Bản mẫu:For multi

Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam

Hải Dương là một tỉnh cũ thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng thuộc khu vực Bắc Bộ Việt Nam, Tỉnh tồn tại trong hai giai đoạn: Từ năm 1831 đến năm 1968 và từ ngày 6 tháng 11 năm 1996 đến ngày 12 tháng 6 năm 2025 (nay tương ứng với phần phía tây và phía bắc của Thành phố Hải Phòng).

Tỉnh Hải Dương chính thức bị giải thể vào ngày 12 tháng 6 năm 2025 sau khi Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Hải Dương được sáp nhập vào thành phố Hải Phòng.[1] Trước khi giải thể, Hải Dương là đơn vị hành chính đông dân thứ 8 cả nước với 2.196.095 người.[2] Năm 2024, quy mô kinh tế của tỉnh đạt 212.386 tỉ đồng, đứng thứ 11 cả nước và GRDP bình quân đầu người đạt 107,4 triệu đồng, tương đương 4.456 USD.[3]

Địa lý

Vị trí địa lý

Hải Dương là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, trải dài từ 20°43' đến 21°14' độ vĩ Bắc, 106°03' đến 106°38' độ kinh Đông, trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 57 km về phía tây, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 45 km về phía đông, có vị trí địa lý:

Các điểm cực của tỉnh Hải Dương

  • Điểm cực Bắc tại: xã Hoàng Hoa Thám, thành phố Chí Linh.
  • Điểm cực Tây tại: xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Giàng.
  • Điểm cực Đông tại: phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn.
  • Điểm cực Nam tại: xã Hồng Phong, huyện Thanh Miện.

Địa hình

Hải Dương có diện tích 1.668,28 km², là tỉnh có diện tích trung bình trong số các tỉnh thành ở Việt Nam, được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc của tỉnh thuộc thành phố Chí Linh và thị xã Kinh Môn, chiếm khoảng 11% diện tích tự nhiên. Đây là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

Khí hậu

Hải Dương nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 Mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, mùa Thu, Đông).

Vào giai đoạn từ tiết lập xuân đến tiết thanh minh (khoảng đầu tháng 2 - đầu tháng 4 dương lịch) có hiện tượng mưa phùnnồm là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm.

  • Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.300 – 1.700 mm. Các huyện, thị phía Bắc tỉnh có lượng mưa thấp dưới 1500mm do địa hình khuất dãy núi Đông Triều và dãy núi Kinh Môn. Khu vực phía Bắc tỉnh Hải Dương cùng với phía Đông tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn, phía Đông tỉnh Cao Bằng là những khu vực khuất gió mùa mùa hạ, nhận được ít hơi ẩm, nên lượng mưa trung bình năm thường thấp hơn các nơi khác cùng ở miền Bắc. Thành phố Hải Dương có lượng mưa trung bình năm thấp nhất so cùng các thành phố ở vùng đồng bằng sông Hồng.
  • Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C
  • Số ngày trời nắng trong năm: 1.600 - 1750 giờ (cao ở các huyện phía Bắc, giảm dần tại các huyện phía Nam)
  • Độ ẩm tương đối trung bình: 77 – 88%

Khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả, đặc biệt là sản xuất cây rau màu vụ đông.

Tài nguyên

Các khoáng sản chính:

  • Đá vôi xi măngKinh Môn, trữ lượng 200 triệu tấn, hàm lượng CaCO3 từ 90 - 97%. Đủ để sản xuất 4 đến 5 triệu tấn xi măng/năm trong thời gian 50 - 70 năm.
  • Cao lanh ở Kinh Môn, Chí Linh trữ lượng 400.000 tấn, hàm lượng Fe2O3: 0,8 - 1,7%; Al2O3: 17 - 19% cung cấp nguyên liệu cho sản xuất đồ sứ.
  • Đất sét chịu lửa ở Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt; hàm lượng Al2O3: 23,5 - 28%, Fe2O3: 1,2 - 1,9% cung cấp nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa.
  • Bô xít ở Kinh Môn, trữ lượng 200.000 tấn; hàm lượng Al2O3: từ 46,9 - 52,4%, Fe2O3: từ 21 - 26,6%; SiO2 từ 6,4 - 8,9%.

Lịch sử

Xuất xứ tên gọi Hải Dương

Tập tin:Thành Hải Dương.JPG
Thành Hải Dương - Thành Đông năm 1885, một trong 4 thành trong Thăng Long tứ trấn

Tên gọi Hải Dương (海陽) chính thức có từ năm 1469. Hải (海) là biển. Dương (陽) là mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là "mặt trời biển Đông" hay "ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về".

Thời phong kiến (trước năm 1887), Hải Dương là một miền đất rộng lớn, phía tây đến Bần Yên Nhân, Đạo Khê - bên cầu Lực Điền (thuộc Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), phía đông đến vùng biển An Dương (nay thuộc thành phố Hải Phòng), phía bắc từ Trạm Điền xuống núi Tam Ban, Yên Tử (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), phía nam đến Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo. Miền đất Hải Dương luôn ở vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong "Dư địa chí", Nguyễn Trãi đã đánh giá Hải Dương là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là phên giậu phía đông của kinh thành Thăng Long.

Lỵ sở của Hải Dương

Tập tin:Hai Duong tk 20.jpg
thành phố Hải Dương thời Pháp thuộc

1.Từ thời Hùng Vương đến cuối thời Trần, lỵ sở của Hải Dương đặt thành Dền (Ngọc Lặc, Tứ Kỳ).

2.Từ cuối đời Trần đến năm 1740, lỵ sở chuyển sang đặt tại Dinh Vạn (Thành Vạn) thuộc thôn Kiều Quan, xã Mặc Động, huyện Chí Linh.

3.Từ năm 1740-41 (sau cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ở đất Ninh Xá) đến năm 1804, lỵ sở đặt ở ở Dinh Dậu (Mao Điền - Cẩm Giàng)

4.Từ năm 1804 đến nay đặt ở Thành Đông (trấn Hàm), huyện Cẩm Giàng (nay là thành phố Hải Dương).

Như vậy, khu vực Thành Dền có lịch sử lâu đời; trong khi Chí Linh cũng có thời gian là lỵ sở Hải Dương khá dài trên dưới 400 năm.

Lịch sử hành chính

Đời Hùng Vương, địa bàn tỉnh Hải Dương ngày nay thuộc bộ Dương Tuyền, thời nhà Tần thuộc Tượng quận, thời nhà Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời Đông Ngô thuộc Giao Châu, nhà Đường đặt ra Hải Môn trấn, sau đổi thành Hồng Châu.

Nhà Đinh chia làm đạo, vùng Hải Dương vẫn mang tên là Hồng Châu, nhà Tiền Lê cũng theo như nhà Đinh.

Thời Nhà Lý đổi thành lộ Hồng, sau đổi thành lộ Hải Đông.

Đến thời Nhà Trần đổi lại thành lộ Hồng, rồi lại đổi thành lộ Hải Đông. Sau đó đổi làm 4 lộ: Hồng Châu thượng, Hồng Châu hạ và Nam Sách thượng, Nam Sách hạ, (còn gọi chung là Nam Sách Giang).

Năm Quang Thái thứ 10 (1397), vua Trần Thuận Tông đổi lộ Hải Đông thành trấn Hải Đông.

Thời kỳ thuộc Minh (1407-1427), vùng đất Hải Dương thuộc hai phủ Lạng Giang và Tân An.

Thời Nhà Hậu Lê, niên hiệu Thuận Thiên (1428-1433), vua Lê Thái Tổ cho thuộc Đông Đạo.

Khoảng niên hiệu Diên Ninh (1454-1459), vua Lê Nhân Tông chia lại thành 2 lộ là Nam Sách thượng và Nam Sách hạ.

