Hòa Dụ Hoàng quý phi
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| Hoà Dụ Hoàng quý phi 和裕皇贵妃 | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Gia Khánh Đế Hoàng quý phi | |||||||||
| Quý phi Đại Thanh | |||||||||
| Tại vị | 16 tháng 5 năm 1808 - 28 tháng 9 năm 1820 | ||||||||
| Đăng quang | 27 tháng 12 năm 1808 | ||||||||
| Hoàng quý phi Đại Thanh (tôn phong) | |||||||||
| Tại vị | 29 tháng 9 năm 1820 - 27 tháng 1 năm 1834 | ||||||||
| Đăng quang | 18 tháng 1 năm 1821 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Dụ Hoàng quý phi | ||||||||
| Kế nhiệm | Như Hoàng quý thái phi | ||||||||
| Thông tin chung | |||||||||
| Sinh | 25 tháng 2, 1761 | ||||||||
| Mất | 27 tháng 1, 1834 (72 tuổi) Cát An sở, Bắc Kinh | ||||||||
| An táng | Xương lăng (昌陵), Phi viên tẩm | ||||||||
| Phối ngẫu | Thanh Nhân Tông Gia Khánh Hoàng đế | ||||||||
| Hậu duệ |
| ||||||||
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| |||||||||
| Tước hiệu | Cách cách (格格) Hàm phi (諴妃) Hàm Quý phi (諴贵妃) Hoàng khảo Hàm Hi Hoàng quý phi (皇考諴禧皇贵妃) | ||||||||
| Thân phụ | Lưu Phúc Minh | ||||||||
Hòa Dụ Hoàng quý phi (chữ Hán: 和裕皇贵妃; 25 tháng 2, năm 1761 - 27 tháng 4, năm 1834), Lưu Giai thị, xuất thân Bao y, là một phi tần của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế.
Thân thế
Hòa Dụ Hoàng quý phi mang họ [Lưu Giai thị; 刘佳氏], sinh ngày 21 tháng 1 (âm lịch), năm Càn Long thứ 26 (1761), xuất thân Bao y, bà là con gái của Bái đường a Lưu Phúc Minh (刘福明).
Đại Thanh tần phi
Gia Thân vương Thứ Phúc tấn
Những năm Càn Long, do là thân phận Bao y nữ tử, bà nhập Tiềm để của Thập ngũ a ca Vĩnh Diễm và trở thành Cách cách - danh vị dành cho các thị thiếp hàng thấp của các Hoàng tử, Vương công thời Thanh. Trong số những phi thiếp hầu hạ Gia Khánh Đế, bà là người có tư lịch lâu nhất.[1]
Năm Càn Long thứ 44 (1779), ngày 29 tháng 12, giờ Tỵ, Lưu Giai thị sinh hạ trưởng tử của Vĩnh Diễm, nhưng chưa kịp đặt tên thì sang năm sau (1780), ngày 6 tháng 3 người con trai ấy chết yểu. Năm Càn Long thứ 46 (1781), ngày 17 tháng 12, giờ Tỵ, bà sinh hạ Hòa Thạc Trang Kính Công chúa, con gái thứ ba của Vĩnh Diễm.
Sơ phong Hàm phi
Năm Gia Khánh nguyên niên (1796), Gia Khánh Đế đăng cơ. Ngày 4 tháng 1 (tức ngày 13 tháng 2 dương lịch) cùng năm, gia phong danh vị cho hậu cung, dựa theo tiền lệ của Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị mà đặc cách phong Cách cách Lưu Giai thị thành Hàm phi (諴妃)[2], địa vị xếp chỉ dưới Hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị và Quý phi Nữu Hỗ Lộc thị. Căn cứ theo Hồng xưng thông dụng (鸿称通用), phong hiệu "Hàm", mãn ngữ là 「Yargiyangga」có nghĩa là "Chân thực" hiểu theo nghĩa rộng là "Chân thành". Cùng ngày hôm đó, Gia Khánh Đế mệnh cho Lễ bộ Thượng thư Kỷ Quân (纪昀) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Trát Lang A (扎郎阿) làm Phó sứ, cử hành lễ sắc phong cho Hàm phi và bà cư ngụ ở Dực Khôn cung.[3]
Sách văn viết :
| “ | 政承修壸。荣分内治之隆。庆际膺图。德奉中宫之化。鸿禧克迓。象服攸宜。尔刘佳氏。式礼聿娴。秉心维粹。温恭成性。修紃组以甄仪。柔善流声。协珩璜而表度。皇帝嗣位初元。册立皇后。用以册印封尔为諴妃。尔其勤宣淑问。更懋赞乎坤仪。备着芳猷。用祗承乎巽命。钦此。兹朕遵奉太上皇帝敕旨。举行册封典礼。尚其敬膺无斁。 . |
” |
| — Sách văn Hàm phi Lưu Giai thị | ||
Thụ phong Quý phi
Năm Gia Khánh thứ 13 (1808), ngày 21 tháng 4 (ngày 16 tháng 5 dương lịch), Gia Khánh đế vui mừng vì có Hoàng trưởng tôn đầu tiên mà tấn phong Hàm phi lên làm Hàm Quý phi (諴贵妃). Ngày 11 tháng 11 năm đó, lấy Đại học sĩ Khánh Quế (庆桂) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Cáp Ninh A (哈宁阿) làm Phó sứ, hành Quý phi sách phong lễ.[4] Có thể thấy, sinh thời bà khá được lòng Gia Khánh Đế, trở thành Quý phi duy nhất được sách phong sau Hiếu Hoà Duệ Hoàng hậu, sau khi được phong Quý phi thì Gia Khánh Đế ban cho bà [5] .
