Bước tới nội dung

Lạng Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới nằm ở vùng Đông Bắc Bộ, Việt Nam.

Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Lạng Sơn có diện tích: 8.310 km², xếp thứ 20; dân số: 881.384 người, xếp thứ 31; GRDP 2024: 49.735.616 triệu VNĐ, xếp thứ 31; thu ngân sách 2024: 10.727.290 triệu VNĐ, xếp thứ 28; thu nhập bình quân: 37,20 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 29.[1]

Địa lý

Tỉnh Lạng Sơn có toạ độ 21°19'-22°27'B, 106°06'-107°21'Đ, có vị trí địa lý:

Các điểm cực của tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế: cửa khẩu Ga đường sắt Đồng Đăng và cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị thuộc xã Đồng Đăng. Có 1 cửa khẩu quốc gia: Chi Ma (xã Mẫu Sơn) và nhiều lối mở biên giới với Trung Quốc.

Địa hình

Tập tin:Lạng Sơn 2.jpg
Sông Kỳ Cùng và tuyến phố nằm bên sông

Đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh.

Dạng địa hình phổ biến ở Lạng Sơn là núi thấp và đồi, độ cao trung bình 252 m so với mặt nước biển. Nơi thấp nhất là 20 m ở phía Nam xã Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1541 m. Mẫu Sơn cách phường Lương Văn Tri 32 km về phía Đông, được bao bọc bởi nhiều ngọn núi lớn nhỏ, thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông.

Khí hậu, thời tiết

Khí hậu của Lạng Sơn thể hiện rõ nét khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền Bắc Việt Nam. Khí hậu phân mùa rõ rệt, ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố không đồng đều do sự phức tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng của không khí lạnh trong quá trình di chuyển ở vùng nội chí tuyến đã gây nên những chênh lệch đáng kể trong chế độ nhiệt giữa các vùng.

  • Nhiệt độ trung bình năm: 17-23 °C
  • Lượng mưa trung bình hàng năm: 1200–1600 mm. Lạng Sơn là khu vực có tổng lượng trung bình năm thấp nhất khu vực bắc bộ. Khu vực thành phố Lạng Sơn trở sang đến khu vực Đình Lập lượng mưa trung bình ở các trạm quan trắc thường dưới 1400 mm.
  • Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80 - 85%
  • Lượng mây trung bình năm khoảng 7,5/10 bầu trời
  • Số giờ nắng trung bình khoảng 1500 - 1700 giờ (tăng dần từ tây sang đông).

Hướng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn vừa chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu và địa hình. Mùa lạnh thịnh hành gió Bắc, mùa nóng thịnh hành gió Nam và Đông Nam. Tốc độ gió nói chung không lớn, trung bình 0,8–2 m/s song phân hoá không đều giữa các vùng trong tỉnh.

Hệ thống sông ngòi

  • Sông Kỳ Cùng: bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1166 m thuộc huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; dài 243 km; diện tích lưu vực khoảng 6660 km², hầu hết thuộc địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, từ nơi bắt nguồn qua các huyện Đình Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, Thành phố Lạng Sơn, Văn Lãng, Tràng Định và chảy theo hướng Đông nhập vào hệ thống sông Tây Giang thuộc Khu tự trị Choang Quảng Tây, Trung Quốc. Do vậy mảnh đất xứ Lạng còn được gọi là "nơi dòng sông chảy ngược".
  • Sông Bản Thín, phụ lưu của sông Kỳ Cùng, chiều dài 52 km, diện tích lưu vực: 320 km², bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc huyện Ninh Minh, Quảng Tây (Trung Quốc) chảy vào nước ta ở xã Tam Gia huyện Lộc Bình; nhập vào sông Kỳ Cùng tại xã Khuất Xá huyện Lộc Bình (Trong các tài liệu và Maps đang nói về con sông này có tên là Ba Thín. Thực tế tên nó là Sông Bản Thín, đặt tên chung đoạn qua thôn Bản Thín, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình).
  • Sông Bắc Giang, phụ lưu lớn nhất của sông Kỳ Cùng: bắt nguồn từ vùng núi xã Xuân Dương, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, dài 114 km, diện tích lưu vực 2670 km², nhập vào sông Kỳ Cùng tại huyện Tràng Định.
  • Sông Bắc Khê, phụ lưu của sông Kỳ Cùng, dài 54 km, diện tích lưu vực 801 km², thuộc huyện Tràng Định.
  • Sông Thương là sông lớn thứ 2 của tỉnh Lạng Sơn, bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước (huyện Chi Lăng) chảy trong máng trũng Mai Sao - Chi Lăng và chảy vào địa phận tỉnh Bắc Giang, dài 157 km, diện tích lưu vực: 6640 km²
  • Sông Hoá, phụ lưu của sông Thương, dài 47 km, diện tích lưu vực: 385 km²
  • Sông Trung, phụ lưu của sông Thương, bắt nguồn từ vùng núi phía đông huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, dài 35 km; diện tích lưu vực: 1270 km² (Cũng có tài liệu viết dòng sông này là dòng chính của sông Thương, ngược lại dòng bắt nguồn từ huyện Chi lăng là phụ lưu). Sông Trung với lưu vực chủ yếu là vùng núi đá vôi thuộc vòng cung Bắc Sơn nên nước thường xuyên trong xanh. Còn nhánh còn lại lưu vực một phần là núi đất nên khi mưa lũ dòng chảy đục có màu đỏ dài ngày hơn. Từ đây dòng sông Thương mới có bên trong bên đục khi hai dòng hợp lưu tại xã Hồ Sơn, Hữu Lũng trở đi đến địa đầu tỉnh Bắc Giang.
  • Ngọn nguồn dòng chính sông Lục Nam bắt nguồn từ huyện Đình Lập.
  • Một phụ lưu của sông Lục Nam là sông Cẩm Đàn bắt nguồn từ các xã phía Nam huyện Lộc Bình.