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông đặt thừa tuyên Nam Sách.

Năm 1469 đổi làm thừa tuyên Hải Dương. Danh xưng Hải Dương chính thức ra đời, lúc này Lỵ sở đặt tại Trấn Doanh Vạn, Ải Vạn (hay còn gọi là Dinh Vạn) Xã Mạc Động huyện Chí Linh đây là trung tâm hành chính của thừa tuyên Hải Dương đến năm 1739.

Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi làm xứ Hải Dương.

Năm Hồng Thuận thứ nhất (1509), vua Lê Tương Dực đổi làm trấn Hải Dương.

Từ năm 1527 đến năm 1592, Nhà Mạc gọi là đạo Hải Dương. Năm 1529, Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) trao ngôi vua cho con là Mạc Đăng Doanh còn Mạc Đăng Dung làm Thái thượng hoàng về Cổ Trai, lấy Nghi Dương làm Dương Kinh, trích phủ Thuận An ở Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình ở Sơn Nam cho lệ thuộc vào Dương Kinh.

Đời nhà Lê trung hưng, khoảng niên hiệu Quang Hưng (1578-1599), vua Lê Thế Tông đổi làm trấn theo nguyên như cũ.

Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), vua Lê Hiển Tông chia làm 4 đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Đông Triều và An Lão.

Nhà Tây Sơn đem phủ Kinh Môn thuộc Hải Dương đổi thuộc vào Yên Quảng.

Tập tin:Hai Duong 1891.jpg
Bản đồ tỉnh Hải Dương năm 1891

Năm 1802, vua Gia Long đem Kinh Môn thuộc về trấn cũ và cho lệ thuộc vào Bắc Thành.

Năm 1804, đời vua Gia Long, lỵ sở Hải Dương được chuyển từ Mao Điền (Cẩm Giàng) về phía đông 15 km thuộc tổng Hàn Giang, huyện Cẩm Giàng, đặt trên vùng đất cao thuộc ngã ba sông Thái Bình và sông Sặt với mục tiêu trấn thành án ngữ vùng biên hải phía đông Kinh đô Thăng Long, vì vậy có tên gọi là Thành Đông, nghĩa là đô thành ở phía đông (nay là Thành phố Hải Dương ).

Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi phủ Thượng Hồng làm phủ Bình Giang, phủ Hạ Hồng làm phủ Ninh Giang, còn hai đạo Đông Triều và An Lão thì đặt làm hai huyện.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) chia thành một tỉnh độc lập và đổi làm tỉnh Hải Dương gồm 5 phủ và 19 huyện.

Tập tin:CaptureHaiDuong.jpg
Giao chiến tại thành Hải Dương giữa thực dân Pháp và quan binh Hải Dương. Khi Adrien - Paul Balny d'Avricourt chỉ huy quân Pháp đi trên chiến hạm Espignole đổ bộ đánh chiếm Hải Dương trong Chiến tranh Pháp - Đại Nam diễn ra từ năm 1858 đến năm 1884
Tập tin:Province de Hai-Duong (1909).jpg
Bản đồ tỉnh Hải Dương năm 1909

Năm 1887, thực dân Pháp tách một số huyện ven biển của Hải Dương, đặt thành tỉnh Hải Phòng. Ngày 19 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hải Phòng và Hà Nội - thành phố Hải Phòng chính thức có tên trên bản đồ Liên bang Đông Dương. Theo sắc lệnh thành phố Hải Phòng được tách ra từ tỉnh Hải Phòng, phần còn lại của tỉnh Hải Phòng lập thành tỉnh Kiến An.

Năm 1923, Toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập thành phố Hải Dương.

Tập tin:Thi tran ninh giang.jpg
Thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thời Pháp thuộc. Phu Ninh Giang Rue principale
Tập tin:Haiduong - Le Chateau d'Eau de la Residence.jpg
Hải Dương trong một bưu thiếp của Pháp đầu thế kỷ 20

Tháng 3 năm 1947, chia thành phố Hải Dương thành 2 quận rồi trở về thành thị xã.

Năm 1968, tỉnh Hải Dương sáp nhập với Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, tỉnh lỵ là thị xã Hải Dương.

Năm 1977, hợp nhất 2 huyện Cẩm GiàngBình Giang thành huyện Cẩm Bình.

Năm 1979, hợp nhất 2 huyện Gia LộcTứ Kỳ thành huyện Tứ Lộc; hợp nhất 2 huyện Kim ThànhKinh Môn thành huyện Kim Môn; hợp nhất 2 huyện Nam SáchThanh Hà thành huyện Nam Thanh; hợp nhất 2 huyện Ninh GiangThanh Miện thành huyện Ninh Thanh.

Ngày 27 tháng 1 năm 1996, chia 2 huyện Tứ Lộc và Ninh Thanh thành 4 huyện như cũ.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tái lập tỉnh Hải Dương từ tỉnh Hải Hưng. Khi tách ra, tỉnh Hải Dương có 9 đơn vị hành chính gồm thị xã Hải Dương và 8 huyện: Cẩm Bình, Chí Linh, Gia Lộc, Kim Môn, Nam Thanh, Ninh Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ.

Ngày 17 tháng 2 năm 1997, chia lại các huyện Cẩm Bình, Kim Môn và Nam Thanh thành 6 huyện như cũ.

Ngày 6 tháng 8 năm 1997, chuyển thị xã Hải Dương thành thành phố Hải Dương.

Ngày 17 tháng 5 năm 2009, thành phố Hải Dương được công nhận là đô thị loại II.

Ngày 12 tháng 2 năm 2010, chuyển huyện Chí Linh thành thị xã Chí Linh.

Ngày 1 tháng 3 năm 2019, chuyển thị xã Chí Linh thành thành phố Chí Linh.

Ngày 17 tháng 5 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 580/QĐ-TTg công nhận thành phố Hải Dương mở rộng đạt tiêu chí đô thị loại I trực thuộc tỉnh Hải Dương.

Ngày 1 tháng 11 năm 2019, chuyển huyện Kinh Môn thành thị xã Kinh Môn.

Tỉnh Hải Dương có 2 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện như hiện nay.

Giải thể và sáp nhập

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.[1] Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Hải Dương được sáp nhập vào thành phố Hải Phòng. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành ngay từ ngày được thông qua, chính thức chấm dứt sự tồn tại của tỉnh Hải Dương như một đơn vị hành chính độc lập sau gần 200 năm kể từ khi thành lập tỉnh vào năm 1831. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử hành chính của vùng đất Xứ Đông, mở ra một giai đoạn phát triển mới trong tổng thể thành phố Hải Phòng mở rộng.[4]

Hành chính

Trước khi giải thể, tỉnh Hải Dương có 12 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện với 207 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 46 phường, 10 thị trấn và 151 xã.[2]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Hải Dương (đến tháng 6/2025)
Tên Dân số (người) Diện tích (km²) Hành chính
Thành phố (2)
Hải Dương 508.190 111,64 18 phường, 6 xã
Chí Linh 220.421 282,91 14 phường, 5 xã
Thị xã (1)
Kinh Môn 203.638 165,33 14 phường, 8 xã
Huyện (9)
Bình Giang 145.535 104,70 1 thị trấn, 14 xã
Cẩm Giàng 158.859 108,95 2 thị trấn, 13 xã
Tên Dân số (người) Diện tích (km²) Hành chính
Gia Lộc 115.670 99,70 1 thị trấn, 13 xã
Kim Thành 165.782 112,90 1 thị trấn, 13 xã
Nam Sách 167.089 109,02 1 thị trấn, 14 xã
Ninh Giang 190.077 135,40 1 thị trấn, 15 xã
Thanh Hà 136.858 140,70 1 thị trấn, 15 xã
Thanh Miện 183.485 122,32 1 thị trấn, 16 xã
Tứ Kỳ 152.541 165,32 1 thị trấn, 19 xã