Sách văn ghi :
| “ | 朕惟灵钟瓜瓞。祯符开五代之祥。化赞袆褕。吉事锡六宫之福。欣歌麟趾。式贲鸾章。咨尔諴妃刘佳氏、德协柔嘉。仪彰淑慎。承恩椒殿。已看九御攸崇。送喜桐阶。岂惟一人有庆。既延厘于宝祚。宜颁贶于瑶光。是用晋封尔为諴贵妃。锡之册命。尔其乡和懋迪。聿襄中壸以垂型。嘉瑞频仍。长奉宸轩而拜命。钦哉。 . Tư nhĩ Hàm phi Lưu Giai thị: Đức hiệp nhu gia. Nghi chương thục thận. Thừa ân tiêu điện, dĩ khán cửu ngự du sùng. Tống hỷ đồng giai, khởi duy nhất nhân hữu khánh. Ký diên ly vu bảo tộ. Nghi ban huống vu dao quang. Thị dụng tấn phong nhĩ vi Hàm Quý phi. Tích chi sách mệnh. Nhĩ kỳ hương hòa mậu địch. Duật tương trung khổn dĩ thùy hình. Gia thụy tần nhưng. Trường phụng thần hiên nhi bái mệnh. |
” |
| — Sách văn Hàm Quý phi Lưu Giai thị | ||
Cuối đời viên mãn
Năm Gia Khánh thứ 25 (1820), Gia Khánh Đế băng hà, Đạo Quang Đế thừa di chiếu lên ngôi. Ngày 23 tháng 8 (ngày 29 tháng 9 dương lịch) cùng năm, Hoàng đế tôn bà làm Hoàng khảo Hàm Hi Hoàng quý phi (皇考諴禧皇贵妃), bên cạnh đó Đạo Quang Đế còn truy tặng con trai chết yểu của bà làm Mục Quận vương (穆郡王). Năm Gia Khánh thứ 25 (1821), Ngày 15 tháng 12 (âm lịch - tức ngày 18 tháng 1) năm ấy, lấy Lễ bộ Tả Thị lang Thiện Khánh (善庆) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Kỳ Anh (耆英) làm Phó sứ, hành Hoàng khảo Hoàng quý phi sách phong lễ.[6]
Sách văn:
| “ |
推恩自近。芳徽聿著于彤闱。尚齿为先。顺德允昭于紫籞。式稽彝典。用贲崇封。皇考諴贵妃刘佳氏。懿质柔嘉。婉心迪哲。既承乾而矢恪。益体巽以含章。襄壸教者有年。辛勤柘馆。奉宸光于早岁。申锡椒涂。爰循显号之文。用集受绥之庆。书策志諴和之美。钦令望以弥彰。乐歌隆禧福之膺。介嘉祥于勿替。谨以册宝尊为皇考諴禧皇贵妃。于戏。翚衣表度。光昭玉篆之书。鹤发垂型。彩焕金函之字。谨言。 . Thôi ân tự cận. Phương huy duật trứ vu đồng vi. Thượng xỉ vi tiên. Thuận đức duẫn chiêu vu tử 籞. Thức kê di điển. Dụng bí sùng phong. Hoàng khảo Hàm Quý phi Lưu Giai thị. Ý chất nhu gia. Uyển tâm địch triết. Kí thừa càn nhi thỉ khác. Ích thể tốn dĩ hàm chương. Tương khổn giáo giả hữu niên. Tân cần chá quán. Phụng thần quang vu tảo tuế. Thân tích tiêu đồ. Viên tuần hiển hào chi văn. Dụng tập thụ tuy chi khánh. Thư sách chí 諴 hòa chi mỹ. Khâm lệnh vọng dĩ di chương. Nhạc ca long hi phúc chi ưng. Giới gia tường vu vật thế. Cẩn dĩ sách bảo tôn vi Hoàng khảo Hàm Hi Hoàng quý phi. Vu hí! Huy y biểu độ. Quang chiêu ngọc triện chi thư. Hạc phát thùy hình. Thải hoán kim hàm chi tự. Cẩn ngôn. |
” |
| — Sách văn Hoàng khảo Hàm Hi Hoàng quý phi | ||
Năm Đạo Quang thứ 14 (1834), ngày 18 tháng 12 (ngày 27 tháng 1 dương lịch), Hàm Hi Hoàng quý phi Lưu Giai thị bệnh mất ở Cát An sở (吉安所), hưởng thọ 73 tuổi, Đạo Quang Đế truy thụy cho bà là Hòa Dụ Hoàng quý phi (和裕皇贵妃), mãn ngữ là 「hūwaliyasun elgiyen」. Căn cứ theo tài liệu của Nội vụ phủ, thụy hiệu "Hòa Dụ" của bà nghĩa là "hòa ái phú dụ" ý chỉ "ôn hòa"; "giàu có".[7]
Năm Đạo Quang thứ 15 (1835), ngày 8 tháng 9 (âm lịch), kim quan của Hòa Dụ Hoàng quý phi được di dời tới Thanh Tây lăng, sang ngày 18 tháng 9 (âm lịch), vào giờ Dậu, kim quan của bà nhập táng vào Phi viên tẩm của Xương lăng.[8]
Hậu duệ
- Mục Quận vương [穆郡王; 1780], con trai trưởng của Gia Khánh Đế. Sinh ngày 29 tháng 12 năm Càn Long thứ 44, mất ngày 6 tháng 3 năm Càn Long thứ 45.