Hành chính

Tỉnh Lạng Sơn có 65 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 4 phường và 61 xã.[2]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Lạng Sơn[3]
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phường (4)
Đông Kinh 54,71 50.436
Kỳ Lừa 61,70 41.624
Lương Văn Tri 31,76 23.136
Tam Thanh 27,35 30.301
Xã (61)
Ba Sơn 154,96 10.416
Bắc Sơn 80,46 16.907
Bằng Mạc 117,82 13.647
Bình Gia 104,98 15.008
Cai Kinh 105,56 12.027
Cao Lộc 103,86 6.920
Châu Sơn 301,31 5.948
Chi Lăng 80,74 28.192
Chiến Thắng 114,27 11.563
Công Sơn 84,74 6.506
Điềm He 103,12 11.340
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Đình Lập 164,66 9.916
Đoàn Kết 156,29 3.777
Đồng Đăng 91,57 24.976
Hoa Thám 151,78 6.131
Hoàng Văn Thụ 114,50 18.116
Hội Hoan 117,43 7.479
Hồng Phong 132,98 6.885
Hưng Vũ 133,24 12.122
Hữu Liên 122,56 8.754
Hữu Lũng 52,87 30.848
Kháng Chiến 142,00 5.684
Khánh Khê 93,64 13.373
Khuất Xá 124,91 9.283
Kiên Mộc 417,78 7.976
Lộc Bình 79,15 23.316
Lợi Bác 139,11 7.163
Mẫu Sơn 136,04 9.655
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Na Dương 109,91 24.369
Na Sầm 94,47 14.117
Nhân Lý 126,86 11.077
Nhất Hòa 143,72 11.400
Quan Sơn 138,05 7.100
Quốc Khánh 168,15 13.962
Quốc Việt 117,97 5.906
Quý Hòa 130,28 3.001
Tân Đoàn 100,41 10.589
Tân Thành 121,93 20.474
Tân Tiến 213,39 6.506
Tân Tri 137,61 11.485
Tân Văn 112,06 9.497
Thái Bình 305,25 8.346
Thất Khê 100,52 20.153
Thiện Hòa 160,31 6.771
Thiện Long 167,26 5.774
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Thiện Tân 93,07 14.827
Thiện Thuật 134,50 7.305
Thống Nhất 190,61 14.336
Thụy Hùng 108,76 6.890
Tràng Định 118,41 11.529
Tri Lễ 131,28 10.071
Tuấn Sơn 111,21 20.611
Vạn Linh 126,54 14.197
Văn Lãng 132,28 7.689
Văn Quan 87,57 9.955
Vân Nham 81,22 19.497
Vũ Lăng 112,27 13.562
Vũ Lễ 92,10 12.944
Xuân Dương 206,70 6.621
Yên Bình 119,22 14.813
Yên Phúc 117,93 16.585

Lịch sử

Tập tin:Hữu Nghị Quan.JPG
Hữu Nghị Quan

Sau khi Thăng Long thất thủ năm 1592, nhà Mạc chạy về Cao Bằng. Trong thời gian từ 1593 - 1677 đã xây dựng thành nhà Mạc tại Lạng Sơn để chống lại tiến công của Nhà Lê - Trịnh.

Lạng Sơn là 1 trong 13 tỉnh được vua Minh Mạng thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (1831). Khi mới thành lập, tỉnh Lạng Sơn bao gồm 1 phủ là phủ Trường Khánh (Tràng Khánh) và 7 châu: Ôn Châu, Thất Tuyền, Lộc Bình, Thoát Lãng, Yên Bác, Văn Quan và Văn Uyên. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), đổi các châu Yên Bác, Văn Quan, Thất Tuyền thành các huyện. Đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), đặt thêm phủ Tràng Định. Từ đó, tỉnh Lạng Sơn có 2 phủ là phủ Tràng Khánh và phủ Tràng Định.[4]

Tập tin:Lang Son 1891.jpg
Bản đồ tỉnh Lạng Sơn năm 1891

Từ ngày 9 tháng 9 năm 1891 đến ngày 20 tháng 6 năm 1905, Lạng Sơn là Đạo quan binh (chỉ huy trưởng đầu tiên là Servière) sau đó lại tái lập tỉnh.[5] Công sứ đầu tiên ở Lạng Sơn là Hocquart.

Tập tin:Province de Lang-Son (1909).jpg
Bản đồ tỉnh Lạng Sơn năm 1909

Trong kháng chiến chống Pháp, Lạng Sơn thuộc Liên khu Việt Bắc.

