Ý Tĩnh Quý phi
| Ý Tĩnh Quý phi 懿靖贵妃 | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Tống Thần Tông Quý phi | |||||
| Quý phi Đại Tống (truy phong) | |||||
| Truy phong | Không rõ thời gian | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Phối ngẫu | Tống Thần Tông Triệu Húc | ||||
| |||||
| Tước hiệu | Hiền phi (贤妃) (truy phong) Quý phi (贵妃) (truy phong) | ||||
| Hoàng tộc | Nhà Tống | ||||
| Thân phụ | Dương Công[1] | ||||
Ý Tĩnh Quý phi Dương thị (chữ Hán: 懿靖贵妃杨氏, ? - ?), còn được gọi là Dương Hiền phi (杨賢妃).[2] Là phi tần của Tống Thần Tông Triệu Húc trong lịch sử Trung Quốc.
Tiểu sử
Ý Tĩnh Quý phi Dương thị (杨氏), Tống sử không ghi chép rõ về ngày tháng năm sinh, gia thế cũng như cha mẹ của Dương thị. Vốn ban đầu Dương thị là thiếp thất từ trước khi đăng cơ của Tống Thần Tông,[2][3] nhưng không rõ thời gian bà nhập tiềm để. Thời gian ở tiềm để Dương thị đã qua đời nhưng không rõ năm, có thể là trước năm Trị Bình thứ 4 (1067).
Năm Trị Bình thứ 4, Tống Anh Tông băng hà, cùng năm Dĩnh vương Triệu Húc đăng cơ, sử gọi [Tống Thần Tông]. Tuy Thần Tông đã đăng cơ nhưng suốt 18 năm dưới thời ông, không có bất kỳ ghi chép nào về việc truy tặng cho Dương thị. Đến dưới thời Tống Huy Tông, tháng 8 năm Sùng Ninh thứ 4 (1105), Huy Tông mới truy tặng thứ mẫu Dương thị làm Hiền phi (贤妃).[2][3]
Theo cuốn sách Tống Đại Chiếu Lệnh Tập (宋大诏令集), có ghi chép "Cố Hiền phi Dương thị tặng Quý phi ban thụy Ý Tĩnh chế", qua đó có thể biết sau này Tống Huy Tông lại tiếp tục truy tặng cho Dương Hiền phi làm Quý phi, thụy hiệu Ý Tĩnh (懿靖), gọi là Ý Tĩnh Quý phi (懿靖贵妃).[4]
Chiếu văn viết:
| “ | (Nguyên văn tiếng Trung)
昔我神考,御于家邦。深惟三代受命之君,必先女德。稽若二南正始之道,以协国风。选建列妃,辅成阴教。朕仰稽先烈,克广德心。其于褒崇,义所兼尽。故贤妃杨氏,顷缘嫔则之茂,选预掖庭之良。虽不有年,尚存遗范。朕肇禋先帝于清庙,弥极孝思。顾念元丰之旧人,矧惟邦媛,尽裒恤典,追贲礼容。其陟增成之尊,序膺褕翟之列。慎终追远,庶以答扬先烈之馀。节惠易名,抑以奉顺神灵之贶。焜耀蕃渥,昭明等威。谥法:温善柔克曰懿,慎守其德曰静。合此二名,诏于百世。维是春秋窀穸之事,既极哀荣。庶几山河象服之仪,以称容德。可特赠贵妃,仍赐谥懿静。 (Phiên âm Hán Việt) Tích ngã Thần khảo, ngự vu gia bang. Thâm duy tam đại thụ mệnh chi quân, tất tiên nữ đức. Khê nhược Nhị Nam chính thủy chi đạo, dĩ hiệp quốc phong. Tuyển kiến liệt phi, phụ thành âm giáo. Trẫm ngưỡng khê tiên liệt, khắc quảng đức tâm. Kỳ vu bao sùng, nghĩa sở kiêm tẫn. Cố Hiền phi Dương thị, khoảnh duyên tần tắc chi mậu, tuyển dự dịch đình chi lương. Tuy bất hữu niên, thượng tồn di phạm. Trẫm triệu nhân Tiên đế vu thanh miếu, di cực hiếu tư. Cố niệm Nguyên Phong chi cựu nhân, thận duy bang viện, tẫn bưu tuất điển, truy bí lễ dung. Kỳ trắc Tăng Thành chi tôn, tự ưng Dao Địch chi liệt. Thận chung truy viễn, thứ dĩ đáp dương tiên liệt chi dư. Tiết huệ dịch danh, ức dĩ phụng thuận thần linh chi huấn. Côn diệu phồn ốc, chiêu minh đẳng uy. Thụy pháp: Ôn thiện nhu khắc viết Ý, thận thủ kỳ đức viết Tĩnh. Hợp thử nhị danh, chiếu vu bách thế. Duy thị xuân thu truân tịch chi sự, ký cực ai vinh. Thứ kỷ sơn hà tượng phục chi nghi, dĩ xưng dung đức. Khả đặc tặng Quý phi, nhược tứ thụy