Bước tới nội dung

Phú Thọ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”. Bản mẫu:Other Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/catLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, Việt Nam, tỉnh này là khu vực chuyển tiếp giữa vùng Đồng bằng sông HồngTrung du và miền núi phía Bắc. Phú Thọ được coi là vùng Đất Tổ cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Tương truyền tại nơi đây, các vua Hùng đã dựng nước nên nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của Việt Nam, với kinh đôPhong Châu.

Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Phú Thọ có diện tích là 9.361 km² (xếp thứ 15); dân số là 4.022.638 người (xếp thứ 11); GRDP năm 2024 đạt 354.578.739 triệu VNĐ (xếp thứ 6); thu ngân sách năm 2024 đạt 48.297.426 triệu VNĐ (xếp thứ 11); thu nhập bình quân đạt 57,91 triệu VNĐ/năm (xếp thứ 17).[1]

Địa lý

Trung tâm hành chính của tỉnh Phú Thọ đặt tại phường Việt Trì, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 85 km về phía Tây Bắc, có vị trí địa lý:

Các điểm cực của tỉnh Phú Thọ

  • Điểm cực Bắc tại: khu Đông Dương, xã Chí Đám
  • Điểm cực Tây tại: thôn Mỹ Á, xã Thu Cúc
  • Điểm cực Nam tại: xóm Hổ, xã Yên Trị
  • Điểm cực Đông tại: xóm Ngọc Lâm, xã Lạc Thủy

Điều kiện tự nhiên

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Message box”.

Tập tin:Xuan Son 2.JPG
Địa hình núi đá vôi tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ

Diện tích

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 9.361.38 km², chiếm khoảng 2.86% diện tích đất liền cả nước.

Khí hậu

Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có một mùa đông khô và lạnh. Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng

  • Lượng mưa trung bình hàng năm trên toàn tỉnh là 1600 – 2000 mm/năm.
  • Nhiệt độ trung bình các ngày trong năm là 23,4 °C.
  • Số giờ nắng trong năm: 1600 – 1750 giờ/năm.[2]
  • Độ ẩm tương đối trung bình hàng ngày là 85%.

Địa hình

Sau khi hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh PhúcHòa Bình năm 2025, tỉnh Phú Thọ sở hữu địa hình chuyển tiếp điển hình giữa khối núi Tây Bắcđồng bằng sông Hồng, thấp dần theo hướng từ tây, tây nam sang đông, đông nam. Địa hình của tỉnh được chia thành ba bậc chính: vùng núi trung bình và núi thấp ở phía tây nam; vùng đồi gò trung du ở giữa; dải đồng bằng phù sa ven sông ở phía đông. Ngoài ra, khối núi Tam Đảo nổi lên đột ngột ở rìa đông bắc như một hòn đảo giữa đồng bằng.

Vùng núi phía tây và tây nam, tương ứng với địa bàn tỉnh Hòa Bình cũ (chiếm gần một nửa diện tích toàn tỉnh), là phần rìa đông của khối núi Tây Bắc. Nơi đây gồm các dãy núi chạy theo hướng tây bắc – đông nam, bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới sông suối và thung lũng hẹp. Địa hình đặc trưng của vùng là karst trên đá vôi với nhiều hang động, khối núi sót và thung lũng kín, tập trung tại Mai Châu, Kim Bôi, Lạc ThủyLạc Sơn. Đỉnh cao nhất vùng nằm tại Đà Bắc, nơi có đỉnh Phu Canh cao khoảng 1.373 m; thung lũng sông Đà cắt sâu qua vùng núi này và hiện phần lớn nằm dưới lòng hồ thủy điện Hòa Bình.

Vùng trung du ở giữa, tương ứng với địa bàn tỉnh Phú Thọ cũ, thể hiện rõ nhất tính chất chuyển tiếp với đặc trưng là các đồi bát úp phát triển trên phù sa cổ, xen kẽ dộc ruộng và cánh đồng nhỏ ven sông. Tả ngạn sông Hồng có độ cao trung bình từ 50 đến 200 m; hữu ngạn cao hơn (từ 200 đến 500 m) với các dãy núi thấp tại Thanh Sơn, Tân SơnYên Lập được xem là phần kéo dài cuối cùng của dãy Hoàng Liên Sơn. Tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, địa hình còn có khối núi đá vôi với rừng nguyên sinh phân bố ở độ cao từ 700 đến 1.300 m. Theo tài liệu của tỉnh Phú Thọ trước năm 2025, đất đồi núi và đất dốc chiếm 64,52% diện tích tự nhiên của khu vực này, trong đó riêng đất có độ dốc trên 15° chiếm 51,6%, gây chia cắt địa hình và cản trở giao thông cũng như sản xuất.

