Al-Hasakah (tỉnh)
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.Trang Bản mẫu:Thông tin khu dân cư/styles.css không có nội dung.
| Al Hasakah الحسكة | |
|---|---|
| — Tỉnh — | |
| Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found. | |
| Bản mẫu:Thông tin khu dân cư/cột | |
| Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Location map”. | |
| Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Location map”.Bản đồ Syria với Al Hasakah được tô màu nổi bật | |
| Tọa độ (Al-Hasakah): Bản mẫu:Geobox coor | |
| Quốc gia | |
| Người sáng lập | Bản mẫu:Wikidata |
| Đặt tên theo | Bản mẫu:Wikidata |
| Thủ phủ | Bản mẫu:Wikidata |
| Số huyện | : Bản mẫu:Comma separated entries |
| Chính quyền | |
| • Kiểu | Bản mẫu:Wikidata |
| Diện tích | Bản mẫu:Thông tin khu dân cư/areadisp |
| Dân số (2012) | |
| • Tổng cộng | 1.500.000 |
| • Mật độ | Bản mẫu:Thông tin khu dân cư/densdisp |
| Múi giờ | Bản mẫu:Wikidata |
| • Mùa hè (DST) | EEST (UTC+3) |
| Mã điện thoại | Bản mẫu:Wikidata |
| Mã ISO 3166 | Bản mẫu:Wikidata |
| Thành phố kết nghĩa | Bản mẫu:Wikidata |
| Các ngôn ngữ chính | tiếng Ả Rập, tiếng Kurd, Syria-Aram |
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Al-Hasakah (Bản mẫu:Langx / ALA-LC: Muḥāfaẓat al-Ḥasakah; Bản mẫu:Langx Bản mẫu:Transl) là một tỉnh ở cực đông bắc của Syria. Tỉnh có các vùng đất màu mỡ, nguồn nước đồi dào, thiên nhiên tươi đẹp và có trên một trăm di chỉ khảo cổ học. Nó bao gồm một phần của tỉnh Al-Jazira cũ.
Phía bắc giáp các tỉnh Şanlıurfa, Mardin và Şırnak của Thổ Nhĩ Kỳ, phía nam giáp tỉnh Deir ez-Zor, phía đông giáp các tỉnh Dohuk và Nineveh của Iraq, phía tây giáp tỉnh Ar-Raqqah.
Các huyện
Tỉnh được chia thành bốn huyện (Mintaqa's):
Chúng được chia tiếp thành một số phó huyện (nawahi).
Nhân khẩu
Cư dân của tỉnh Al Hasakah đa dạng về dân tộc và văn hóa, nhóm đông nhất là người Kurd và Assyria, các nhóm nhỏ hơn gồm người Ả Rập, người Armenia và các sắc tộc khác.[1][2] Năm 2007, dân số của tỉnh ước tính đạt 1.377.000 người.
Các đô thị nổi bật trong tỉnh và dân số ước tính năm 2006:[3]
- Qamishli: 82.129
- Al Hasakah: 81.809
- Amuda: 45.980
- Ra's Al Ein: 23.008
- Ad Darbasiyah: 21.865
- Al-Malikiyah: 18.448
Theo điều tra dân số năm 2004, Qamlishli có 232.258 cư dân, Al Hasakah có 254.622 cư dân, Ra's al 'Ayn có 121.708 cư dân và Al Malikiyah có 110.327 cư dân; song các con số này là của nawahi bao gồm các đô thị đó.
Khảo cổ
Sông Khabur chảy qua al-Hasakah với chiều dài Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”., nó đã chứng kiến sự ra đời của một số những nền văn minh cổ nhất trên thế giới. Các di chỉ khảo cổ nổi tiếng là:
- Hamoukar: được một số nhà khảo cổ học coi là thành phố cổ nhất trên thế giới
- Tell Halaf: Các cuộc khai quật đã khám phá ra các nền văn minh kế tiếp nhau, gốm tráng men thời kỳ đồ đá mới và các tác phẩm điêu khắp đẹp bằng đá bazan.
- Tell Brak: Nằm giữa thành phố al-Hasakah và đô thị biên giới al-Qamishli. Các cuộc khai quật đã khám phá ra đền Uyun và cung điện-thành trì của vua Naram-Sin.
- Tell el Fakhariya
- Tell Leilan: Được khai quật từ năm 1975 và đã phát hiện ra nhiều đồ tạo tác và côn trình có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 6 TCN như chợ, đền thờ, cung điện.
Tham khảo
- ^ Syria - Sunnis
- ^ Syria (05/07)
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.