Dân số

Bản mẫu:Historical populations

Tính đến thời điểm ngày 31/12/2022, tỉnh Hải Dương có diện tích đất tự nhiên là 1.668,28 km², quy mô dân số là 2.119.076 người.[5][6][7][8][9]

Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2024, dân số tỉnh Hải Dương tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2024 là 1.971.326 người.Lỗi chú thích: Tham số "ref" không hợp lệ trong thẻ <ref>. Các tham số được hỗ trợ là: dir, follow, group, name. dân số trung bình là 1.978.230 người,[10] trong đó dân số nam ước tính đạt khoảng 991.090 người chiếm (50,1%),[10] dân số nữ ước tính đạt khoảng 987.140 người chiếm (49,9%),[10] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 630.520 người chiếm (31,87%),[10] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 1.347.710 người chiếm (68,13%),[10] với mật độ dân số là 1.185 người/km².[10]

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, tỉnh Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.668,28 km², quy mô dân số là 2.196.095 người, với mật độ dân số là 1.316 người/km².[11][12][2]

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 6 tôn giáo khác nhau, đạt 62.274 người. Nhiều nhất là Công giáo có 52.812 người, tiếp theo là Phật giáo có 9.290 người, đạo Tin Lành có 163 người. Còn lại các tôn giáo khác như: Hồi giáo có bảy người, Phật giáo Hòa Hảođạo Cao Đài mỗi tôn giáo chỉ có một người.

Kinh tế

Tập tin:KdtDinhLongduongTruongChinhtpHaiduong.jpg
khu đô thị Đỉnh Long, phường Tân Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Theo số liệu từ Cục Thống kê tỉnh Hải Dương, tăng trưởng kinh tế năm 2024 của tỉnh ước đạt 10,2%, đứng thứ 6 toàn quốc. Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá hiện hành đạt 212.386 tỉ đồng, tiếp tục giữ vững vị trí thứ 11 trong bảng xếp hạng kinh tế các tỉnh, thành phố cả nước. GRDP bình quân đầu người ước đạt 107,4 triệu đồng/người, tương đương khoảng 4.456 USD.[3]

Động lực tăng trưởng chính của Hải Dương là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là sản xuất ô tô và phụ tùng ô tô, sản xuất trang phục, và các sản phẩm từ xi măng. Năm 2024, khu vực công nghiệp - xây dựng đóng góp hơn 7 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.

Tập tin:Truong Chinh street Hai Duong city.jpg
Đường Trường Chinh tổng chiều dài 3,4km, mặt cắt ngang 52m, là tuyến đường hiện đại bậc nhất thành phố Hải Dương hiện nay, có nhiệm vụ kết nối khu đô thị phía Tây, khu đô thị phía Nam, đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng với trung tâm hành chính thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), năm 2024, Hải Dương thu hút khoảng 808,3 triệu USD, nâng tổng vốn FDI lũy kế lên trên 8,3 tỉ USD.[13] Bên cạnh đó, tỉnh cũng chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt là các dự án giao thông trọng điểm.

Bước sang năm 2025, UBND tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt 12%, phấn đấu quy mô GRDP đạt 132.632 tỉ đồng, thu nhập bình quân đầu người tăng lên 120 triệu đồng. Kế hoạch này nhằm tạo đà cho Hải Dương trước khi chính thức sáp nhập vào thành phố Hải Phòng.[14]

Văn hóa

Ẩm thực

Các đặc sản, ẩm thực ở Hải Dương như: vải thiều Thanh Hà, bánh đa Lộ Cương, rươi Tứ Kỳ, thịt trâu chợ Vé, nếp cái hoa vàng Kinh Môn, rượu Phú Lộc, bún cá rô đồng, mắm cáy An Thanh, giò chả Gia Lộc, bánh gai Ninh Giang, củ đậu Kim Thành, bún tươi Đông Cận, chim cút Hà Tràng, na Hoàng Tiến, bánh cuốn Hàn Giang, cốm làng Thạc, táo thiện phiến Gia Lộc, bánh đậu xanh Hải Dương, bột sắn dây Kinh Môn, mì gạo Tống Buồng, thịt chó An Xá, giò chả Tân Hương, hành sấy Mạn Đê, gà đồi Chí Linh, cà rốt Đức Chính, chả ốc Thanh Miện, bánh đa nướng Kẻ Sặt, rươi Vĩnh Lập, nếp quýt Kim Thành, cau đông Thanh Hà, giò chả Thái Thịnh, giải ngó khoai Lê Hồng, gỏi cá mè Cẩm Hoàng, mì gạo Tống Buồng, ổi Liên Mạc, thịt chuột chợ Giống, bánh dày Gia Lộc, bánh lòng Huề Trì, dưa kiệu Ngọc Liên, mì gạo Hội Yên, rượu Văn Giang, hành tỏi Kinh Môn, bánh đa nướng Đào Lâm.

Di tích - danh thắng

Một số di tích được Bộ văn hóa thông tin xếp hạng (gắn liền với nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử hay văn hóa địa phương):

Lễ hội

Một số lễ hội chính gắn liền với nhân vật, sự kiện lịch sử và tục thờ mẫu, tứ phủ trong cộng đồng:

  • Lễ hội Côn Sơn 16-20 tháng Tám (Cộng Hòa, Chí Linh)
  • Lễ hội đền Kiếp Bạc 18-20 tháng Tám (Hưng Đạo, Chí Linh)
  • Lễ hội đền Cao 22-24 tháng Giêng (An Lạc, Chí Linh)
  • Lễ hội đền Yết Kiêu 15-1 (Thông Quát, Gia Lộc)
  • Lễ hội Tuần Tranh 14-2 (Đồng Tâm, Ninh Giang)

Nghệ thuật chèo ở Hải Dương

Trong Tứ chiếng chèo đồng bằng sông Hồng thì Hải Dương là trung tâm của chiếng chèo Đông (vùng đất gồm Hải Dương, Hải Phòng, đông Hưng Yên, tây Quảng Ninh ngày nay). Hải Dương là cái nôi chèo lớn của Việt Nam với những tên tuổi như Huyền Nữ Phạm Thị Trân và các cố NSND Trùm Thịnh, Trùm Bông, cố NSND Trịnh Thị Lan, cố NSND Nguyễn Thị Minh Lý, NSND Minh Huệ, NSND Thúy Mơ... Đặc biệt, Nghệ nhân Phạm Thị Trân đã được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Ưu Bà và giao cho việc dạy múa hát trong cung đình và cho quân lính. Bà được được ghi danh là Tổ nghề đầu tiên trong lịch sử sân khấu chèo Việt Nam.

Nghệ thuật chèo được hình thành từ thế kỷ 10 tại Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) dưới thời nhà Đinh. Ưu bà Phạm Thị Trân đã truyền dạy nghệ thuật chèo cho cung nữ và quân lính. Sau đó chèo phát triển rộng ra lãnh thổ Đại Cồ Việt (vùng châu thổ Bắc Bộ và các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh trở ra). Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình. Chèo trở về với nông dân, gắn liền với sinh hoạt đời sống, hội hè của người Việt.