Vùng thấp ở phía đông, tương ứng với địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cũ, là dải đồng bằng phù sa do sông Hồng và sông Lô bồi đắp. Địa hình tại đây bằng phẳng, thấp dần về phía đông nam và có một số ô trũng thường bị ngập úng vào mùa mưa. Đây là khu vực có mặt bằng thuận lợi nhất để phát triển công nghiệp và đô thị do tiếp giáp trực tiếp với vùng đồng bằng Bắc BộHà Nội.

Ở rìa đông bắc tỉnh là dãy núi Tam Đảo dài gần 80 km chạy theo hướng tây bắc – đông nam, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Phú Thọ với Thái NguyênTuyên Quang. Dãy núi có hơn 20 đỉnh cao trên 1.000 m với độ dốc sườn phổ biến từ 26 đến 35°; ba đỉnh nổi bật nhất là Thiên Thị (1.585 m), Thạch Bàn (1.420 m) và Phù Nghĩa (1.250 m). Đỉnh cao nhất là Tam Đảo Bắc nằm trên ranh giới giữa xã Đạo Trù (tỉnh Phú Thọ) và xã La Bằng (tỉnh Thái Nguyên).

Nơi hội tụ của các bậc địa hình là khu vực ngã ba Bạch Hạc tại thành phố Việt Trì, nơi sông Lô đổ vào sông Hồng và cũng là chỗ vùng đồi trung du tiếp giáp đồng bằng, tạo nên cảnh quan đặc trưng của vùng đất Tổ.

Sông ngòi

Đoạn sông Lô chảy qua địa phận Việt Trì, Phú Thọ

Tỉnh Phú Thọ có mạng lưới sông ngòi dày đặc, nằm ở vị trí trung lưu của hệ thống sông Hồng – nơi hội tụ của ba con sông lớn nhất miền Bắc là sông Hồng, sông Đàsông Lô. Sau khi hợp nhất ba tỉnh vào năm 2025, địa bàn tỉnh không còn nằm trọn trong một lưu vực duy nhất: phần lớn diện tích thuộc lưu vực sông Hồng; vùng phía nam (thuộc Hòa Bình cũ) là đầu nguồn của một số sông thuộc hệ thống sông Đáysông Mã; còn một dải nhỏ ở phía đông bắc (thuộc Vĩnh Phúc cũ) tiêu nước về hệ thống sông Thái Bình qua sông Cà Lồ.

Sông Hồng (đoạn chảy qua tỉnh còn gọi là sông Thao) là trục thủy văn chính, chảy theo hướng tây bắc – đông nam qua vùng trung du. Trên địa phận Phú Thọ, sông lần lượt tiếp nhận sông Đà tại ngã ba Hồng Đà và sông Lô tại ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì), hai điểm hợp lưu cách nhau khoảng 12 km. Từ ngã ba Bạch Hạc trở xuống, sông Hồng không nhận thêm phụ lưu lớn nào mà bắt đầu phân nước cho các phân lưu ở đồng bằng; do đó, đoạn qua tỉnh được coi là điểm kết thúc quá trình tụ nước của toàn hệ thống.

Sông Đà là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng và là con sông lớn nhất chảy qua phần lãnh thổ Hòa Bình cũ với chiều dài khoảng 151 km. Trên sông có hồ Hòa Bình – hồ nhân tạo lớn nhất tỉnh với dung tích khoảng 9,5 tỷ m³, vừa điều tiết lũ, phát điện, vừa tạo nên vùng cảnh quan lòng hồ rộng lớn phục vụ du lịch và nuôi trồng thủy sản. Sau khi ra khỏi vùng núi, sông chảy dọc theo ranh giới phía tây nam của tỉnh với Hà Nội rồi nhập vào sông Hồng.

Sông Lô đi vào tỉnh từ phía bắc, tiếp nhận nước từ sông Chảy tại khu vực huyện Đoan Hùng cũ trước khi hợp lưu với sông Hồng tại Việt Trì. Ở tả ngạn, sông Lô nhận thêm sông Phó Đáy chảy dọc theo sườn tây dãy Tam Đảo. Ở hữu ngạn sông Hồng, phụ lưu đáng kể nhất nằm gần như trọn vẹn trong tỉnh là sông Bứa, dài khoảng 73,5 km với diện tích lưu vực khoảng 1.370 km², bắt nguồn từ vùng giáp Sơn La và chảy qua các huyện Thanh Sơn, Tam Nông cũ.