Sau năm 1945, tỉnh Lạng Sơn có thị xã Lạng Sơn và 10 huyện: Bằng Mạc, Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Điềm He, Lộc Bình, Ôn Châu, Thoát Lãng, Tràng Định, Văn Uyên.

Tháng 7 năm 1947, Khu ủy 12 quyết định tạm thời chuyển huyện Lộc Bình về tỉnh Hải Ninh quản lý. Tuy nhiên, đến ngày 7 tháng 6 năm 1949, huyện Lộc Bình được sáp nhập trở lại tỉnh Lạng Sơn.[6]

Ngày 1 tháng 7 năm 1956, huyện Hữu Lũng của tỉnh Bắc Giang được sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc (được thành lập cùng ngày).[5] Khu tự trị Việt Bắc tồn tại đến ngày 27 tháng 12 năm 1975.

Ngày 16 tháng 12 năm 1964, huyện Điềm He cùng 6 xã của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Văn Quan; huyện Ôn Châu cùng 8 xã còn lại của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Chi Lăng; 2 huyện Văn Uyên và Thoát Lãng hợp nhất thành huyện Văn Lãng.[7]

Từ ngày 27 tháng 12 năm 1975 đến ngày 29 tháng 12 năm 1978 nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, tái lập tỉnh Lạng Sơn, đồng thời sáp nhập huyện Đình Lập của tỉnh Quảng Ninh về tỉnh Lạng Sơn vừa tái lập.[8]

Ngày 17 tháng 10 năm 2002, chuyển thị xã Lạng Sơn thành thành phố Lạng Sơn.[9] Từ đó, tỉnh Lạng Sơn có 1 thành phố Lạng Sơn (tỉnh lị) và 10 huyện: Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Chi Lăng, Đình Lập, Hữu Lũng, Lộc Bình, Tràng Định, Văn Lãng, Văn Quan.

Ngày 25 tháng 3 năm 2019, thành phố Lạng Sơn được công nhận là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Lạng Sơn.[10]

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 2013, toàn bộ các đơn vị hành chính cấp huyện tại tỉnh Lạng Sơn được giải thể. Cùng ngày, theo nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, tỉnh Lạng Sơn có 65 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 4 phường và 61 xã.[11][12]

Giao thông

Tập tin:Dong Dang Railway Station (Sep 15, 2018).jpg
Ga Đồng Đăng

Quốc lộ 1, quốc lộ 1B, quốc lộ 3B, quốc lộ 31, quốc lộ 4A, quốc lộ 4B, quốc lộ 279, đường cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn, đường cao tốc Đồng Đăng – Trà Lĩnh, đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng, sông Kỳ Cùng đi qua.

Nhân khẩu

Dân số

Bản mẫu:Lịch sử dân số

Tập tin:Núi Phai Vệ.jpg
Một con đường tại trung tâm thành phố Lạng Sơn

Tính đến năm 2024, tỉnh Lạng Sơn có diện tích tự nhiên 8.310,18 km²,[13] dân số trung bình là 813.990 người,[13] trong đó dân số nam ước tính đạt khoảng 416.490 người chiếm (51,17%),[13] dân số nữ ước tính đạt khoảng 397.500 người chiếm (48,83%),[13] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 192.320 người chiếm (23,63%),[13] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 621.670 người chiếm (76,37%),[13] với mật độ dân số là 97 người/km².[13]

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, tỉnh Lạng Sơn có diện tích 8.310,18 km², quy mô dân số là 881.384 người,[14] mật độ dân số đạt 106 người/km².

Tôn giáo

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 7 tôn giáo khác nhau với 14.663 tín đồ, nhiều nhất là đạo Tin Lành đạt 9.226 người, tiếp theo là Công giáo có 4.960 người, Phật giáo có 460 người. Còn lại các tôn giáo khác như Minh Lý đạo có 6 người, Hồi giáo có 5 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 3 người, Phật giáo Hòa Hảo có 2 người và 1 người theo đạo Cao Đài.[15]

Các dân tộc

Lạng Sơn là một tỉnh đa dân tộc, nơi các dân tộc thiểu số chiếm đa số dân cư với tỉ lệ khoảng 83,9% trong tổng dân số hơn 812.000 người của tỉnh. Người Kinh chỉ chiếm thiểu số và tập trung chủ yếu ở thành phố, thị trấn cùng các trung tâm hành chính.[16]

Trên địa bàn tỉnh có bảy dân tộc chủ yếu cùng sinh sống, gồm Nùng, Tày, Kinh, Dao, Sán Chay, Hoa và Mông. Theo số liệu của tỉnh, người Nùng đông nhất với tỷ lệ khoảng 43% dân số, tiếp đến là người Tày khoảng 35% và người Kinh chiếm khoảng 15%; người Dao chiếm khoảng 3,5%, phần còn lại là người Hoa, Sán Chay, Mông và các dân tộc khác. Người Tày và người Nùng có lịch sử cư trú lâu đời tại đây, tạo nên nền tảng văn hóa Tày – Nùng đặc trưng của xứ Lạng.[17][16]

Kinh tế

Tập tin:Đêm Lạng Sơn.jpg
Thành phố Lạng Sơn (cũ)

Năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Lạng Sơn theo giá so sánh ước đạt 27.547 tỷ đồng, tăng 8,06% so với năm trước, xếp thứ 18/34 tỉnh, thành phố cả nước và thứ 3/9 tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc. GRDP bình quân đầu người ước đạt 71 triệu đồng.[18][19]

