kẻ có quyền lực.

Bên cạnh đó, tập phim còn giễu nhại vở Julius Caesar qua chi tiết Thái tử George hét lên cảnh báo Caesar nhìn lại phía sau trong cảnh ám sát , và việc nhân vật Brutus được thủ vai bởi một diễn viên tên Kemp – một sự gợi nhắc đến William Kempe, diễn viên hài nổi tiếng trong đoàn kịch của Shakespeare.

Tầm ảnh hưởng của Shakespeare đối với Blackadder đạt đến chiều sâu lý thuyết mới trong các tác phẩm ngoại truyện, nơi loạt phim trực tiếp giải cấu trúc địa vị thần thánh của nhà văn trong văn hóa đại chúng.

Trong bản phác thảo kịch ngắn tại buổi hòa nhạc từ thiện Hysteria 2 (1989), Hugh Laurie đóng vai Shakespeare và Rowan Atkinson đóng vai người đại diện văn học. Bản phác thảo châm biếm cách thức các kiệt tác văn học bị bóp méo bởi áp lực thương mại và thị hiếu khán giả bình dân. Người đại diện khuyên Shakespeare rút ngắn vở Hamlet bằng cách cắt bỏ các bài độc thoại dông dài, cho rằng không ai thích nhân vật Hamlet cả mà chỉ quan tâm đến bóng ma, các trận đấu kiếm và một cô nàng điên mặc váy mỏng tự tử. Những gợi ý biên tập ngớ ngẩn của người đại diện đã vô tình tạo ra câu thơ chứa phép ẩn dụ hỗn độn nổi tiếng về việc cầm vũ khí chống lại biển cả đầy rẫy những tai ương. Cuối cùng, Shakespeare đồng ý cắt giảm bài phát biểu của Hamlet với điều kiện được giữ lại phân cảnh những gã đào mộ nói giọng Cockney và màn diễn với chiếc sọ người. Đoạn hội thoại kết thúc bằng lời tiên tri đầy châm biếm khi hai người thách thức xem lịch sử sẽ ghi nhớ ai.

Sự phê phán mang tính giải cấu trúc này đạt đến đỉnh điểm trong phim điện ảnh đặc biệt Blackadder: Back & Forth (1999). Khi Edmund du hành thời gian về thế kỷ XVI và gặp gỡ William Shakespeare (do Colin Firth thủ vai), anh đã xin chữ ký của nhà văn rồi đấm thẳng vào mặt ông. Hành động bạo lực này được giải thích là sự trả thù cho hàng triệu học sinh trong suốt bốn trăm năm sau phải khổ sở trên ghế nhà trường để cố tìm kiếm một trò đùa trong vở A Midsummer Night's Dream và là sự trừng phạt cho bản dựng điện ảnh dài bốn tiếng không cắt giảm của Kenneth Branagh cho vở Hamlet. Trong một dòng thời gian lịch sử bị thay đổi sau đó, Edmund đã chúc mừng Shakespeare vì đã viết nên một vở King Lear vô cùng hài hước.

Nhìn chung, cách Blackadder đối xử với Shakespeare không nhằm mục đích hạ thấp ông. Ngược lại, để khán giả có thể bật cười trước những mảng miếng giễu nhại này, bản thân họ phải có một sự am hiểu nhất định về di sản của đại thi hào. Bằng việc bóc trần những hào quang hàn lâm, gỡ bỏ sự sùng bái thái quá từ hệ thống giáo dục, Blackadder đã giải phóng Shakespeare khỏi sự khô khan của sách vở, đưa ông trở về đúng với vị trí ban đầu: một phần đầy sống động, gần gũi và bình dân của văn hóa đại chúng.[27]

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Bản mẫu:Harvnb; Bản mẫu:Harvnb; Bản mẫu:Harvnb.
  2. ^ Bản mẫu:Harvnb
  3. ^ Bản mẫu:Harvnb.
  4. ^ Bản mẫu:Harvnb; Bản mẫu:Harvnb; Bản mẫu:Harvnb
  5. ^ Bản mẫu:Harvnb; Bản mẫu:Harvnb.
  6. ^ Bản mẫu:Harvnb.
  7. ^ Bản mẫu:Harvnb.
  8. ^ Bản mẫu:Harvnb.
  9. ^ Bản mẫu:Harvnb; Bản mẫu:Harvnb; Bản mẫu:Harvnb
  10. ^ Bản mẫu:Harvnb.
  11. ^ Bản mẫu:Harvnb; Bản mẫu:Harvnb.
  12. ^ Bản mẫu:Harvnb.
  13. ^ Bản mẫu:Harvnb.
  14. ^ Bản mẫu:Harvnb.
  15. ^ Bản mẫu:Harvnb
  16. ^ Bản mẫu:Harvnb
  17. ^ Nancy Mitford, Charlotte Mosley, Love from Nancy: the letters of Nancy Mitford, trang 253
  18. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, The Works of Lord Macaulay, Complete: Critical and historical essays, trang 504
  19. ^ René Wellek, A History of Modern Criticism: The later eighteenth century, các trang 36-38.
  20. ^ David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 146
  21. ^ Stanley W. Wells, Sarah Stanton, The Cambridge companion to Shakespeare on stage, trang 184
  22. ^ Mike Featherstone, Undoing culture: globalization, postmoderism and identity, trang 28
  23. ^ a ă Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed and Letters, trang 370
  24. ^ Neil Rhodes, Shakespeare and the Origins of English, trang 216
  25. ^ Ludwig Reiners, Frederick the Great: a biography, trang 274
  26. ^ T. C. W. Blanning, The Culture of Power and the Power of Culture: Old Regime Europe 1660-1789, trang 218
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Thư mục

Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.

  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Mike Featherstone, Undoing culture: globalization, postmoderism and identity, SAGE, 1995. ISBN 0-8039-7606-2.
  • Eliakim Littell, Robert S. Littell, Making of America Project, The living age..., Tập 148, Littell, son & company, 1881.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”..

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Side box Trang Mô đun:Side box/styles.css không có nội dung.

  1. đổi Bản mẫu:Find a Grave

Bản mẫu:Navbox