Ở phía nam, các sông bắt nguồn từ vùng núi Hòa Bình cũ chảy theo hướng khác. Sông Bôi bắt nguồn từ khu vực Kim Bôi (dài khoảng 125 km), cùng với sông Lạng và sông Bùi đều thuộc hệ thống sông Đáy; riêng sông Bưởi bắt nguồn từ khu vực Tân Lạc (dài khoảng 55 km) chảy xuống Thanh Hóa và đổ vào sông Mã. Ở vùng đồng bằng phía đông, sông Phan và sông Cà Lồ là những dòng chảy nội địa quan trọng, vừa tiêu nước cho các ô trũng, vừa gắn với hệ thống thủy lợi của vùng.

Bên cạnh hệ thống sông, tỉnh còn sở hữu nhiều hồ, đầm tự nhiên và nhân tạo có giá trị về thủy lợi, du lịch và điều hòa khí hậu, tiêu biểu như đầm Ao Châu, đầm Vạc, hồ Đại Lảihồ Xạ Hương.

Chế độ thủy văn phân hóa theo hai mùa rõ rệt, trong đó mùa lũ tập trung vào các tháng giữa và cuối mùa hè. Hệ thống sông suối mang hàm lượng phù sa lớn (khoảng 1 kg/m³), khiến lòng dẫn thường bị bồi lấp. Địa hình dốc ở phía tây nam làm gia tăng nguy cơ lũ quét và sạt lở, trong khi vùng đồng bằng phía đông lại dễ bị úng ngập cục bộ vào mùa mưa.

Hạ tầng

Đường bộ có quốc lộ 2, quốc lộ 32, quốc lộ 70 đi qua. Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đi qua khu vực 7 huyện thị cũ: thành phố Việt Trì, Phù Ninh, Lâm Thao, thị xã Phú Thọ, Thanh Ba, Cẩm Khê, Hạ Hòa. Đường cao tốc Bắc – Nam phía Tây đi qua khu vực 6 huyện thị cũ: Đoan Hùng, Phù Ninh, Thanh Ba, thị xã Phú Thọ, Tam Nông, Thanh Thủy. Đường sắt có tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi qua khu vực 5 huyện thị cũ: thành phố Việt Trì, Lâm Thao, thị xã Phú Thọ, Thanh Ba, Hạ Hòa. Đường thủy có sông Đà, sông Hồng, sông Lô chảy qua.

Lịch sử

Tập tin:Mausoleum of Hung King.JPG
Lăng vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Thời kỳ phong kiến

Thời Hùng Vương, nhà nước Văn Lang được chia thành 16 bộ, trong đó Phú Thọ thuộc bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang.

Thời An Dương Vương với nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ thuộc huyện Mê Linh.

Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ X), Phú Thọ thuộc quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu.

Trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40–43), Phú Thọ là một trong những địa bàn hưởng ứng mạnh mẽ nhất. Nhiều nữ tướng tài giỏi đã xuất thân từ mảnh đất này, như Thiều Hoa (Tiên phong hữu tướng), Đàm Ngọc Nga (Tiền đạo tả tướng), và nàng Nội (Nhập Nội Bạch Hạc Thủy Công chúa), Quách A, Bát Nàn, Phật Nguyệt,...

Đến thế kỷ thứ VI, cuộc khởi nghĩa của Lý Bí chống lại ách đô hộ của nhà Lương cũng có những dấu ấn tại Phú Thọ. Tương truyền, xã Vạn Xuân ngày nay là nơi gắn liền với tên hiệu Vạn Xuân mà Lý Nam Đế đã đặt cho đất nước sau khi giành thắng lợi.

Thời loạn 12 sứ quân, Phú Thọ là địa bàn chiếm đóng của 2 sứ quân Kiều Công HãnKiều Thuận tại các căn cứ Hồi Hồ, Phong Châu.

Thời kỳ phong kiến độc lập nhà Lý, Trần, phân cấp hành chính của Việt Nam có sự thay đổi, chế độ quận, huyện thời Bắc thuộc được thay thế bằng các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới đạo là các phủ, châu, huyện. Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang.

Từ thời nhà Lê đến đầu triều nhà Nguyễn (14281891), phần lớn tỉnh Phú Thọ ngày nay thuộc tỉnh Sơn Tây trừ huyện Thanh Xuyên và huyện Yên Lập thuộc tỉnh Hưng Hóa (huyện Thanh Xuyên nay là 3 huyện Tân Sơn, Thanh SơnThanh Thủy; huyện Yên Lập thuộc phủ Quy Hóa nay thuộc tỉnh Phú Thọ).