Nghệ thuật chèo Đồng bằng sông Hồng trở thành cái nôi chèo với Tứ chiếng chèo Đông, Đoài, Nam, Bắc. Chiếng Chèo là những phường Chèo hoạt động trong một vùng văn hóa, địa lý nhất định. Phong trào hát chèo xưa phân vùng chèo châu thổ sông Hồng thành 4 chiếng chèo Đông, chèo Đoài, chèo Nam, chèo Bắc với kinh đô Thăng Long - Hà Nội ở vị trí trung tâm. Mỗi chiếng có những "ngón nghề" riêng, kỹ thuật riêng, khó lưu truyền và phát triển ra đến bên ngoài do sự khác nhau trong phong cách nghệ thuật dựa trên cơ sở dân ca, dân vũ và văn hóa địa phương, chỉ người trong chiếng mới diễn được với nhau. Chiếng chèo Đông gồm khu vực các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và phía đông bắc Hưng Yên.

Số liệu thống kê các hội diễn ở Hải Dương năm 2020 cho thấy có tới 80% số tiết mục là chèo, 20% số tiết mục còn lại là ca nhạc, múa. Có những đội chèo có tới trên 50 năm liên tục hoạt động như An Bình, Nam Hưng (Nam Sách), Nhân Quyền, Kiến Quốc (Bình Giang), An Lạc (Chí Linh), Bông Sen (Kinh Môn). Riêng ở xã An Bình từ một đội chèo của toàn xã, nay đã phát triển lên 4 CLB văn nghệ ở 4 thôn, mỗi CLB có trên 30 diễn viên, nhạc công, người trẻ nhất 30 tuổi, cao nhất 82 tuổi.

Nhà hát Chèo Hải Dương là đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp của tỉnh Hải Dương; có chức năng tổ chức biểu diễn, nghiên cứu, liên kết, hướng dẫn, truyền nghề về nghệ thuật chèo nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần bảo tồn và phát triển nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Giáo dục - Y tế

Giáo dục

Hải Dương là đất học từ xa xưa, vùng đất Xứ Đông này là quê hương của nhiều nho sĩ, Trạng nguyên Việt Nam và Thủ khoa Đại Việt. Trong thời kì phong kiến Hải Dương có 12 Trạng nguyên (tính theo đơn vị hành chính mới, 15 vị tính theo đơn vị hành chính cũ) đứng thứ hai cả nước (sau Bắc Ninh) và có 3 Thủ khoa Đại Việt, hàng ngàn tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa.

Nằm bên đường quốc lộ 5, cách thành phố Hải Dương 15 km về phía bắc, thuộc xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), văn miếu Mao Điền được biết tới là một trong số ít văn miếu hàng tỉnh còn tồn tại ở Việt Nam. Lịch sử của văn miếu bắt đầu từ hơn 500 năm về trước. Từ giữa thế kỷ 15 cho đến khoa thi cuối cùng của nhà Nguyễn, nơi đây trở thành nơi thi hương của vùng trấn Hải Dương. Đặc biệt trong thời Nhà Mạc (1527-1593) đã bốn lần tổ chức thi đại khoa ở Mao Điền. Chỉ đứng sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám, với hơn 500 năm tồn tại và thờ hơn 600 vị tiến sĩ, văn miếu Mao Điền đã trở thành niềm tự hào về truyền thống hiếu học của con người Xứ Đông.

Nền giáo dục hiện tại của Hải Dương được xem là một trong cái nôi đào tạo nhân tài của Việt Nam. Nhiều học sinh gốc từ Hải Dương đã đạt giải cao trong các kỳ thi Olympic Quốc tế. Trong kỳ thi toán Quốc tế, nổi bật như Đinh Tiến Cường huy chương vàng toán Quốc tế năm 1989 với số điểm tuyệt đối 42/42, hiện tại là giáo sư toán học tại Đại học Paris 6.

Tập tin:Trường trung cấp nghề Việt Nam - Canada.JPG
Trường trung cấp nghề Việt Nam - Canada. Phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Trong các kỳ thi Cao đẳng và Đại học, cũng như các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Hải Dương luôn trong nhóm dẫn đầu của Việt Nam.

Trên địa bàn Hải Dương có các trường Đại học và cao đẳng:

  1. Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương
  2. Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
  3. Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Cơ sở 3 Hải Dương
  4. Đại học Kinh tế kỹ thuật Hải Dương - Cơ sở Hải Dương
  5. Trường Đại học Hải Dương
  6. Trường Đại học Thành Đông
  7. Đại học Sao Đỏ - thành phố Chí Linh
  8. Trường Cao đẳng Licogi.
  9. Trường Cao đẳng Du lịch và Công thương
  10. Trường cao đẳng giao thông đường bộ
  11. Trường Cao Đẳng Nghề Hải Dương

Y tế

Ở Hải Dương có hàng chục bệnh viện phục vụ cho người dân, trong đó một số bệnh viện nổi bật như: 1.Bệnh viện Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương.

2.Bệnh viên Đa khoa tỉnh Hải Dương 3.Bệnh viện Quân Y 7.

4.Bệnh viện Nhi Hải Dương.

5.Bệnh viện Phụ sản Hải Dương.

6.Bệnh viện Nhiệt Đới Hải Dương.

7.Bệnh viện Mắt và da liễu Hải Dương.

8.Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương.

9.Bệnh viện Phổi Hải Dương.

10.Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương.

11.Bênh viện Đa khoa Hòa Bình.

12.Bệnh viện Tâm thần Hải Dương.

13.Bệnh viện Phong-Chí Linh.

14.Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhị Chiểu.

15.Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh (CDC Hải Dương).

16. Các Trung tâm Y tế của Thành phố, Thị xã và các huyện trong tỉnh.

17. Bệnh viện Mắt Quốc tế DND Hải Dương.

Văn hóa - thể thao

Văn hóa

Tập tin:Nhà hát chèo Hải Dương.jpg
Một buổi diễn của nhà hát Chèo Hải Dương

Hải Dương là một trong những vùng đất "địa linh nhân kiệt", vùng văn hoá và văn hiến tâm linh chính của cả nước. Theo dòng lịch sử đã để lại cho Hải Dương 1.098 di tích lịch sử, trong đó có 133 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và nhiều di tích được xếp hạng đặc biệt như Côn Sơn, Kiếp Bạc.

Hải Dương cũng là miền đất sinh ra và gắn liền với tên tuổi của nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá như: danh nhân quân sự thế giới Trần Hưng Đạo, một trong mười tướng tài trên thế giới, vị anh hùng dân tộc Việt Nam với chiến công hiển hách - ba lần chiến thắng quân Nguyên; Danh sư Chu Văn An, nhà giáo tài đức vẹn toàn, lịch sử tôn ông là nhà nho có đức nghiệp lớn nhất; Hai anh em cùng Đậu Tiến sĩ làm Quan đồng Triều thời Lý là Mạc Hiển Tích - Mạc Kiến Quang, Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, người có tầm tư tưởng vượt lên nhiều thế kỷ; Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với học vấn đứng đầu cả nước, ông đã góp phần làm dạng danh nước nhà; Đại danh y Tuệ Tĩnh, vị thánh thuốc nam được cả nước ngưỡng mộ; Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ, nữ tiến sĩ đầu tiên và duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam; Nhà toán học Vũ Hữu, tác giả của "Lập thành toán pháp"... Hải Dương cũng là quê hương của Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, cùng với Mạc Đĩnh Chi là những đại thần có tài đức, được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức đời Trần", được người đời khen tụng.

Trí tuệ, tài năng của người Hải Dương cũng đóng góp cho sử sách Việt Nam 486 tiến sĩ (tính theo đơn vị hành chính mới, 637 vị tính theo đơn vị hành chính cũ) trong tổng số 2.989 vị đỗ đại khoa qua các triều đại, chiếm 16% (22%) đứng đầu cả nước, tiêu biểu là làng Mộ Trạch (Bình Giang – Hải Dương) được gọi là "lò tiến sĩ xứ Đông" có 36 vị đỗ đại khoa, đứng đầu số người đỗ tiến sĩ tính theo đơn vị làng xã trong cả nước.

