Cá bống vân mây

(Đổi hướng từ Yongeichthys criniger)

Cá bống vân mây, danh pháp: Yongeichthys nebulosus,[2][3] là một loài cá biển-nước lợ thuộc chi Yongeichthys trong họ Cá bống trắng. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1775.

Cá bống vân mây
Rhinoglbius lungi (=Y. nebulosus)
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Gobiiformes
Họ: Gobiidae
Chi: Yongeichthys
Loài:
Y. nebulosus
Danh pháp hai phần
Yongeichthys nebulosus
(Forsskål, 1775)
Các đồng nghĩa
Danh sách
    • Gobius nebulosus Forsskål, 1775
    • Gobius brevifilis Valenciennes, 1837
    • Gobius criniger Valenciennes, 1837
    • Gobius petersii Steindachner, 1866
    • Gobius auchenotaenia Bleeker, 1867
    • Gobius festivus De Vis, 1884
    • Rhinogobius lungi Jordan & Seale, 1907

Từ nguyên

Tính từ định danh nebulosus trong tiếng Latinh nghĩa là "mù sương, nhiều mây"), hàm ý đề cập đến lớp vảy thô màu sẫm của loài cá này (được Forsskål mô tả là như "đám mây đen").[4]

Phân bố và môi trường sống

Cá bống vân mây có phân bố rộng khắp vùng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, từ Đông Phi trải dài về phía đông đến quần đảo Société, giới hạn phía bắc đến miền nam Nhật Bản và phía nam đến Úc.[1] Ở Việt Nam, loài này được biết đến tại sông Thu Bồn[5]cù lao Chàm (Đà Nẵng),[6] vịnh Vân Phong (Khánh Hòa).[7]

Cá bống vân mây sống ở tầng đáy, được tìm thấy trên nền đáy bùncát gần ám tiêu và trong vũng thủy triều, cả rừng ngập mặn, cửa sông và có thể tiến vào sông, độ sâu đến ít nhất là 30 m.[1]

Mô tả

Chiều dài lớn nhất được ghi nhận ở cá bống vân mây là 18 cm.[8] Đầu và thân có màu trắng nhạt đến xám nâu nhạt, nhiều đốm nhỏ màu nâu vàng đến nâu nhạt với các sọc mờ dọc theo lưng và thân. Có 3 đốm lớn màu nâu ở giữa hai bên thân (đốm cuối cùng nằm trên gốc vây đuôi). Có 2 vạch nâu mờ từ mắt kéo dài qua hàm và má.[9]

Số gai vây lưng: 7; Số tia vây lưng: 8–10; Số gai vây hậu môn: 1; Số tia vây hậu môn: 9–10; Số tia vây ngực: 18–19.[9]

Cá độc

Cá bống vân mây có mang độc tính tetrodotoxin (TTX), đã gây ngộ độc cho người và cả vật nuôi ở nhiều vùng ven biển miền Trung Việt Nam.[10] Enterobacter cloacaRahnella aquatilis là hai vi khuẩn cộng sinh đã sản sinh TTX ở loài cá bống này.[11]

Hàm lượng TTX trên mỗi cá thể tăng đáng kể trong thời kỳ sinh sản, phần lớn tích trữ ở buồng trứng; ngược lại, hàm lượng TTX ở da cao nhất vào cuối thời kỳ sinh sản.[12]

Phân loại

Bộ gen ty thể của cá bống vân mây đã được giải trình tự.[13]

Tham khảo

  1. ^ a b c Larson, H.; Allen, G.; Williams, J. T. & Sparks, J. S. (2017). "Yongeichthys nebulosus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2017: e.T186090A1810055. doi:10.2305/IUCN.UK.2017-3.RLTS.T186090A1810055.en. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2025.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  2. ^ Trần Công Thịnh; Võ Văn Phú; Nguyễn Phi Uy Vũ; Bùi Đức Lĩnh (2020). "Đa dạng thành phần loài cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang" (PDF). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản. Quyển 2. tr. 97–111. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2023.
  3. ^ Võ Văn Quang; Lê Thị Thu Thảo; Nguyễn Phi Uy Vũ; Trần Công Thịnh (2013). "Đặc điểm quần xã và hiện trạng nguồn lợi cá vùng Bình Cang và Nha Phu, tỉnh Khánh Hòa" (PDF). Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế Biển Đông 2012. tr. 286–293.
  4. ^ Christopher Scharpf, biên tập (2025). "Order Gobiiformes: Family Gobiidae". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
  5. ^ Nguyễn Thị Tường Vi; Lê Thị Thu Thảo; Bùi Thị Ngọc Nở; Võ Văn Quang (2015). "Kết quả bước đầu nghiên cứu khu hệ cá cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 15 số 1. tr. 55–66. doi:10.15625/1859-3097/15/1/4501. ISSN 1859-3097.
  6. ^ Nguyễn Văn Long; Mai Xuân Đạt (2020). "Đặc trưng nguồn lợi cá trong các hệ sinh thái ở khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An" (PDF). Vietnam Journal of Marine Science and Technology. Quyển 20 số 1. tr. 105–120. doi:10.15625/1859-3097/13553. ISSN 1859-3097.
  7. ^ Trần Thị Hồng Hoa; Võ Văn Quang; Nguyễn Phi Uy Vũ; Lê Thị Thu Thảo; Trần Công Thịnh (2014). "Thành phần loài cá khai thác ở vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa" (PDF). Tuyển Tập Nghiên Cứu Biển. Quyển 20. tr. 70–88. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2025.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  8. ^ Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Acentrogobius nebulosus trên FishBase. Phiên bản tháng 2 năm 2026.
  9. ^ a b Helen K. Larson (2022). "Gobiidae". Trong Phillip C. Heemstra; E. Heemstra; David A. Ebert; W. Holleman; John E. Randall (biên tập). Coastal fishes of the western Indian Ocean (quyển 5) (PDF). South African Institute for Aquatic Biodiversity. tr. 155.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết)
  10. ^ Đào Việt Hà; Đỗ Tuyết Nga (2006). "Độc tính tetrodotoxin (TTX) của cá bống vân mây Yongeichthys nebulosus (Forsskål 1775) thu tại Khánh Hòa". Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 6 số 1. doi:10.15625/1859-3097/6/1/6364. ISSN 1859-3097.
  11. ^ Wei, Fen; Ma, Tinglong; Gong, Xiaoling; Zhang, Na; Bao, Baolong (2015). "Identification of tetrodotoxin-producing bacteria from goby Yongeichthys criniger". Toxicon. Quyển 104. tr. 46–51. doi:10.1016/j.toxicon.2015.07.335. ISSN 0041-0101.
  12. ^ Tatsuno, Ryohei; Shikina, Miwako; Soyano, Kiyoshi; Ikeda, Koichi; Takatani, Tomohiro; Arakawa, Osamu (2013). "Maturation-associated changes in the internal distribution of tetrodotoxin in the female goby Yongeichthys criniger". Toxicon. Quyển 63 số 1. tr. 64–69. doi:10.1016/j.toxicon.2012.11.009. ISSN 0041-0101.
  13. ^ Hu, Yonglai; Bao, Baolong; Gong, Xiaoling (2017). "The complete mitochondrial genome sequence of Yongeichthys criniger and phylogenetic studies of Gobiidae". Mitochondrial DNA Part A. doi:10.3109/19401736.2015.1118080. ISSN 1940-1736.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).