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, với khu vực dịch vụ chiếm 47,24% GRDP, công nghiệp – xây dựng chiếm 28,33%, nông – lâm nghiệp và thủy sản 20,28%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 4,16%. Trong năm 2025, khu vực công nghiệp – xây dựng đạt mức tăng trưởng 12,75%, khu vực dịch vụ tăng trương 7,11% và nông – lâm nghiệp – thủy sản tăng 5,07%.[18]

Nông – lâm nghiệp

Tập tin:Panorama of Rural Scenery - Bac Son District - Lang Son Province - Vietnam (48137937377).jpg
Cảnh quan nông thôn vùng Bắc Sơn

Nông nghiệp là nguồn sinh kế chính của cư dân nông thôn và vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế tỉnh. Giai đoạn 2021–2025, khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng bình quân 5,93% mỗi năm, riêng năm 2025 tăng 5,07%. Tỉnh từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa tập trung gắn với đặc sản địa phương.[20]

Lạng Sơn nổi tiếng với nhiều nông sản mang thương hiệu gắn liền địa danh như na Chi Lăng, quýt Bắc Sơn, hồng Bảo Lâm, thạch đen Tràng Địnhhồi. Trong số này, hồi là cây có giá trị kinh tế cao nhất và là một trong những vùng nguyên liệu lớn nhất cả nước. Năm 2025, diện tích trồng hồi toàn tỉnh ước đạt 36.224,5 ha với sản lượng khoảng 17.271,82 tấn, đều tăng nhẹ so với năm trước. Hồi cùng tinh dầu hồi được xuất khẩu sang Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa KỳHà Lan, đem lại giá trị chừng 1.700 tỷ đồng mỗi năm.[21][22]

Nhờ địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích, lâm nghiệp là một thế mạnh của tỉnh. Đến cuối năm 2024, toàn tỉnh có 580.280,41 ha đất có rừng, gồm 257.875,91 ha rừng tự nhiên và 322.404,50 ha rừng trồng. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 64,1% và ước tính đã tăng lên 64,5% vào năm 2025, thuộc nhóm cao nhất cả nước, với diện tích trồng mới mỗi năm khoảng 9.468 ha. Bên cạnh khai thác gỗ, hoạt động chế biến gỗ băm dăm và sản xuất than sạch cũng giúp nâng cao giá trị của ngành.[23][20]

Chăn nuôi phần lớn tiến hành ở quy mô hộ gia đình và được duy trì ổn định. Thủy sản chủ yếu là nuôi thả và khai thác trong ao, hồ, với sản lượng khai thác năm 2025 ước đạt 2.310,91 tấn, tăng 4,02% so với năm 2024.[21]

Công nghiệp

Công nghiệp – xây dựng là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong cơ cấu kinh tế tỉnh, năm 2025 đạt mức tăng trưởng 12,75% và chiếm khoảng 28,3% GRDP. Trong sáu tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 5,72%, trong đó khai khoáng là ngành tăng mạnh nhất nhờ nhu cầu than cho sản xuất điện và nhu cầu vật liệu xây dựng cho các công trình hạ tầng.[18][24]

Cơ cấu công nghiệp của tỉnh chủ yếu dựa vào khai khoáng, sản xuất điện và vật liệu xây dựng. Mỏ than Na Dương cung cấp nhiên liệu cho Nhà máy nhiệt điện Na Dương do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam vận hành. Ngành vật liệu xây dựng gắn với các nhà máy xi măng như Đồng Bành và Hồng Phong, phục vụ nhu cầu trong tỉnh và một số địa phương lân cận.[24][25]

Cùng với kinh tế cửa khẩu và du lịch, phát triển công nghiệp được tỉnh xác định là một trong những mũi nhọn tăng trưởng. Dự án hạ tầng lớn nhất là Khu công nghiệp VSIP Lạng Sơn (còn gọi là Khu công nghiệp Hữu Lũng), có quy mô 599,76 ha và tổng vốn đầu tư hơn 6.361 tỷ đồng. Dự án khởi công ngày 14 tháng 6 năm 2024, triển khai theo ba giai đoạn và dự kiến khi hoàn thành sẽ tạo việc làm cho khoảng 40.000 lao động.[26][27]

Dịch vụ

Tập tin:Chợ Đông Kinh.jpg
Chợ Đông Kinh ở phường Đông Kinh

Dịch vụ là khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế Lạng Sơn, chiếm 47,24% GRDP năm 2025 với mức tăng trưởng 7,11%, trong đó thương mại giữ vai trò chủ đạo. Nhờ đời sống người dân được cải thiện và du lịch phát triển, sức mua trên địa bàn tăng mạnh; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt hơn 43.000 tỷ đồng, tăng khoảng 16% so với năm trước. Trong cả giai đoạn 2020–2025, chỉ tiêu này tăng bình quân 15,87% mỗi năm.[18][28]