Vào thời Lê sơ, ở Hải Dương đã có trường thi và miếu thờ các vị đại nho, tiêu biểu là Văn miếu Mao Điền.

Tập tin:Nghĩa trang Liệt sĩ Hải Dương.jpeg
Nghĩa trang Liệt sĩ Hải Dương

Vùng đất Hải Dương hiện đang lưu giữ khối lượng lớn văn hoá vật thể và phi vật thể đa dạng, độc đáo với 1.098 di tích lịch sử, văn hoá, danh thắng. Từ những dấu ấn thời kỳ đồ đá cũ có niên đại trên 3.000 năm ở hang Thánh Hoá, núi Nhẫm Dương, đến những di chỉ, di vật có giá trị của thời đại đồ Ðồng tại Ðồi Thông (Kinh Môn), Hữu Chung (Tứ Kỳ), làng Gọp (Thanh Hà),... Văn hoá Lý, Trần, Lê, Nguyễn là dòng chảy liên tục và rực sáng trên vùng đất này, đã tạo nên một không gian văn hoá đặc biệt - nơi kết hợp hài hòa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với chiều sâu lịch sử và tâm linh với 127 di tích được xếp hạng quốc gia mà tiêu biểu là Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phượng Hoàng (Chí Linh). Chỉ trong một không gian chừng 5 km2 đã có hàng chục di tích lưu giữ những kỷ niệm về ba danh nhân nổi tiếng. Ðó là Trần Hưng Đạo - danh nhân quân sự, Nguyễn Trãi - danh nhân văn hoá, Chu Văn An - người thầy của muôn đời; cùng An Phụ, Kính Chủ (Kinh Môn) đã trở thành những di tích nổi tiếng của Hải Dương.

Hải Dương cũng một trong những cái nôi của nghệ thuật rối nước, hiện nay tại Hải Dương còn 2 phường rối nước là Phường rối nước Thanh Hải-Thanh Hà, và Hồng Phong. Gắn liền với đời sống người nông dân, rối nước đã trở thành niền tự hào không chỉ của người dân Hải Dương mà còn là niềm tự hào của con người Việt Nam.

Mỹ Xá cũng là nơi mà Việt Nam Quốc dân đảng đã họp dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Thái Học để phát động phong trào Khởi nghĩa Yên Bái chống lại thực dân Pháp vào tháng 2 năm 1930.

Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc: Là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam. Quần thể di tích này thuộc địa bàn thành phố Chí Linh. Nơi đây gồm quần thể các di tích lịch sử liên quan đến những chiến công lẫy lừng trong ba lần quân dân nhà Trần đánh thắng quân xâm lược Mông Nguyên thế kỷ XIII và trong cuộc kháng chiến 10 năm của nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minh ở thế kỷ XV. Đây là nơi gắn liền với thân thế, sự nghiệp của các vị anh hùng dân tộc như: Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo cùng nhiều danh nhân văn hoá của dân tộc: Mạc Hiển Tích - Mạc Kiến Quang, hai anh em cùng triều Lý. Nhà Ngoại giao đại tài, sứ thần dám bắn rụng mặt trời là Lưỡng Quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi hay Trần Nguyên Đán, Pháp Loa, Huyền Quang… Điểm nhấn của khu di tích này là Lễ hội ngày 10/2 Âm Lịch tại đền thờ Lưỡng Quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi ở Long Động, chùa Côn Sơnđền Kiếp Bạc.

Hải Dương có nhiều di tích là nơi thờ thánh Nguyễn Minh Không như: Chùa Trông (Hưng Long - Ninh Giang); đình Cao Dương (đình Hói) ở làng Cao Dương xã Gia Khánh và đình Hậu Bổng (đình Bóng) tại thôn Hậu Bổng, xã Quang Minh, huyện Gia Lộc; động Kính Chủphường Phạm Thái, đền Cao ở phường An Sinh, thị xã Kinh Môn. Nguyễn Minh Không (Lý Quốc Sư) (1065 - 1141) là một vị cao tăng đứng đầu tổ chức Phật giáo của triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Vì có nhiều công lớn chữa bệnh cho vua và nhân dân mà ông cùng với Trần Hưng Đạo là những nhân vật lịch sử có thật, sau này được người Việt tôn sùng là đức thánh Nguyễn, đức thánh Trần. Trong dân gian, Nguyễn Minh Không còn được coi là một vị thánh trong tứ bất tử ở Việt Nam và ông tổ nghề đúc đồng. Ông được xem là vị thiền sư sáng lập nên nhiều ngôi chùa nhất ở Việt Nam.

  • Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều khu di tích thờ Nguyên phi Ỷ Lan hay còn gọi là Linh Nhân Hoàng thái hậu (7 tháng 3, 1044 – 24 tháng 8, 1117) như: Đền Đươi (xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc) và đền Đồng Bào (xã Gia Xuyên, thành phố Hải Dương). Bà là phi tần của hoàng đế Lý Thánh Tông, mẹ ruột của hoàng đế Lý Nhân Tông trong lịch sử Việt Nam. Bà đã hai lần đăng đàn nhiếp chính, khiến đất nước dưới triều Lý được hưng thịnh, những đóng góp cho hoàng triều Lý nhất là về Phật giáo và tài năng trị nước của bà đều được sử gia khen ngợi và tán dương. Bên cạnh công lao ổn định và phát triển đất nước, bà Ỷ Lan còn có hai việc nổi bật đã được sử cũ biên chép, đó là việc "chuộc người" (năm 1103) và việc "đề xuất lệnh cấm trộm trâu và giết trâu bừa bãi" (năm 1117) như đã kể trên. Việc thứ nhất, được sử thần Ngô Sĩ Liên khen là: "Thái hậu đổi đời cho họ, cũng là việc làm chân chính vậy". Còn việc thứ hai khiến nhiều người dân càng kính trọng và biết ơn bà, bởi "con trâu là đầu cơ nghiệp".
  • Chùa Giám: Ngôi chùa tọa lạc ở xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng. Chùa được xây dựng vào thế kỷ XVII thời Hậu Lê. Trước đây chùa ở ngoài đê sông Thái Bình. Sau năm 1971, chùa được dời vào địa điểm ngày nay. Chùa là nơi danh y Tuệ Tĩnh sống, học tập và nghiên cứu về y dược nhiều năm. Chùa mang kiến trúc tiêu biểu của thế kỷ XVII - XVIII, đặc biệt là tòa cửu phẩm liên hoa đồ sộ, điêu khắc tinh tế.
  • Đình Mộ Trạch: Đình được xây dựng vào năm 1658 tại xã Tân Hồng, huyện Bình Giang thờ Thành hoàng là cụ Vũ Hồn, ông tổ dòng họ Vũ. Mộ Trạch là làng văn hiến nổi tiếng về truyền thống hiếu học và thành đạt của xứ Đông xưa. Thời phong kiến làng có 36 tiến sĩ. Di tích ở Mộ Trạch gồm có đình làng, chùa Diên Phúc, nhà thờ họ Vũ (xây dựng vào năm 1147), giếng thờ, nhà thờ Trung Viễn, quán Linh Ứng.
  • Bến Bình Than: Là tên một bến sông trên Lục Đầu Giang thuộc làng Trần Xá, Chí Linh. Đây là một di tích nổi tiếng gắn liền với một sự kiện lịch sử. Vào năm 1282, khi nhà Nguyên Mông sắp cử đại binh sang xâm lược nước ta. Trước tình hình đó vua Trần Nhân Tông bèn ra ngự bến Bình Than họp các vương hầu và trăm quan bàn cách giữ nước.
  • Khu Kính Chủ - An Phụ: Phía Bắc có dãy núi Dương Nham và sông Kinh Thầy. Núi Dương Nham còn có tên là Bổ Đà, Xuyến Châu hay Thạch Môn. Nơi đây từng là vị trí đóng quân của vua Trần Nhân Tông ngăn chặn mũi thủy công. Dãy núi Dương Nham với nhiều hang động, danh thắng như động Kính Chủ, hang Trâu, hang Tiên Sư, hang Luồn, bàn cờ tiên... Nền động Kính Chủ cao khoảng 20m so với chân núi. Trong động là chùa Kính Chủ thờ Phật, Minh Không thiền sư, Lý Thần Tông, Huyền Quang và nhiều tượng trong kinh Phật tạc bằng đá. Hơn 40 văn bia tạc trên vách động ghi lại tình cảm của các bậc tiền nhân khi đến thăm động và chùa trong đó có vua chúa, quan và các danh nhân suốt bảy thế kỷ.