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), nhà vua đã tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các trấn trong nước là tỉnh, phân lại địa giới các tỉnh (điều chuyển một số huyện từ tỉnh nọ sang tỉnh kia), chia tách một số huyện lớn... Theo đó, trong địa bàn tỉnh Sơn Tây đã điều chuyển như sau:

  • Điều chuyển huyện Từ Liêm về tỉnh Hà Nội
  • Điều chuyển huyện Tam Nông về tỉnh Hưng Hóa để làm tỉnh lỵ (tỉnh Hưng Hóa khi đó bao gồm toàn bộ diện tích các tỉnh vùng tây bắc Việt Nam ngày nay)

Trong địa bàn tỉnh Hưng Hóa, năm 1833, tách huyện Thanh Xuyên phủ Gia Hưng thành hai huyện Thanh SơnThanh Thủy.

Thời kỳ Pháp thuộc

Tập tin:Hung Hoa 1891.jpg
Bản đồ tỉnh Hưng Hóa năm 1891

Sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ, hoàn thành việc xâm lược toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp lập ra các đạo quan binh, các quân khu, tiểu quân khu... để dễ dàng và chủ động đàn áp các phong trào kháng chiến. Theo đó, tỉnh Hưng Hóa với địa bàn rộng lớn ở vùng tây bắc Việt Nam đã được chia thành nhiều tiểu quân khu: tiểu quân khu Tuyên Quang, tiểu quân khu Lào Cai, tiểu quân khu Yên Bái, tiểu quân khu Vạn Bú; tiểu quân khu phụ Lai Châu (sau đổi thành các tỉnh dân sự Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu...).

Sau khi cắt đi 16 châu, 4 phủ và hai huyện Trấn Yên, Văn Chấn để thành lập các đạo quan binh, khu quân sự, tiểu quân khu, Toàn quyền Đông Dương đã điều chỉnh một số huyện của tỉnh Sơn Tây sang, cộng với các huyện còn lại để thành lập tỉnh Hưng Hóa mới.

Theo Điều I của Nghị định Toàn quyền Đông Dương ngày 8 tháng 9 năm 1891, tỉnh Hưng Hóa mới được thành lập gồm có:

Như vậy tỉnh Hưng Hóa mới thành lập có 5 huyện và là tiền thân của tỉnh Phú Thọ sau này.

Ngày 9 tháng 12 năm 1892, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển huyện Cẩm Khê nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái về tỉnh Hưng Hóa mới; ngày 5 tháng 6 năm 1893, huyện Hạ Hòa tách khỏi tiểu quân khu Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hóa mới (trước đó ngày 9 tháng 9 năm 1891, Toàn quyền Đông Dương đã điều chuyển huyện Cẩm Khê và huyện Hạ Hòa thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây về tiểu quân khu Yên Bái).

Tiếp đó ngày 17 tháng 7 năm 1895, hai châu Thanh SơnYên Lập thuộc khu quân sự Đồn Vàng chuyển về tỉnh Hưng Hóa mới.

Ngày 24 tháng 8 năm 1895, hai huyện Hùng QuanNgọc Quan của phủ Đoan Hùng thuộc tiểu quân khu Tuyên Quang thuộc đạo quan binh 3 Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hóa mới.

Năm 1900, thành lập thêm huyện Hạc Trì. Trong năm 1900, Hưng Hoá do P. Simoni làm Công sứ (1900 – 1903)

Tập tin:Province de Phu-Tho (1909).jpg
Bản đồ tỉnh Phú Thọ năm 1909

Ngày 5 tháng 5 năm 1903, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập thị xã Phú Thọ trên cơ sở làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi. Khi đó thị xã Phú Thọ nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Hưng Hóa lại có sân bay, đường sắt sang Trung Quốc và nhà ga nên Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã quyết định chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa (từ làng Trúc Phê huyện Tam Nông) lên thị xã Phú Thọ và đổi tên tỉnh Hưng Hóa thành tỉnh Phú Thọ, do Nicolas Auer làm Công sứ Pháp đầu tiên (1903 – 1907). Khi đó tỉnh Phú Thọ gồm có 2 phủ (Đoan Hùng, Lâm Thao), 8 huyện (Tam Nông, Thanh Thủy, Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Hạc Trì) và 2 châu (Thanh Sơn, Yên Lập).

Như vậy, ngày 8 tháng 9 năm 1891 được coi là ngày thành lập tỉnh Phú Thọ, còn ngày 5 tháng 5 năm 1903 chỉ là ngày thành lập thị xã Phú Thọ và ngày đổi từ tên tỉnh Hưng Hóa thành tỉnh Phú Thọ.