Là tỉnh biên giới tiếp giáp Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc, Lạng Sơn xác định kinh tế cửa khẩu là động lực tăng trưởng chủ đạo. Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn là một trong những khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm quốc gia, được xem là cửa ngõ trung chuyển hàng hóa đường bộ quan trọng bậc nhất giữa Việt Nam, các nước ASEAN với Trung Quốc. Toàn tỉnh có 12 cửa khẩu, gồm hai cửa khẩu quốc tế Hữu NghịĐồng Đăng, cửa khẩu chính Tân Thanh cùng nhiều cửa khẩu phụ và lối mở biên giới.[29][30]

Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh liên tục tăng cao. Tính đến ngày 30 tháng 11 năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của tất cả các loại hình qua địa bàn tỉnh đạt 86,14 tỷ USD, tăng 44,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 28,19 tỷ USD và nhập khẩu đạt 57,9 tỷ USD. Tính chung giai đoạn 2020–2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh đạt khoảng 234,58 tỷ USD.[19][30]

An ninh, trật tự

Là tỉnh biên giới, công tác bảo đảm an ninh, trật tự ở Lạng Sơn gắn chặt với an ninh biên giới và phòng, chống tội phạm xuyên biên giới. Công an tỉnh cùng lực lượng Bộ đội Biên phòng thường xuyên mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, đấu tranh với buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển ma túy và xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới.[31][32]

Tình trạng tổ chức, môi giới xuất nhập cảnh trái phép trên địa bàn tỉnh diễn biến rất phức tạp, chủ yếu là các đường dây đưa người vượt biên sang Trung Quốc. Riêng sáu tháng đầu năm 2025, lực lượng chức năng toàn tỉnh đã phát hiện, bắt giữ 72 đối tượng có hành vi đưa dẫn, vận chuyển 651 trường hợp xuất nhập cảnh trái phép. Tỉnh cũng ghi nhận xu hướng gia tăng công dân từ nước thứ ba, chủ yếu là công dân Campuchia, nhập cảnh trái phép vào Việt Nam để tiếp tục xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc.[33]

Tuyến biên giới Lạng Sơn thường xuyên bị lợi dụng để vận chuyển trái phép chất ma túy, trong đó có cả sự tham gia của các đối tượng người nước ngoài. Điển hình, đầu năm 2026, Công an tỉnh Lạng Sơn đã khởi tố một công dân Trung Quốc nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị để mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực Đồng Đăng.[34]

Cuối năm 2025, một vụ án giết người và phân xác xảy ra tại địa bàn tỉnh đã gây chấn động dư luận cả nước. Ngày 28 tháng 11 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn khởi tố vụ án; ngày hôm sau, tiến hành khởi tố bị can và bắt tạm giam Đoàn Văn Sáng về tội Giết người theo khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự.[35][36]

Giáo dục

Theo số liệu đầu năm 2026, toàn tỉnh có 647 cơ sở giáo dục với hơn 204.000 học sinh.[37] Do dân cư phân tán trên địa hình miền núi, mạng lưới trường lớp trên địa bàn tỉnh có nhiều điểm trường lẻ, gồm 344 điểm trường mầm non, 217 điểm trường tiểu học và 43 điểm trường trung học cơ sở; tỷ lệ lớp ghép nhiều độ tuổi vẫn còn cao, với 489 trên tổng số 2.234 lớp (khoảng 21,9%). Tính đến năm học 2024–2025, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia của tỉnh đạt 48,9%, tăng 15,42% so với năm 2020. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông trong năm học 2024-2025 đạt 99,08% và toàn tỉnh giành 34 giải ở kỳ thi học sinh giỏi quốc gia trong năm học này, mức cao nhất từ trước đến nay.[38]

Hệ thống giáo dục phổ thông của tỉnh trải đều các cấp học từ mầm non đến trung học phổ thông. Trường Trung học phổ thông chuyên Chu Văn An tại thành phố Lạng Sơn (cũ) là trường chuyên của tỉnh, nơi tập trung bồi dưỡng học sinh giỏi; ngoài ra còn có nhiều trường quy mô lớn như Việt Bắc, Hoàng Văn Thụ, Hữu Lũng và Chi Lăng. Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 được tổ chức tại 22 điểm thi trên toàn tỉnh.[39][40]

Do đặc thù dân cư, tỉnh đặc biệt chú trọng tới hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú và phổ thông dân tộc bán trú, cùng chính sách cử tuyển nhằm tạo điều kiện học tập cho học sinh người dân tộc thiểu số ở các vùng đặc biệt khó khăn.[41]

Ở bậc sau phổ thông, tỉnh chủ yếu có các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đào tạo giáo viên. Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở lâu đời của tỉnh; nhà trường còn hợp tác với các cơ sở giáo dục của Quảng Tây (Trung Quốc) đào tạo tiếng Trung Quốc theo chương trình liên kết "2+1" và đưa sinh viên sang thực tập, thực tế. Bên cạnh đó, còn có Trường Cao đẳng Lạng Sơn đảm nhiệm đào tạo nghề nghiệp đa ngành ở các trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp.[42][43]

Y tế

Là tỉnh miền núi, biên giới có địa hình chia cắt, tỉnh đặc biệt chú trọng củng cố y tế cơ sở và y tế vùng cao theo hướng công bằng, hiệu quả nhằm rút ngắn khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng.[44] Tính đến năm 2024, toàn tỉnh đạt tỷ lệ 11,3 bác sĩ và 33,6 giường bệnh trên một vạn dân; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,45%. Toàn bộ các xã, phường, thị trấn đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã và 100% trạm y tế có bác sĩ làm việc, trong khi hơn 96% dân số được quản lý sức khỏe bằng hồ sơ điện tử.[45]