Các di tích khác: Văn miếu Mao Điền, động Kính Chủ,...

Thể thao

Năm 2018 tại đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VIII, đoàn thể thao tỉnh Hải Dương xếp thứ 8 chung cuộc và xếp thứ 6 trong 63 tỉnh, thành cả nước.

Tập tin:Nhà Thi đấu Thể thao tỉnh Hải Dương.jpeg
Nhà thi đấu thể thao tỉnh Hải Dương

Điền kinh: Vận động viên Vũ Văn Huyện, sinh năm 1983, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Thành tích 3 huy chương vàng 3 kỳ SEA Games liên tiếp 24, 25, 26. Bộ môn 10 môn phối hợp: chạy 100m, nhảy xa, nhảy cao, nhảy sào, đẩy tạ, chạy 400m, ném đĩa, ném lao...

Bóng đá: Hải Dương không có đội bóng tham dự V.League nhưng có nhiều cầu thủ từng thi đấu cho đội tuyển quốc gia như Lê Thế Thọ, Mạc Hồng QuânNguyễn Xuân Thành. Hải Dương có 4 cầu thủ là Phạm Đức Huy (sinh năm 1995 ở xã Đoàn Tùng, Thanh Miện), Vũ Văn Thanh (sinh năm 1996 ở xã Tứ Cường, Thanh Miện), Nguyễn Văn Toàn (sinh năm 1996 ở phường Thạch Khôi, TP Hải Dương) và Nguyễn Trọng Đại (sinh năm 1997 ở xã Cẩm Điền, Cẩm Giàng) nằm trong đội tuyển U23 Việt Nam giành Huy chương bạc Giải vô địch bóng đá U-23 châu Á 2018 và Nguyễn Tiến Linh giải AFF Cup 2018 giành ngôi Quán quân dưới thời huấn luyện viên Park Hang-seo.

Hải Dương và các Học viện, Câu lạc bộ bóng đá Việt Nam: Hải Dương từng là nơi phát hiện và đóng góp khá nhiều cầu thủ tài năng như các cầu thủ như Lê Văn Sơn, Nguyễn Văn Toàn, Vũ Văn Thanh, Triệu Việt Hưng cho Học viện Bóng đá Hoàng Anh Gia Lai, Phạm Đức Huy cho Câu lạc bộ Hà Nội T&T, Nguyễn Trọng Đại, Nguyễn Hoàng Đức cho Trung tâm thể thao Viettel, Nguyễn Tiến Linh cho CLB B.Bình Dương và Nguyễn Xuân Nam cho CLB TP Hồ Chí Minh.

Bóng đá thiếu nhi: Hải Dương luôn trong top đứng đầu cả nước về đào tạo bóng đá thiếu nhi. Đội tuyển bóng đá nhi đồng Hải Dương từng giành 3 chức vô địch quốc gia vào các năm 2007, 2009 và 2013. Giành ngôi á quân vào các năm 2011, 2012.

Bóng bàn: Hải Dương được xem như là cái nôi lớn nhất đào tạo bóng bàn của cả nước. Bóng bàn Hải Dương có được rất nhiều thành công trong quá khứ, mà đỉnh cao là những tấm huy chương vàng danh giá ở nội dung đồng đội tại giải vô địch quốc gia. Trong một thập kỉ (từ năm 1990 đến 2000), những tay vợt như: Nguyễn Đức Long, Vũ Mạnh Cường, Đỗ Tuấn Sơn, Nguyễn Quý Tài, Cao Anh Tuấn,… đã làm mưa làm gió trên các đấu trường quốc gia và làm nên thương hiệu bóng bàn Hải Dương, mà đỉnh điểm của sự thành công vào năm 2000. Vận động viên tiêu biểu nhất là kiện tướng bóng bàn Vũ Mạnh Cường sinh năm 1972 tại Hải Dương, bắt đầu chơi bóng bàn lúc 9 tuổi, giải nghệ năm 30 tuổi. Vũ Mạnh Cường từng bảy lần vô địch đơn nam quốc gia, ba lần vô địch SEA Games vào các năm: 1995 (vô địch đơn nam), 1999 (vô địch đôi nam nữ), 2001 (vô địch đơn nam). Năm 2002, anh về công tác tại Sở VH-TT&DL Hải Dương với vai trò huấn luyện viên và quản lý bộ môn bóng bàn.

Năm 2008, anh chuyển qua làm huấn luyện viên cho CLB bóng bàn Hà Nội T&T. Từ năm 2008 đến nay, CLB bóng bàn Hà Nội T&T luôn đứng trong tốp 3 CLB hàng đầu, chỉ sau TP.HCM và Quân đội. Trong hai năm 2012-2013, đội bóng bàn trẻ T&T liên tục vô địch toàn đoàn tại các giải trẻ quốc gia. Hiện đây là một trong những lò đào tạo VĐV bóng bàn hàng đầu cả nước, cung cấp nhiều VĐV cho các tuyến của đội tuyển bóng bàn quốc gia.

Đấu kiếm: Đấu kiếm Hải Dương luôn nằm trong số 3 đội mạnh nhất toàn quốc (đứng sau Hà NộiTP Hồ Chí Minh). Hải Dương luôn có những kiếm thủ tài năng như: Trần Thị Len, Lê Thị Bích, Ngô Thị Lựa, Đoàn Thị Yến, Bùi Thị Mai Hương, Nguyễn Đức Tài, Phạm Thị Ngọc Luyên, Nguyễn Thị Thúy...Trần Thị Len, Lê Thị Bích là lứa VĐV đầu tiên đã nhiều lần giành huy chương vàng (HCV) tại đấu trường SEA Games.

Năm 2012, tại giải vô địch toàn quốc giành 1 huy chương vàng (HCV), 3 huy chương bạc (HCB), 3 huy chương đồng (HCĐ); tại giải vô địch đấu kiếm trẻ toàn quốc đoạt 3 HCV, 2 HCB, 8 HCĐ và tại giải vô địch đấu kiếm Đông Nam Á giành 2 HCV và 3 HCĐ.

Năm 2013, tại giải vô địch toàn quốc đấu kiếm Hải Dương tiếp tục đứng thứ 2 sau Hà Nội.

Bơi thuyền Rowing: Hải Dương và Hà Nội hiện nay là hai trung tâm đua thuyền hàng đầu cả nước. Tại giải vô địch Rowing toàn quốc 2012 quy tụ 92 tay chèo nam, nữ xuất sắc đến từ 12 đoàn thuộc các tỉnh, thành phố: Đắk Lắk, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Quảng Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc và Hà Nội. Đoàn Hải Dương tiếp tục đứng thứ 2 sau Hà Nội.

