Wituland (còn được gọi là Witu, Vitu, Xứ bảo hộ Witu hoặc Swahililand) là một lãnh thổ ở Đông Phi với diện tích khổang 3,000 km2, với trung tâm là thị trấn Witu, vùng đất này nằm trên bờ biển Ấn Độ Dương, phía trong cảng Lamu, phía bắc sông Tana. Ngày nay, lãnh thổ này là một phần của Kenya.

Vương quốc Hồi giáo Witu
Tên bản ngữ
  • Wituland
k. 1810[1]–1905/1923
Trái: Quốc kỳ thời Sultan Fumobakari (1890)
Phải: Quốc kỳ dưới thời Anh bảo hộ (1893–1920)
Bản đồ thể hiện vị trí của Wituland trên Ấn Độ Dương
Bản đồ thể hiện vị trí của Wituland trên Ấn Độ Dương
Tổng quan
Vị thế1810–1885:
Nhà nước Độc lập
1885–1890:
Đế quốc Đức bảo hộ
1890–1905/1923:
Đế quốc Anh bảo hộ
Thủ đôWitu
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Swahili · Tiếng Arab
Tôn giáo
Hồi giáo
Chính trị
Chính phủChế độ quân chủ
Mafulme 
• 1810s - 1848
Bwana Mataka
• 7/1895 – 1923
Fumo `Umar ibn Ahmad
Lịch sử 
• Thành lập
k. 1810[1]
• Giải thể
1905/1923
Kế tục
Thuộc địa Kenya

Sự chấm dứt của Wituland

Năm 1905, việc quản lý Wituland được chuyển từ Bộ Ngoại giao sang Bộ Thuộc địa. Kể từ đó, Wituland được quản lý như một phần của quận Tana thuộc Xứ bảo hộ Duyên hải Kenya. Sau khi Umari ibn Hamid qua đời vào năm 1923, việc Witu tồn tại như một thực thể độc lập đã chính thức kết thúc.

Danh sách các vị cai trị

Các vị Sultan đã được ghi nhận trong lịch sử Wituland (được gọi là mfalume trong tiếng Swahili) gồm:

  • Thập niên 1810 – 1848: Bwana Mataka
  • 1848 – 1858: Mohammed Sheikh (con trai của Bwana Mataka)[2]
  • 1858 – 1888: Ahmad ibn Fumo Bakari
  • 1888 – 1890: Fumo Bakari ibn Ahmad
  • 1890 – 1891: Bwana Shaykh ibn Ahmad
  • 1891 – 1893: Fumo Umar ibn Ahmad (lần thứ nhất)
  • 1893 – 7 tháng 7 năm 1895: Khuyết ngôi
  • 7 tháng 7 năm 1895 – 1923: Fumo Umar ibn Ahmad (lần thứ hai)

Xem thêm

Liên kết ngoài

Tham khảo

  1. ^ Ylvisaker, Margeret (1982). "THE IVORY TRADE IN THE LAMU AREA, 1600–1870". Paideuma: Mitteilungen zur Kulturkunde. 28 (28): 221–231. JSTOR 41409885.
  2. ^ Ylvisaker, Margeret (1982). "THE IVORY TRADE IN THE LAMU AREA, 1600–1870". Paideuma: Mitteilungen zur Kulturkunde. 28 (28): 221–231. JSTOR 41409885.