Từ năm 1903 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản là đơn vị hành chính trong tỉnh không có những thay đổi lớn, chỉ có thay đổi tên gọi một số huyện và thành lập một số làng xã mới.

Năm 1919, bỏ tên huyện Sơn Vi đổi gọi là phủ Lâm Thao. Cũng chính năm này hai huyện Hùng Quan và Ngọc Quan hợp nhất thành phủ Đoan Hùng.

Năm 1939, phủ Đoan Hùng chuyển gọi là châu Đoan Hùng. Cũng năm này huyện Thanh Ba đưa lên thành phủ Thanh Ba.

Đến năm 1940, tỉnh Phú Thọ bao gồm 2 phủ (Lâm Thao, Thanh Ba), 6 huyện (Hạ Hòa, Cẩm Khê, Hạc Trì, Thanh Thủy, Tam Nông, Phù Ninh), 3 châu (Thanh Sơn, Yên Lập, Đoan Hùng(, 2 thị xã (Phú Thọ, Việt Trì) và 1 thị trấn Hưng Hóa. Toàn tỉnh có 66 tổng, 467 làng xã, 22 phố.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945

Sau Cách mạng tháng Tám, về mặt hành chính nhà nước Việt Nam thống nhất gọi các phủ, châu, huyện là huyện, bỏ cấp tổng và tiến hành hợp nhất các làng nhỏ thành xã. Năm 1946, tỉnh Phú Thọ từ 467 làng cũ hợp nhất thành 106 xã mới. Do có xã quá lớn nên giữa năm 1947, chính phủ lại chia tách một số xã, đưa số xã từ 106 lên 150 xã.

Cũng năm 1947, 5 huyện hữu ngạn sông Thao là Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn và Yên Lập sáp nhập vào khu 14 không thuộc tỉnh Phú Thọ. Đến tháng 2 năm 1948, khu 14 hợp nhất với khu 10 thành liên khu 10, 5 huyện hữu ngạn sông Thao lại trở về tỉnh Phú Thọ.

Ngày 22 tháng 7 năm 1957, thành lập thị xã Việt Trì – thị xã thứ hai của Phú Thọ, chỉ có 4 khu phố, 293 hộ người Kinh, 30 hộ Hoa kiều.

Ngày 4 tháng 6 năm 1962, thành phố Việt Trì được thành lập theo quyết định số 65 của Hội đồng Chính phủ. Từ đây Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của Phú Thọ.

Thời kỳ tỉnh Vĩnh Phú (1968 – 1996)

Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị quyết số 504 về việc hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú; theo cách đặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ghép tên 2 tỉnh là Vĩnh Yên cũ và Phú Thọ. Tỉnh Vĩnh Phú sau khi hợp nhất 2 tỉnh có 22 đơn vị hành chính gồm: thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), 3 thị xã (Vĩnh Yên, Phúc YênPhú Thọ), 18 huyện (Đa Phúc, Kim Anh, Yên Lãng, Bình Xuyên, Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Lập Thạch, Phù Ninh, Lâm Thao, Thanh Ba, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy, Yên LậpThanh Sơn).[3]

Ngày 5 tháng 7 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 178 về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện gồm:[4]

  1. Hợp nhất huyện Bình Xuyên và huyện Yên Lãng thành một huyện lấy tên là huyện Mê Linh và sáp nhập 4 xã (Văn Tiến, Nguyệt Đức, Minh Tân và Bình Định) của huyện Yên Lạc, 2 xã (Quang Minh và Kim Hoa) của huyện Kim Anh vào huyện Mê Linh.
  2. Hợp nhất huyện Đa Phúc, huyện Kim Anh (trừ 2 xã trên), thị trấn (thuộc tỉnh) Xuân Hòa thành một huyện lấy tên là huyện Sóc Sơn.
  3. Hợp nhất huyện Vĩnh Tường và huyện Yên Lạc (trừ 4 xã trên) thành một huyện lấy tên là huyện Vĩnh Lạc.
  4. Hợp nhất huyện Lập Thạch và huyện Tam Dương thành một huyện lấy tên là huyện Tam Đảo.
  5. Hợp nhất huyện Tam Nông và huyện Thanh Thủy thành một huyện lấy tên là huyện Tam Thanh.
  6. Hợp nhất huyện Yên Lập và huyện Cẩm Khê thành một huyện lấy tên là huyện Sông Thao và sáp nhập 10 xã của huyện Hạ Hòa (Hiền Lương, Quán Khê, Lâm Lợi, Xuân Áng, Chuế Lưu, Võ Tranh, Bằng Giã, Động Lâm, Văn Lang và Minh Côi) vào huyện Sông Thao.
  7. Hợp nhất huyện Hạ Hòa (trừ 10 xã trên), huyện Đoan Hùng và huyện Thanh Ba thành một huyện lấy tên là huyện Sông Lô và sáp nhập 7 xã của huyện Phù Ninh (Minh Phú, Tiên Phú, Trạm Thán, Chân Mộng, Vụ Quang, Liên Hoa và Phú Mỹ) vào huyện Sông Lô.
  8. Hợp nhất huyện Lâm Thao và huyện Phù Ninh (trừ 7 xã trên) thành một huyện lấy tên là huyện Phong Châu.
  9. Sáp nhập xã Văn Phú, xã Phượng Lâu của huyện Phù Ninh, xã Thụy Vân của huyện Lâm Thao, thôn Lang Đài, thôn Mộ Chu Hạ của xã Bồ Sao (huyện Vĩnh Tường) vào thành phố Việt Trì.
  10. Sáp nhập xã Định Trung, xã Khai Quang của huyện Tam Dương và thị trấn Tam Đảo vào thị xã Vĩnh Yên.
  11. Sáp nhập xã Thanh Minh của huyện Thanh Ba vào thị xã Phú Thọ.