Bắn súng: Là môn thể thao mũi nhọn của tỉnh Hải Dương. Hải Dương từng đào tạo và đóng góp rất nhiều vận động viên cho đội tuyển Bắn súng quốc gia. Tiêu biểu là VĐV Trần Quốc Cường. Tại Sea Games 26 (2011), VĐV Trần Quốc Cường đã giành 1 Huy chương Vàng môn súng ngắn tự chọn, 1 Huy chương Đồng súng ngắn hơi, qua đó đóng góp một phần thành tích đáng kể vào bảng tổng sắp bộ môn bắn súng của đoàn thể thao Việt Nam với 7 huy chương vàng, khẳng định vị trí số một của Việt Nam trên đấu trường Sea Games 26. Trước đó vào năm 2010, tại giải bắn súng thế giới (Bắc Kinh Trung Quốc), VĐV này tranh tài ở nội dung súng ngắn bắn chậm, cự li 50 mét và giành được 559 điểm, xếp thứ 4/58 VĐV tham gia, đây là lần đầu tiên một VĐV Việt Nam làm được điều này tại giải bắn súng thế giới.

Cử tạ: Đội tuyển Cử tạ Hải Dương luôn nằm trong top đầu cả nước. Hải Dương từng là nơi phát hiện và đào tạo nhiều lực sỹ cử tạ tiêu biểu. Trong đó nổi bật là Cô gái "vàng" của cử tạ Việt Nam Nguyễn Thị Thiết, sinh năm 1984, ở xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Thị Thiết đã gây bất ngờ trong làng cử tạ Việt Nam khi giành được 3 huy chương vàng tại Giải cử tạ toàn quốc năm 2001. Ngay lập tức, cô lọt vào đội tuyển cử tạ quốc gia và thành công lên tiếp đến với Thiết: 3 huy chương vàng tại Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ IV (năm 2002); 3 huy chương bạc SEA Games 22 (năm 2002) tại Việt Nam; huy chương đồng giải Vô địch châu Á (năm 2004); giành quyền tham dự Thế vận hội Athens Hy Lạp. Tại Giải cử tạ trẻ châu Á ở Chiang Mai (Thái Lan), Thiết xuất sắc giành liên tiếp 3 huy chương vàng và đoạt Cúp vận động viên thi đấu xuất sắc nhất giải.

Tiếp đó, Thiết lại đoạt 3 huy chương vàng ở giải Vô địch cử tạ toàn quốc năm 2004, rồi 3 huy chương vàng giải Vô địch cử tạ toàn quốc năm 2005; 3 huy chương vàng giải Vô địch cử tạ Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ V năm 2006.

Năm 2007, Thiết tiếp tục khẳng định bản lĩnh của mình khi đoạt 7 huy chương vàng tại các giải đấu trong và ngoài nước; đặc biệt là chiếc huy chương vàng tại SEA Games 24 tại Thái Lan.

Năm 2008, cô lại giành 3 huy chương vàng tại giải Vô địch quốc gia; 3 huy chương bạc tại giải Vô địch châu Á và Hạng 5 tại Olympic Bắc Kinh (Trung Quốc)...

Đặc biệt, tại Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VI vừa qua, Nguyễn Thị Thiết đã giành 3 huy chương vàng cá nhân và phá kỷ lục quốc gia. Với thành tích này, Thiết đã trở thành một trong 10 vận động viên tiêu biểu nhất của tỉnh Hải Dương năm 2010.

Giao thông

Đường bộ

Hải Dương là tỉnh có nhiều đoạn quốc lộ chạy qua:

Tập tin:Quoclo5HANOIHAIDUONG.jpg
Quốc lộ 5 đoạn chạy qua Hà Nội - Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng
  1. Quốc lộ 5 từ Hà Nội tới Hải Phòng, phần chạy ngang qua giữa tỉnh Hải Dương dài 44,8 km
  2. Quốc lộ 18 từ Hà Nội qua Bắc Ninh, Hải Dương đến vùng than và cảng Cái Lân của tỉnh Quảng Ninh. Phần đường chạy qua Chí Linh dài 20 km
  3. Quốc lộ 37 từ Ninh Giang (giáp Vĩnh Bảo, Hải Phòng) đến Chí Linh (giáp Lục Nam, Bắc Giang)
  4. Quốc lộ 38 dài 13 km là đường cấp III đồng bằng
  5. Quốc lộ 38B dài 145,06 km là đường cấp III đồng bằng, nối Hải Dương tới Ninh Bình
  6. Quốc lộ 10, dài 9 km. Quy mô cấp III đồng bằng
  7. Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (quốc lộ 5B): quy mô cấp quốc gia.
  8. Ngoài ra còn có đường tỉnh với 14 tuyến dài 347,36 km (đường nhựa tiêu chuẩn cấp III đồng bằng) và đường huyện 392,589 km và 1.386,15 km đường xã đảm bảo cho xe ô tô đến tất cả các vùng trong mọi mùa.

Đường sắt

Tập tin:Nha tho Ke Sat.jpg
Nhà thờ Giáo xứ Kẻ Sặt, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

Hải Dương có tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với đường 5, vận chuyển hàng hóa, hành khách qua 7 ga trong tỉnh Hải Dương. Ngoài ra còn có tuyến đường sắt Yên Viên - Cái Lân chạy qua Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm, nông, thổ sản ở các tỉnh miền núi phía bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân (Quảng Ninh), cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh này.

Đường thủy

Hải Dương có 16 tuyến sông chính nối với các sông nhỏ dài 400 km; các loại tàu, thuyền trọng tải 500 tấn có thể qua lại. Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn/năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thủy một cách thuận lợi. Hệ thống giao thông trên là điều kiện cho việc giao lưu kinh tế từ trong tỉnh đi cả nước và nước ngoài thuận lợi.Hiện tại trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 12 tuyến sông do Trung ương quản lý như Sông Thái Bình, sông Thương, sông Luộc, sông Kinh Thầy, sông Kinh Môn,... Tổng chiều dài 274,5 km, trong đó có sông Thái Bình, sông Luộc là những tuyến đường thủy quan trọng của khu vực đồng bằng sông Hồng.

Các tuyến xe buýt

Hiện tại, có tất cả 16 tuyến xe buýt xuất phát từ thành phố Hải Dương đi đến trung tâm các huyện trong tỉnh Hải Dương và các tỉnh, thành lân cận.

  • Các tuyến xuất phát từ Bến xe Hải Dương:
    • 202 Hải Dương - Hà Nội
    • 206 Hải Dương - Hưng Yên
    • 216 Hải Dương - Sặt - Hưng Yên
  • Các tuyến xuất phát từ Bến xe Hải Tân:
    • 2 TP. Hải Dương - Thanh Hà
    • 19 TP. Hải Dương - Nam Sách
    • 207 Hải Dương - Uông Bí
    • 215 Hải Dương - Lương Tài
    • 217 Hải Dương - Bắc Ninh.
  • Các tuyến phố nội đô: Đại lộ Trần Hưng Đạo thành phố Hải Dương
    • 208 Hải Dương - Bắc Giang
    • 209 Hải Dương - Thái Bình
    • 1 TP. Hải Dương - Thanh Hà
    • 18 TP. Hải Dương - Phú Thái - Mạo Khê
    • 8 TP. Hải Dương - Kim Thành
    • 7 TP. Hải Dương - Bóng - Cầu Dầm
    • 5 TP. Hải Dương - Bình Giang - Hà Chợ
  • Các tuyến xuất phát từ Điểm đỗ Bắc đường Thanh Niên (Siêu thị Marko cũ):
    • 6 TP. Hải Dương - Bến Trại
    • 9 TP. Hải Dương - TT. Tứ Kỳ - Quý Cao - Ninh Giang
    • 27 TP. Hải Dương - Gia Lộc - Ninh Giang.
  • Các tuyến xe buýt ngoại tỉnh:
    • BN02 Bắc Ninh - Sao Đỏ (Tần suất 10-20 phút/chuyến, riêng thứ hai 5-20 phút/chuyến Thời gian hoạt động: 5h-21h)