Tuyến điều trị cao nhất của tỉnh là Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn, được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại. Từ năm 2025–2026, cùng với việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh bàn giao các trạm y tế xã cho ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và đẩy mạnh chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu 100% bệnh viện triển khai bệnh án điện tử.[46][45]

Văn hóa

Văn học

Tập tin:Lạng Sơn 4.jpg
Du khách đi qua Hữu Nghị Quan

Lạng Sơn có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, được nhắc đến nhiều trong thi ca Việt Nam, ví dụ như bài ca dao truyền khẩu dưới đây:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mải vui quên hết lời em dặn dò.

Du lịch

Lạng Sơn là tỉnh biên giới có nhiều danh lam thắng cảnh, non nước hữu tình, nhiều di tích lịch sử cùng với những phong tục mang đậm bản sắc dân tộc. Tỉnh có di tích văn hóa khảo cổ Bắc Sơn, văn hóa Mai Pha. Nhiều danh thắng đã đi vào thơ ca rất tự nhiên trong lòng người dân Việt Nam:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.

Hay câu thơ:

Ai lên xứ Lạng cùng anh,

Bõ công bác mẹ sinh thành ra ta.

Một số địa điểm du lịch văn hóa, tâm linh, lịch sử, danh thắng ở Lạng Sơn:

  • Cụm danh thắng chùa và động Tam Thanh (phường Tam Thanh). Chùa xây dựng từ thời Hậu Lê, lòng động có chiều dài 50 m. Chùa động Tam Thanh là một trong Trấn Doanh Bát Cảnh của xứ Lạng.
  • Đền Bắc (xã Tân Thành) thờ Bà chúa thượng ngàn (nữ thần núi) và các cô, các cậu trong tục thờ Mẫu cộng đồng. Đây cũng là điểm thu hút du khách tới lễ Mẫu và vãn cảnh.
  • Núi Vọng Phu, thành cổ nhà Mạc, chùa Nhất Thanh, Chùa Tam Giáo và động Nhị Thanh đều là những thắng cảnh đẹp ở thành phố Lạng Sơn (gần cụm danh thắng chùa động Tam Thanh).
  • Hội chợ Kỳ Lừa (phường Kỳ Lừa) là điểm dừng chân của nhiều du khách khi đến với xứ Lạng.
  • Chùa, động và giếng Tiên (phường Lương Văn Tri) gắn liền với sự tích li kỳ "Tiên ông giáng trần" sau được suy tôn là Thần nông.
  • Đền Kỳ Cùng và chùa Diên Khánh (phường Đông Kinh) nằm gần đối diện nhau bên bờ sông Kỳ Cùng, con sông chảy ngược về Trung Quốc.
  • Di tích Bắc Sơn (xã Bắc Sơn). Đây là nơi phát hiện ra nhiều tư liệu khảo cổ xác định Nền văn hóa Bắc Sơn thuộc thời đồ đá sơ kỳ. Các nhà khảo cổ đã tìm ra nhiều công cụ đá và nhiều di chỉ về sự cư trú của người Việt cổ trong các hang động núi đá vôi ở Bắc Sơn.
  • Ải Chi Lăng (xã Chi Lăng). Ít ai biết rằng trên tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn đoạn đi qua ải Chi Lăng lại là nơi đã rất nhiều lần làm mồ chôn quân giặc. Địa điểm này có ý nghĩa về lịch sử dân tộc.
  • Núi Mẫu Sơn (xã Mẫu Sơn) nằm ở độ cao 1541 m đây là địa điểm lý tưởng cho các chuyến du lịch, phượt hay dã ngoại với khí hậu ôn hòa mát mẻ về mùa hè. Mùa đông ở đây đôi khi có tuyết rơi.
  • Đồng Đăng, 1 xã và cũng là 1 địa chỉ mà du khách thường dừng chân khi đến với mảnh đất Lạng Sơn.
  • Chợ và cửa khẩu Tân Thanh (huyện Văn Lãng) là nơi tham quan, ngắm cảnh và mua sắm nơi biên cương của Tổ quốc.

Ẩm thực

Tập tin:Rượu Mẫu Sơn.JPG
Rượu Mẫu Sơn

Đặc sản, ẩm thực như: Nem nướng Hữu Lũng, bánh chưng đen Bắc Sơn, mắc mật, rượu Mẫu Sơn, khâu nhục, hồng Bảo Lâm, vịt quay lá mắc mật, bánh ngải Mai Pha, quýt vàng Bắc Sơn, phở chua Lạng Sơn, bánh giò gấc Trấn Yên, thạch đen Tràng Định, ốc núi Hữu Liên, bánh coóng phù, bánh bí đỏ, lợn quay nguyên con lá mắc mật, trám đen Văn Quan, cao khô Vạn Linh, rượu mía Nà Rọ, củ gió, gà sáu cựa bản Khao, bánh khảo Tràng Định, chanh rừng Mẫu Sơn, bánh khẩu sli Cao Lộc, rau sau sau, tôm rừng, trà hoa vàng, cao khô chợ Bái, hạt dẻ Văn Lãng, gà vàng Vạn Linh, gừng đá, đào Mẫu Sơn, hoa hồi Văn Quan, cải làn Cao Lộc, bánh cuốn trứng Lạng Sơn, chè xanh Đình Lập, củ dong Tràng Phái, xôi lá cẩm, phở vịt quay, bánh áp chao, na dai Đồng Bành, bánh pẻng khua Tràng Định, lạp xưởng nhồi, rau bò khai, bánh mì nướng Lạng Sơn, ếch hương Mẫu Sơn, măng ớt ngâm quả mắc mật, bánh cao sằng, ba kích Đình Lập, mắc mật.