Đây là đợt sáp nhập lớn về huyện trên địa bàn tỉnh, sau sáp nhập và điều chỉnh địa giới hành chính, Vĩnh Phú gồm 13 đơn vị hành chính gồm: thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), 3 thị xã (Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ) và 9 huyện (Sóc Sơn, Mê Linh, Vĩnh Lạc, Tam Đảo, Tam Thanh, Sông Thao, Sông Lô, Phong Châu và Thanh Sơn).

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Quốc hội ra nghị quyết về sáp nhập một số huyện, thị xã và xã của tỉnh Vĩnh Phú vào Hà Nội, trong đó phê chuẩn việc chuyển huyện Sóc Sơn và 18 xã của huyện Mê Linh cùng thị trấn Phúc Yên (sáp nhập vào huyện Mê Linh) về Hà Nội quản lý.

Ngày 26 tháng 2 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 71 về việc điều chỉnh địa giới huyện Tam Đảo và huyện Vĩnh Lạc:

  1. Chia huyện Tam Đảo thành hai huyện lấy tên là huyện Lập Thạch (38 xã) và huyện Tam Đảo (17 xã).
  2. Các xã còn lại từ huyện Mê Linh sau khi tách về Hà Nội được sáp nhập về các huyện trên địa bàn tỉnh:
    • Sáp nhập thêm 14 xã (Minh Quang, Gia Khánh, Trung Mỹ, Thiện Kế, Sơn Lôi, Tam Hợp, Bá Kiến, Tam Canh, Quất Lưu, Thanh Lãng, Tân Phong, Phú Xuân, Đạo Đức, Hương Sơn) và thị trấn nông trường Tam Đảo vào huyện Tam Đảo.
    • Sáp nhập 4 xã (Nguyệt Đức, Văn Tiến, Bình Định và Minh Tân) về huyện Vĩnh Lạc.

Ngày 22 tháng 12 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 377 về chia tách và điều chỉnh địa giới một số huyện gồm:[5]

  1. Chia huyện Sông Thao thành hai huyện lấy tên là huyện Sông Thao (gồm 41 xã) và huyện Yên Lập (gồm 17 xã).
  2. Chia huyện Sông Lô (trừ 4 xã dưới) thành hai huyện lấy tên là huyện Thanh Hoà (gồm 49 xã và 1 thị trấn) và huyện Đoan Hùng (gồm 27 xã và 1 thị trấn).
  3. Sáp nhập 4 xã (Trạm Thản, Tiên Phú, Liên Hoa, Phú Mỹ) của huyện Sông Lô vào huyện Phong Châu.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội khóa VIII ban hành nghị quyết tại Kỳ họp thứ 9 về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong đó chuyển huyện Mê Linh từ Hà Nội về Vĩnh Phú quản lý.

Ngày 7 tháng 10 năm 1995, Chính phủ ra nghị định về việc chia tách huyện Vĩnh Lạc và huyện Thanh Hòa:[6]

  1. Chia huyện Vĩnh Lạc thành huyện Vĩnh Tường (1 thị trấn và 28 xã) và huyện Yên Lạc (17 xã).
  2. Chia huyện Thanh Hoà và 10 xã vùng thượng (Hiền Lương, Quân Khê, Động Lâm, Lâm Lợi, Xuân áng, Chuế Lưu, Bằng Giã, Vô Tranh, Văn Lang, Minh Côi) của huyện Sông Thao thành huyện Thanh Ba (1 thị trấn và 25 xã) và huyện Hạ Hoà (33 xã). Huyện Sông Thao còn lại 1 thị trấn và 30 xã.