Danh nhân

  • Nhà văn hóa Phạm Quỳnh quê quán ở làng Lương Ngọc (nay thuộc xã Thúc Kháng), phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông là nhà báo, nhà văn và quan đại thần cuối triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu.
  • Nhạc sĩ Phạm Tuyên, cựu chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội. Ông sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, quê ở thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, Hải Hưng (nay là Hải Dương). Ông là con thứ 9 của học giả Phạm Quỳnh (1892-1945).
  • Nhạc sĩ Đỗ Nhuận, Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam khóa I và II từ 1958 đến 1983, một trong những nhạc sĩ tiên phong của âm nhạc cách mạng. Đỗ Nhuận còn là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết opera với vở Cô Sao, cũng là tác giả của bản Du kích Sông Thao nổi tiếng. Đỗ Nhuận quê ở thôn Hoạch Trạch xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, Hải Dương. Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1922.
  • Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân (sinh 1956) quê ở thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, Hải Dương, là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11, thuộc đoàn đại biểu Hà Tây. Ông là một nhạc sĩ, hiện giữ chức Chủ tịch hội Nhạc sĩ Việt Nam, và là con trai của nhạc sĩ lừng danh Đỗ Nhuận.
  • Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương; sinh 15 tháng 4 năm 1943) là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam. Ông là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, cựu Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam.
  • Nhà văn Thạch Lam (1910 - 1942) là một nhà văn Việt Nam thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông cũng là em ruột của 2 nhà văn khác trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất LinhHoàng Đạo. Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ.Các tác phẩm: Gió đầu mùa (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1937), Nắng trong vườn (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1938) Ngày mới (truyện dài, Nhà xuất bản Đời nay, 1939) Theo giòng (bình luận văn học, Nhà xuất bản Đời nay, 1941), Sợi tóc (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1942), Hà Nội băm sáu phố phường (bút ký, Nhà xuất bản Đời nay, 1943) và hai quyển truyện viết cho thiếu nhi:Quyển sách, Hạt ngọc. Cả hai đều do Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940.
  • Nghệ sĩ Nhân dân Trọng Khôi quê xã Kim Đính, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tốt nghiệp khóa đầu tiên ĐH Sân khấu năm 1964, ông đầu quân cho Đoàn kịch Trung ương, tiền thân Nhà hát kịch Việt Nam. Năm 1970, ông là Đội trưởng Đội Kịch nói Nhà hát kịch Việt Nam. Từ năm 1985-1989 ông đảm nhiệm vị trí Phó Giám đốc Nhà hát kịch Việt Nam, sau đó giữ chức Giám đốc nhà hát đến năm 2000. Từ năm 1999 đến 2009, ông là Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.
  • Nhà thơ Trần Đăng Khoa (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958), quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông nguyên là Trưởng ban Văn học Nghệ thuật, Giám đốc Hệ Phát thanh có hình VOVTV của Đài tiếng nói Việt Nam. Hiện nay, ông giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam.
  • Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346), người xã Lũng Động, huyện Chí Linh, nay là thôn Lũng Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.Trong kỳ thi năm Giáp Thìn (1304), Mạc Đĩnh Chi thi đỗ hội nguyên, sau đó thi Đình đỗ trạng nguyên khi mới chỉ 24 tuổi. Ông ra làm quan, trải qua ba triều vua, gồm Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và Trần Hiến Tông. Qua một lần được cử đi sứ nhà Minh, với tài đối đáp của mình, ông được các quan bên ấy nể phục và được phong là ''Lưỡng quốc Trạng nguyên''.
  • Triệu Xuân (sinh năm 1952, Ninh Giang, Hải Dương) là một nhà văn, nhà báo Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam.

Văn hoá

  • Vương Dung: ca sĩ đoạt giải nhất Sao Mai 2005
  • Thu Thủy: ca sĩ đoạt giải nhất Sao Mai 2017
  • Đồng Lan: ca sĩ
  • Thanh Hương: diễn viên, Á hậu 1 Hoa hậu Hải Dương 2006
  • Lương Thị Hoa Đan: Á hậu 1 Hoa hậu các Dân tộc Việt Nam 2022
  • Ngô Thị Trâm Anh : Hoa hậu Trái Đất Việt Nam 2025

Nguyên lãnh đạo

Tập tin:Nhà khách Bạch Đằng, Trần Phú, Hải Dương.jpeg
Nhà khách Bạch Đằng
  • Nguyễn Lương Bằng: Phó Chủ tịch nước Việt Nam (1969 – 1979), Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô cũ (1952 – 1956), Tổng Thanh tra Chính phủ (1956).
  • Nguyễn Thị Minh: Nguyên Thứ trưởng, Tổng Giám đốc Bảo hiềm xã hội Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương.
  • Lê Truyền: Nguyên Phó chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam.
  • Đặng Bích Liên: Nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương.
  • Nguyễn Trọng Thừa: Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Nguyên Cục trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nguyên Phó chủ tích thường trực UBND Tỉnh Hải Dương.
  • Nguyễn Vinh Hiển: Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Tỉnh Hải Dương.
  • Hà Văn Hiền: Nguyên chủ nhiệm UB ngân sách Quốc hội, chủ tịch, bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh và Hà Tây cũ.
  • Có bí thư tỉnh ủy bị khai trừ khỏi Đảng, bị khởi tố và bắt giam.

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên nq202
  2. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên de_an_2025
  3. ^ a ă "Quy mô kinh tế tỉnh Hải Dương tiếp tục đứng thứ 11 cả nước". Báo Lao Động. ngày 2 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  4. ^ "Quốc hội thông qua Nghị quyết sắp xếp 63 tỉnh, thành còn 34 đơn vị". Báo điện tử Chính phủ. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  5. ^ "Nghị quyết số 12/NQ-HĐND về việc thông qua chủ trương sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 – 2025" (PDF). Báo Hải Dương. ngày 24 tháng 4 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  6. ^ "Tờ trình số 43/TTr-UBND về việc Đề án sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 – 2025 tỉnh Hải Dương" (PDF). ngày 22 tháng 4 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  7. ^ "Đề án về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 – 2025 tỉnh Hải Dương" (PDF). ngày 22 tháng 4 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  8. ^ "Bản tóm tắt Đề án về việc thông qua chủ trương sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 – 2025 tỉnh Hải Dương" (PDF). ngày 22 tháng 4 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  9. ^ "Nghị quyết số 12/NQ-HĐND về việc thông qua chủ trương sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 – 2025" (PDF). Báo Hải Dương. ngày 24 tháng 4 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  10. ^ a ă â b c d Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
  11. ^ Thành Chung (ngày 13 tháng 5 năm 2025). "Chi tiết dự kiến quy mô dân số, diện tích, kinh tế của 34 tỉnh, thành sau sáp nhập". Tuổi Trẻ Online. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2025.
  12. ^ Lê Hoa (ngày 9 tháng 6 năm 2025). "Dự kiến chi tiết diện tích, dân số, quy mô kinh tế của 34 tỉnh, thành mới". Báo Dân Trí. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2025.
  13. ^ "Hải Dương thu hút FDI vượt mục tiêu". Báo điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  14. ^ "Hải Dương phấn đấu GRDP đạt 132.632 tỉ đồng năm 2025". Báo Lao Động. ngày 14 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Tỉnh cũ Việt Nam