Ý Tĩnh. (Giải nghĩa) Xưa kia Hoàng khảo ta trị vì đất nước. Ngẫm sâu thấy các bậc vua chúa nhận thiên mệnh thời Tam Đại, hẳn phải lấy đức hạnh của nữ giới làm đầu. Xét tới cái đạo mở đầu cho sự chỉnh đốn phong hóa ở thiên Nhị Nam, là để hòa hợp với phong khí của đất nước. Chọn lựa và thiết lập các thứ vị Phi, giúp sức hoàn thiện sự giáo hóa nơi hậu cung. Trẫm ngẩng trông và xét theo công nghiệp của người đi trước, rộng mở lòng đức. Việc ban tặng nghĩa thưởng khen tôn sùng, lễ nghĩa đều phải vẹn toàn. Cố Hiền phi Dương thị, trước đây nhờ phép tắc ứng xử nơi hậu phi vô cùng tốt đẹp, được tuyển lựa vào hàng hiền lương trong hậu cung. Tuy tuổi thọ không dài, nhưng hình mẫu đạo đức để lại vẫn còn đó. Trẫm bắt đầu tế lễ Tiên đế nơi miếu đường thanh tĩnh, lòng hiếu thảo tưởng nhớ càng thêm sâu sắc. Ngoảnh lại tưởng nhớ đến người cũ thời niên hiệu Nguyên Phong, huống chi lại là người phụ nữ quý phái của đất nước, gom hết các điển lễ thương xót, dâng tặng nghi lễ trang trọng để làm rạng rỡ. Hãy thăng lên địa vị cao quý ngang điện Tăng Thành, xếp vào hàng ngũ được khoác lễ phục Dao Địch. Cẩn trọng việc tang lễ, truy niệm người đã xa, mong sao đáp lại và gióng giả nét đẹp thừa hưởng từ người đi trước. Theo xem xét công đức để ban tên thụy, cũng là để vâng theo sự ban phước của thần linh. Làm rực rỡ thêm ân huệ dồi dào, làm sáng tỏ thứ bậc và uy nghiêm. Phép đặt tên thụy quy định: Ôn hòa, thiện lương, dùng sự mềm mỏng để nhiếp phục gọi là "Ý"; Cẩn trọng giữ vẹn cái đức của mình gọi là "Tĩnh". Hợp hai chữ ấy lại, ban chiếu công bố cho muôn đời sau. Về chuyện an táng nơi lăng mộ theo thời gian, nay đã đến độ vô cùng đau thương và vinh hiển. Cầu mong nghi lễ trang phục có hình sông núi này, sẽ xứng đáng với dung mạo và đức hạnh ấy. Nay đặc biệt truy tặng làm Quý phi, và ban tên thụy là Ý Tĩnh. |
” |
| — Chiếu văn truy tặng Cố Hiền phi Dương thị làm Ý Tĩnh Quý phi[4] | ||
Xem thêm
Chú thích
- ^ Trong tiếng Trung "Công" là chỉ người đàn ông, thường dùng cho những người đàn ông không rõ tên
- ^ a b c 《Hoàng Tống Thập Triều Cương Yếu - Quyển 8》 Hiền phi Dương thị: Tháng Tám năm Sùng Ninh thứ tư, chiếu bằng vì là tằn thẩm [vợ của hoàng tử/hoàng thúc] thời ở phiên đệ [phủ đệ khi chưa lên ngôi] của Vĩnh Dụ Lăng [Tống Thần Tông], nên đặc biệt hạ chiếu truy tặng. Tiệp dư Chu thị: Ban đầu phong Nam Dương Quận quân [...] (Gốc) 《皇宋十朝纲要·卷八》贤妃杨氏 崇宁四年八月.诏以永裕陵藩邸嫔嬸故特诏赠之 婕妤朱氏 初封南阳郡君[……]
- ^ a b 《Tống Hội Yếu Tập Cáo - Hậu Phi Tứ》, ngày 13 tháng Năm năm Sùng Ninh thứ nhất [...] Tháng Tám năm thứ tư, chiếu bằng truy tặng Dương thị làm Hiền phi, ấy là vì việc ở tiệm phiên của Hỉ Lăng [Tống Thần Tông] vậy. Ngày 16 tháng Hai năm Chính Hòa thứ nhất [...] (Gốc) 《宋会要辑稿·后妃四》崇宁元年五月十三日[……]四年八月,诏杨氏追赠贤妃,以及事禧陵潜藩故也。政和元年二月十六日[……]
- ^ a b 《Tống Đại Chiếu Lệnh Tập - Quyển 24》 Chế văn truy tặng Cố Hiền phi Dương thị làm Quý phi, ban thụy hiệu Ý Tĩnh [...] (Gốc) 《宋大詔令集·卷第二十四》故贤妃杨氏赠贵妃赐谥懿静制[……]