Ngày 26 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết tại kỳ họp thứ 10 về việc chia tách và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ.[7] Tỉnh Phú Thọ chính thức được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997. Sau khi tách, Phú Thọ gồm 10 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), thị xã Phú Thọ và 8 huyện (Đoan Hùng, Hạ Hòa, Phong Châu, Sông Thao, Tam Thanh, Thanh Ba, Thanh Sơn, Yên Lập); Vĩnh Phúc gồm 6 đơn vị hành chính gồm thị xã Vĩnh Yên (tỉnh lỵ) và 5 huyện (Mê Linh, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Đảo, Lập Thạch)

Sau khi tách về tỉnh Phú Thọ (1997 – 2025)

Ngày 24 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ra nghị định số 59 về việc chia tách huyện Phong Châu và huyện Tam Thanh:[8]

  1. Chia huyện Phong Châu chia lại thành huyện Phù Ninh (2 thị trấn và 19 xã) và huyện Lâm Thao (1 thị trấn và 16 xã).
  2. Chia huyện Tam Thanh chia lại thành huyện Tam Nông (1 thị trấn và 19 xã) và huyện Thanh Thủy (15 xã).

Ngày 8 tháng 4 năm 2002, Chính phủ ra nghị định số 39 trong đó có quyết định đổi tên huyện Sông Thao thành huyện Cẩm Khê.[9]

Ngày 9 tháng 4 năm 2007, Chính phủ ra nghị định số 61 về việc thành lập huyện Tân Sơn từ 17 xã của huyện Thanh Sơn (Mỹ Thuận, Tân Phú, Thu Ngạc, Thạch Kiệt, Thu Cúc, Lai Đồng, Đồng Sơn, Tân Sơn, Kiệt Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn, Minh Đài, Văn Luông, Long Cốc, Tam Thanh, Vinh Tiền). Huyện Thanh Sơn còn lại 1 thị trấn và 22 xã.[10]

Từ đó tới trước sáp nhập lớn năm 2025, tỉnh Phú Thọ gồm thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), thị xã Phú Thọ và 11 huyện (Cẩm Khê, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông, Tân Sơn, Thanh Ba, Thanh Sơn, Thanh Thủy, Yên Lập).

Sáp nhập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Hòa Bình (2025 – nay)

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội khóa XV ban hành nghị quyết số 202 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Hòa Bình và tỉnh Vĩnh Phúc vào tỉnh Phú Thọ.[11] Sau khi sáp nhập, tỉnh Phú Thọ có 9.361,38 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 4.022.638 người, với 33 đơn vị hành chính cấp huyện từ 3 tỉnh gồm: 4 thành phố (Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hòa Bình), thị xã Phú Thọ và 28 huyện (Bình Xuyên, Tam Đảo, Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Lập Thạch, Sông Lô, Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Ba, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Cẩm Khê, Yên Lập, Tam Nông, Thanh Thủy, Tân Sơn, Thanh Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, Lương Sơn, Cao Phong, Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy, Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn).

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 2013, toàn bộ 33 đơn vị hành chính cấp huyện được giải thể. Cùng ngày, theo nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, tỉnh Phú Thọ có 148 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 15 phường và 133 xã.[12][13]

Hành chính

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Tỉnh Phú Thọ có 148 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 15 phường và 133 .

