Bước tới nội dung

9×19mm Parabellum

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “other uses”.

9×19mm Parabellum
 Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “InfoboxImage”.
Kiểu đạn Súng ngắn
Quốc gia chế tạo  Đế quốc Đức
Lịch sử phục vụ
Quốc gia sử dụng  Đức
 NATO
và những nước khác
Sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cùng nhiều cuộc xung đột khác
Lịch sử chế tạo
Nhà thiết kế Georg Luger
Năm thiết kế 1901
Giai đoạn sản xuất 1902 – Nay
Biến thể
  • 9 mm NATO
  • 9×19mm Parabellum +P
  • 9×19mm 7N21 +P+
  • 9×19mm 7N31 +P+
  • Thông số
    Vỏ đạn gốc 7.65×21mm Parabellum
    Kiểu vỏ đạn Không vai, hình trụ, có rãnh móc vỏ đạn
    Đường kính đạn Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Đường kính cổ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Đường kính dưới Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Đường kính vành Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Độ dày vành Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Chiều dài vỏ đạn Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Chiều dài tổng thể Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Dung tích vỏ đạn 0.862 cm³ (13 gr H2O)
    Kiểu hạt lửa Berdan or Boxer small pistol
    Áp suất tối đa Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Thông số đường đạn
    Trọng lượng / Kiểu đạn Sơ tốc Năng lượng
    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. FMJ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. FMJ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. JHP Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. JHP +P Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. JHP +P+ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.
    Source: Sellier & Bellot,[1] Vihtavuori Reloading Guide 2009,[2] Buffalo Bore,[3] C.I.P.,[4] Cor-Bon[5]

    9×19mm Parabellum (hay còn được gọi là 9mm Parabellum, 9mm Luger, 9mm NATO hoặc đơn giản chỉ là 9mm) là cỡ đạn có vỏ không gờ, hạt lửa ở tâm, thân vỏ côn.

    Cỡ đạn do nhà thiết kế vũ khí người Áo Georg Luger thiết kế và giới thiệu vào năm 1901[6]nó được coi là cỡ đạn dành cho súng ngắnsúng tiểu liên phố biến nhất do chi phí thấp, uy lực cao và dễ dàng tiếp cận.[7][8][9] Cỡ đạn 9mm tương đối nhỏ và gọn nên dễ mang theo, đồng thời thường có độ giật thấp và độ chính xác tốt.[10]

    Cuốn Cartridges of the World nhận xét rằng 9x19mm Parabellum là "loại đạn súng ngắn quân dụng được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất thế giới"."[7]

    Nguồn gốc

    Cỡ đạn được thiết kế bởi nhà thiết kế vũ khí người Áo Georg Luger vào năm 1901. Mẫu đạn sử dụng phần vỏ gốc từ mẫu đạn trước đó được thiết kế của Luger là 7.65×21mm Parabellum, vốn cũng dựa trên cỡ đạn được sử dụng bởi khẩu súng ngắn Borchardt C-93 là (7.65×25mm Borchardt). Việc rút ngắn chiều dài vỏ đạn dùng trong súng ngắn Borchardt đã cho phép Luger cải tiến thiết kế khóa bản lề (toggle lock) và tích hợp một tay cầm nhỏ hơn, có góc nghiêng.

    Các thay đổi trên giúp Luger cải tiến súng ngắn Borchardt thành mẫu súng ngắn Luger, vốn được phác thảo lần đầu năm 1898 và sử dụng cỡ đạn 7.65×21mm Parabellum. Nhu cầu từ quân đội Đức về một loại súng ngắn quân dụng có cỡ đạn lớn hơn đã thúc đẩy Luger phát triển đạn 9×19mm Parabellum cho khẩu súng ngắn P08. Điều này được thực hiện bằng cách loại bỏ phần cổ chai của vỏ đạn 7.65×21mm Parabellum, tạo ra một loại đạn không gờ, có vỏ hình côn, chứa đầu đạn đường kính 9 mm.

    Năm 1902, Luger giới thiệu loại đạn 9×19mm mới trước Ủy ban Vũ khí bộ binh Anh. Đến năm 1903, ông gửi ba nguyên mẫu súng lục sử dụng cỡ đạn này cho Quân đội Hoa Kỳ thử nghiệm tại Xưởng vũ khí Springfield. Hải quân Đế quốc Đức chính thức tiếp nhận loại đạn vào năm 1904, và đến năm 1908, Lục quân Đế quốc Đức cũng chấp nhận, biến nó trở thành loại đạn tiêu chuẩn cho súng ngắn trong quân đội Đức đầu thế kỷ 20.[7]

    Để tiết kiệm chì trong Thế chiến II, Đức đã thay thế lõi chì bằng lõi sắt bọc chì. Loại đạn này, được nhận biết bằng vỏ áo đầu đạn màu đen, được định danh là 08 mE (tiếng Đức: mit Eisenkern — ‘lõi sắt’). Đến năm 1944, quy định vỏ áo đen của đầu đạn 08 mE bị bỏ, và loại đạn này được sản xuất với vỏ áo đồng màu đồng đỏ thông thường. Một biến thể thời chiến khác được định danh là đầu đạn 08 sE, có thể nhận diện bằng vỏ áo màu xám đậm, được chế tạo bằng cách nén bột sắt ở nhiệt độ cao thành vật liệu rắn.[11]