Lễ hội

Theo số liệu khảo sát của Sở Văn hóa - Thông tin Lạng Sơn, đến năm 2003, Lạng Sơn có trên 365 lễ hội dân gian với tính chất, quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Các lễ hội tiêu biểu như:[47]

  • Lễ hội Lồng Tồng: được tổ chức vào ngày 4 tháng giêng âm lịch hàng năm, một trong những lễ hội lớn nhất vùng với nghi lễ tín ngưỡng cầu thành hoàng và thần nông. Qua khảo sát sơ bộ của ngành văn hoá - thông tin Lạng Sơn, toàn tỉnh có khoảng hơn 200 lễ hội Lồng Tồng với quy mô tổ chức theo một thôn, bản, một xã, một khu vực hay vài xã.
  • Lễ hội Bủng Kham: được tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm ở thôn Nà Phái, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định. Tương truyền, Bủng Kham là nơi vui chơi giải trí của thần tiên.
  • Lễ hội Pác Mòng: được tổ chức vào ngày 5 tháng giêng âm lịch hàng năm với quy mô lớn ở thành phố Lạng Sơn . Đình Pác Mòng thờ vua Đinh Tiên Hoàng và các tướng lĩnh nhà Đinh đã từng lên đánh giặc phương Bắc và dẹp loạn biên giới thời xưa. Nhiều đời sau, dân trong vùng tưởng nhớ công lao của triều vua Đinh đã cùng nhau góp tiền của công sức, lập đình thờ phụng.
  • Lễ hội Nàng Hai: được tổ chức vào ngày 4 tháng 2 âm lịch hàng năm ở bản Nà Cạo, xã Chí Minh, huyện Tràng Định để cầu khấn các nàng tiên phù hộ cho một năm mưa thuận gió hòa, cầu cho mùa màng tươi tốt bội thu, cuộc sống yên vui.
  • Lễ hội Ná Nhèm là nghi thức, nghi lễ thờ cúng thành hoàng làng gắn liền với sự tích đánh giặc, giữ làng của người Tày (Trấn Yên).
  • Lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa: Tổ chức từ ngày 22 đến 27 tháng riêng âm lịch tại đền Tả Phủ, chợ Kỳ Lừa, phường Kỳ Lừa.
  • Lễ hội đền Bắc Lệ là tín ngưỡng thờ Mẫu điển hình, được tổ chức trong vòng 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 9 âm lịch hàng năm. Lễ hội gồm có các phần lễ chính như lễ tắm ngai, lễ chính tiệc, lễ rước. Lễ tắm ngai diễn ra trước lễ rước.

Hình ảnh

Ghi chú

  1. ^ Đền Kỳ Cùng nằm bên tả ngạn sông Kỳ Cùng và ở ngay đầu cầu Kỳ Lừa, thuộc thành phố Lạng Sơn. Năm 1993, ngôi đền đã được công nhận là di tích cấp quốc gia (1993). Nguồn: Bảng giới thiệu di tích treo tại đền.
  2. ^ Bến đá Kỳ Cùng nằm bên hữu ngạn sông Kỳ Cùng, gần cầu Kỳ Lừa và đối diện với đền Kỳ Cùng. Khoảng năm 1778, đền đã được Đốc trấn Ngô Thì Sĩ liệt là một trong 8 cảnh đẹp của trấn lỵ Lạng Sơn (Trấn doanh bát cảnh). Năm 1993, Bến đá Kỳ Cùng đã được công nhận là di tích cấp quốc gia.