- Hòa Thạc Trang Kính Công chúa [和碩莊敬公主; 1781 - 1811], con gái thứ ba của Gia Khánh Đế. Sinh ngày 17 tháng 12 năm Càn Long thứ 46, mất ngày 12 tháng 3 năm Gia Khánh thứ 16. Hạ giá lấy Tác Đặc Nạp Mộc Đa Bố Tể (索特纳木多布济), Quận vương của Khoa Nhĩ Thấm, Mông Cổ.
Trong văn hóa đại chúng
| Năm | Phim ảnh | Diễn viên | Nhân vật |
| 2018 | Thiên mệnh | Trần Tự Dao | Lưu Giai Tình Nhi |
Xem thêm
Chú thích
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ 根据后来道光帝的说法,她“侍奉皇考最久,年齿亦尊。”
- ^ Theo điển lệ của Thanh triều, Cách cách từ tiềm để sơ phong vị trí cao nhất là Tần vị. Trong lịch sử, chỉ có Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu của Ung Chính được đặc cách phong Hi phi và Hòa Dụ Hoàng quý phi của Gia Khánh phong Hàm phi
- ^ Trích Thanh sử cảo, phần hậu phi liệt truyện
- ^ 嘉庆帝晋封諴妃为諴贵妃册文:命大学士庆桂为正使。内阁学士哈宁阿为副使。持节赍册宝、册封諴妃刘佳氏为諴贵妃。册文曰、朕惟灵钟瓜瓞。祯符开五代之祥。化赞袆褕。吉事锡六宫之福。欣歌麟趾。式贲鸾章。咨尔諴妃刘佳氏、德协柔嘉。仪彰淑慎。承恩椒殿。已看九御攸崇。送喜桐阶。岂惟一人有庆。既延厘于宝祚。宜颁贶于瑶光。是用晋封尔为諴贵妃。锡之册命。尔其乡和懋迪。聿襄中壸以垂型。嘉瑞频仍。长奉宸轩而拜命。钦哉。
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ 道光帝尊封諴贵妃为皇考皇贵妃册文:命礼部左侍郎善庆、内阁学士耆英、恭赍册宝。尊封仁宗睿皇帝諴贵妃刘佳氏为諴禧皇贵妃。册文曰。推恩自近。芳徽聿著于彤闱。尚齿为先。顺德允昭于紫籞。式稽彝典。用贲崇封。皇考諴贵妃刘佳氏。懿质柔嘉。婉心迪哲。既承乾而矢恪。益体巽以含章。襄壸教者有年。辛勤柘馆。奉宸光于早岁。申锡椒涂。爰循显号之文。用集受绥之庆。书策志諴和之美。钦令望以弥彰。乐歌隆禧福之膺。介嘉祥于勿替。谨以册宝尊为皇考諴禧皇贵妃。于戏。翚衣表度。光昭玉篆之书。鹤发垂型。彩焕金函之字。谨言。
- ^ 道光十三年进入十二月以来,諴禧皇贵妃卧病不起,十八日病势转重,移至吉安所。当天晚上,諴禧皇贵妃逝于吉安所,享寿七十三岁,加谥曰和裕皇贵妃。和裕满文作“hūwaliyasun elgiyen“,意为”和蔼富裕“。
- ^ 道光十五年九月初八日,和裕皇贵妃金棺奉移清西陵,九月十八日酉时,奉安昌陵妃园寝。
- Thanh sử cảo - Hậu phi truyện