    Parabellum là viết tắt của câu ngạn ngữ Latinh Si vis pacem, para bellum (nghĩa là Nếu muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh) mà DWM lấy làm khẩu hiệu và địa chỉ điện tín của mình.[12][13]

    Độ phổ biến

    Sau khi Thế chiến I kết thúc, độ phổ biến của đạn 9×19mm Parabellum ngày càng gia tăng cùng với sự xuất hiện của các mẫu súng ngắn bán tự độngsúng tiểu liên trong trang bị của nhiều quân đội và lực lượng thực thi pháp luật trên thế giới.[14]

    Từ thập niên 1980 đến 1990, độ phổ biến của súng ngắn bán tự động tại Hoa Kỳ tăng mạnh trong cả lực lượng thực thi pháp luật lẫn quân đội. Xu hướng này đã được dự báo từ việc Cảnh sát Bang Illinois trang bị mẫu súng ngắn Smith & Wesson Model 39 vào năm 1968. Bên cạnh đó, quân đội Mỹ cũng chính thức đưa vào biên chế khẩu Beretta M9 (phiên bản quân sự của Beretta 92) vào năm 1985. Trước đó, phần lớn sở cảnh sát Mỹ sử dụng các loại súng ổ quay dùng cỡ đạn .38 Special và .357 Magnum với băng đạn 5 hoặc 6 viên. Trong số đó, .38 Special được ưa chuộng hơn so với các loại vũ khí khác như biến thể của M1911 vì nó có độ giật thấp, nhỏ gọn và nhẹ, phù hợp với nhiều đối tượng sử dụng, đồng thời giá thành rẻ.[15] Đạn 9×19mm có tính năng đạn đạo vượt trội so với đạn súng ổ quay .38 Special,[16]ngắn hơn,Và vì là loại đạn dành cho súng bán tự động, nên nó được nạp trong hộp tiếp đạn dẹt, trái ngược với súng ổ quay vốn sử dụng bộ nạp nhanh hình trụ. Điều này, cùng với sự xuất hiện của những khẩu súng ngắn 9 mm thế hệ mới (được gọi là ‘wonder nines’), đã khiến nhiều sở cảnh sát tại Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ XX chuyển từ súng ổ quay sang các loại súng ngắn bán tự động cỡ 9 mm.[15] Đạn 9×19mm Parabellum đã trở thành loại đạn phổ biến nhất được các cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ sử dụng, chủ yếu nhờ sự sẵn có của các loại súng ngắn nhỏ gọn, dễ kiểm soát và có hộp tiếp đạn lớn dùng loại đạn này.[17]

    Năm 2013, một biểu đồ về mức độ phổ biến của các loại đạn do trang web Luckygunner.com công bố cho thấy 9×19mm Parabellum chiếm 21,4% tổng thị phần đạn dược, theo sau là .223 Remington với 10,2% (nếu tính cả 5,56 mm thì đạt 15,7%). Loại đạn phổ biến tiếp theo là .45 ACP.[18]

    Thông số cỡ đạn

    Ba loại đầu đạn: không bọc (chì), bọc kim loại, và đạn chóp rỗng

    Thông số cỡ đạn 9×19mm Parabellum.[19] Mọi kích cỡ tính theo đơn vị mm.

    Đạn 9×19mm Parabellum có dung tích vỏ đạn 0,86 ml (tương đương 13,3 grain H2O).

    Loại đạn này tựa đầu (headspace) tại miệng vỏ đạn.[20] Bước xoắn nòng thông dụng của loại đạn này là 250 mm (1 vòng mỗi 9,84 in), với 6 rãnh khương tuyến, đường kính gờ = 8,82 mm, đường kính rãnh = 9.02 mm, bề rộng gờ = 2,49 mm, và loại hạt lửa sử dụng là small pistol.

    Theo quy định của C.I.P., vỏ đạn 9×19mm Parabellum có thể chịu được áp suất tối đa 235 MPa (Pmax) đo bằng phương pháp piezo. Ở các quốc gia áp dụng chuẩn C.I.P., mọi tổ hợp súng – đạn ngắn đều phải trải qua quá trình thử bắn kiểm định (proof test) ở mức 130% áp suất cực đại này trước khi được phép lưu hành thương mại. Do đó, các loại vũ khí sử dụng đạn 9×19mm Parabellum tại các nước C.I.P. hiện nay (2014) đều phải được thử nghiệm ở áp suất 305,50 MPa (PE) bằng phương pháp piezo.[19]

    Giới hạn áp suất của SAAMI đối với đạn 9×19mm Parabellum được ấn định ở mức 241,32 MPa (đo bằng piezo).[21]

    Tham khảo

    Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

    1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    6. ^ Hogg, Ian V.; Weeks, John S. (2000). Military Small Arms of the 20th Century (7th Edition), p. 40. Krause Publications.
    7. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    8. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    15. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    17. ^ CCI/Speer Inc. (2007). Reloading Manual #14. ISBN 978-0-9791860-0-4Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”..
    18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    19. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    20. ^ Wilson, R. K. Textbook of Automatic Pistols. Plantersville, South Carolina: Small Arms Technical Publishing Company, 1943. p. 239.
    21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

    Bản mẫu:Side box