Tham khảo

  1. ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  2. ^ Nghị quyết số 1672/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Lạng Sơn năm 2025
  3. ^ "Phương án sắp xếp, tên gọi, địa điểm 65 xã phường mới của Lạng Sơn".
  4. ^ "Lạng Sơn qua các thời kỳ lịch sử". Báo Lạng Sơn điện tử. ngày 30 tháng 9 năm 2011.
  5. ^ a ă "ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 183 NĂM NGÀY THÀNH LẬP TỈNH LẠNG SƠN (04/11/1831 – 04/11/2014)". Thư viện tỉnh Lạng Sơn. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2020.
  6. ^ "Sắc lệnh số 48/SL về việc sát nhập huyện Lộc Bình thuộc tỉnh Hải Ninh vào tỉnh Lạng Sơn".
  7. ^ "Quyết định 177-CP năm 1964 về việc điều chỉnh địa giới của một số huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2014.
  8. ^ "Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới các tỉnh Cao Lạng, Bắc Thái và Quảng Ninh do Quốc hội ban hành". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2014.
  9. ^ Nghị định 82/2002/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lạng Sơn, thuộc tỉnh Lạng Sơn
  10. ^ Quyết định 325/QĐ-TTg năm 2019 về công nhận thành phố Lạng Sơn là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Lạng Sơn
  11. ^ Nghị quyết số 203/2025/QH15 ban hành ngày 16/06/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  12. ^ Nghị quyết 1672/NQ-UBTVQH15 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lạng Sơn.
  13. ^ a ă â b c d đ Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên TT
  15. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  16. ^ a ă "Lạng Sơn: Chính sách dân tộc tạo động lực để đồng bào DTTS vươn lên thoát nghèo". Báo VietNamNet. ngày 18 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  17. ^ "Tổng quan về Lạng Sơn". Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lạng Sơn. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  18. ^ a ă â b "Thông cáo báo chí tình hình kinh tế tỉnh Lạng Sơn năm 2025". Chi cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  19. ^ a ă "Tỉnh Lạng Sơn đạt nhiều kết quả phát triển kinh tế-xã hội quan trọng trong năm 2025". Báo Nhân Dân. ngày 10 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  20. ^ a ă "Lạng Sơn: Bước chuyển mình hướng tới phát triển trong nhiệm kỳ mới". Báo Đại Đoàn Kết. ngày 14 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  21. ^ a ă "Lạng Sơn: Vượt qua tình trạng khô hạn kéo dài, bão lũ ngành Nông nghiệp vẫn tăng 5,07%". Thế giới Tiếp thị (Báo Dân Việt). ngày 8 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  22. ^ "Lạng Sơn chuyển hướng phát triển nông nghiệp theo chiều sâu". Báo Đại Đoàn Kết. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  23. ^ "Quyết định công bố hiện trạng rừng tỉnh Lạng Sơn năm 2024". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn. ngày 25 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  24. ^ a ă "Kinh tế Lạng Sơn 6 tháng đầu năm 2025: Tăng trưởng ấn tượng 8,37%". Báo Dân Việt. ngày 4 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  25. ^ "Sản xuất công nghiệp tỉnh Lạng Sơn bứt tốc". Báo Dân trí. ngày 9 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  26. ^ "Chủ trương đầu tư hạ tầng khu công nghiệp VSIP Lạng Sơn". Báo Chính phủ. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  27. ^ "Khởi công dự án Khu công nghiệp VSIP Lạng Sơn". Báo Thanh tra. ngày 14 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  28. ^ "Giai đoạn 2020–2025 tỉnh đã thực hiện đạt và vượt 18/20 chỉ tiêu chủ yếu". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn. ngày 24 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  29. ^ "Lạng Sơn: Thu ngân sách ước đạt 13.667 tỷ trong 6 tháng đầu năm". Báo Tiền Phong. ngày 8 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  30. ^ a ă "Kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp và du lịch là mũi nhọn của Lạng Sơn". Báo Nhân Dân. ngày 24 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  31. ^ "Công an tỉnh Lạng Sơn ra quân triển khai đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn. ngày 15 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  32. ^ "Biên phòng Lạng Sơn phá chuyên án xuất nhập cảnh trái phép". Báo Cựu chiến binh Việt Nam. ngày 29 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  33. ^ "Bài cuối: Nhận diện, đẩy lùi tội phạm nơi biên giới". Báo Công an nhân dân. ngày 9 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  34. ^ "Bắt giữ đối tượng người nước ngoài mua bán trái phép chất ma túy". Đời sống & Pháp luật. ngày 9 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  35. ^ "Vụ án ở Lạng Sơn: Bắt tạm giam Đoàn Văn Sáng - cựu đội phó quản lý thị trường về tội giết người". Báo Tuổi Trẻ. ngày 3 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  36. ^ "Vụ "tài liệu 88 trang": 2 người bị xử lý vì tung tin bịa đặt, công an mở rộng điều tra". Báo Tiền Phong. ngày 11 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  37. ^ "Bộ GD&ĐT làm việc với tỉnh Lạng Sơn về công tác quản lý giáo dục". Báo Công lý. ngày 30 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  38. ^ "Lạng Sơn biểu dương điển hình tiên tiến ngành giáo dục và đào tạo". Báo Nhân Dân. ngày 15 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  39. ^ "Lạng Sơn công bố kết quả thi tuyển sinh lớp 10 và điểm chuẩn Trường THPT chuyên Chu Văn An năm học 2026-2027". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn. ngày 10 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  40. ^ "Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025". Cổng thông tin điện tử thành phố Lạng Sơn. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  41. ^ "Trang thông tin điện tử Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn". Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  42. ^ "Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn: Vững vàng hành trình 60 năm xây dựng và phát triển". Báo Lạng Sơn. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  43. ^ "Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường Cao đẳng Lạng Sơn". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  44. ^ "Lạng Sơn hoàn thành 13/13 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong lĩnh vực y tế". Báo và Đài Phát thanh - Truyền hình Lạng Sơn. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  45. ^ a ă "Lãnh đạo UBND tỉnh dự hội nghị triển khai công tác năm 2025 của Sở Y tế". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn. ngày 9 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  46. ^ "Nghị quyết 72-NQ/TW: Luồng sinh khí mới cho y tế cơ sở vùng cao". Thông tấn xã Việt Nam. ngày 31 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  47. ^ Lễ hội dân gian Lạng Sơn, ngày hội của những truyền thuyết

Liên kết ngoài