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Phú Thọ[14]
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phường (15)
Âu Cơ 12,51 18.951
Hòa Bình 39,32 78.605
Kỳ Sơn 115,70 20.319
Nông Trang 15,89 57.770
Phong Châu 29,61 32.519
Phú Thọ 23,07 27.957
Phúc Yên 23,40 63.954
Tân Hòa 57,00 14.316
Thanh Miếu 19,57 58.548
Thống Nhất 55,21 22.897
Vân Phú 26,26 37.450
Việt Trì 25,83 73.006
Vĩnh Phúc 25,30 78.371
Vĩnh Yên 25,00 56.428
Xuân Hòa 96,00 55.237
Xã (133)
An Bình 127,40 18.952
An Nghĩa 95,73 27.556
Bản Nguyên 28,29 33.667
Bao La 104,26 12.409
Bằng Luân 59,77 16.932
Bình Nguyên 30,60 46.425
Bình Phú 28,28 29.649
Bình Tuyền 58,50 29.926
Bình Xuyên 29,50 32.534
Cao Dương 113,37 36.783
Cao Phong 77,77 20.372
Cao Sơn 124,93 8.872
Cẩm Khê 50,44 47.059
Chân Mộng 89,85 38.565
Chí Đám 49,36 28.005
Chí Tiên 23,75 18.550
Cự Đồng 45,77 14.988
Dân Chủ 28,85 18.568
Dũng Tiến 101,10 20.000
Đà Bắc 136,80 19.834
Đại Đình 44,00 20.551
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Đại Đồng 81,37 24.353
Đan Thượng 84,15 28.838
Đạo Trù 83,80 24.759
Đào Xá 45,53 32.156
Đoan Hùng 44,80 30.509
Đồng Lương 36,33 15.904
Đông Thành 32,25 20.383
Đức Nhàn 107,60 7.389
Hạ Hòa 41,23 21.779
Hải Lựu 38,80 30.098
Hiền Lương 81,39 22.337
Hiền Quan 31,38 27.476
Hoàng An 20,80 26.000
Hoàng Cương 39,51 27.890
Hội Thịnh 25,10 37.115
Hợp Kim 86,28 21.033
Hợp Lý 34,10 19.611
Hùng Việt 32,77 22.935
Hương Cần 81,30 17.900
Hy Cương 23,95 22.693
Khả Cửu 148,48 13.149
Kim Bôi 64,57 35.915
Lạc Lương 130,40 25.289
Lạc Sơn 58,10 27.500
Lạc Thủy 90,70 24.529
Lai Đồng 108,45 16.321
Lâm Thao 15,45 31.321
Lập Thạch 39,10 34.604
Liên Châu 26,00 35.029
Liên Hòa 18,80 19.257
Liên Minh 20,98 23.443
Liên Sơn 120,21 31.695
Long Cốc 67,09 8.708
Lương Sơn 122,14 45.522
Mai Châu 147,74 19.143
Mai Hạ 71,87 10.317
Minh Đài 84,74 24.209
Minh Hòa 68,44 16.425
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Mường Bi 94,79 20.931
Mường Động 144,68 26.092
Mường Hoa 104,54 8.563
Mường Thàng 91,58 19.883
Mường Vang 69,80 20.853
Nật Sơn 154,66 28.940
Ngọc Sơn 114,63 8.981
Nguyệt Đức 19,00 34.166
Nhân Nghĩa 81,37 19.456
Pà Cò 115,76 11.334
Phú Khê 37,11 25.630
Phú Mỹ 27,36 15.460
Phù Ninh 39,28 45.037
Phùng Nguyên 30,57 41.046
Quảng Yên 39,58 15.056
Quy Đức 146,98 9.462
Quyết Thắng 59,70 22.746
Sông Lô 33,40 34.291
Sơn Đông 26,70 36.076
Sơn Lương 96,92 23.365
Tam Dương 44,30 47.936
Tam Dương Bắc 45,80 37.284
Tam Đảo 79,20 34.772
Tam Hồng 22,60 40.224
Tam Nông 28,25 26.412
Tam Sơn 33,10 25.668
Tân Lạc 139,90 42.031
Tân Mai 130,71 7.924
Tân Pheo 139,38 10.528
Tân Sơn 118,21 18.246
Tây Cốc 59,07 21.227
Tề Lỗ 18,30 37.232
Thái Hòa 29,00 23.943
Thanh Ba 38.60 30.014
Thanh Sơn 84,55 38.776
Thanh Thủy 31,08 27.678
Thịnh Minh 89,22 19.198
Thọ Văn 43,54 15.281
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Thổ Tang 21,30 43.208
Thu Cúc 100,51 11.313
Thung Nai 86,34 10.600
Thượng Cốc 58,37 18.430
Thượng Long 60,36 16.108
Tiên Lữ 31.80 32.710
Tiên Lương 54,55 38.028
Tiền Phong 116,31 5.246
Toàn Thắng 71,10 15.427
Trạm Thản 32,60 16.138
Trung Sơn 97,29 6.028
Tu Vũ 49,07 41.564
Vạn Xuân 52,43 31.353
Văn Lang 54,06 17.949
Văn Miếu 89,11 18.752
Vân Bán 22,72 15.904
Vân Sơn 120,53 9.197
Vĩnh An 21,40 32.883
Vĩnh Chân 27,12 17.173
Vĩnh Hưng 18,70 38.821
Vĩnh Phú 34,60 49.755
Vĩnh Thành 22.00 35.020
Vĩnh Tường 26,20 47.315
Võ Miếu 96,36 28.853
Xuân Đài 209,60 15.073
Xuân Lãng 29.90 48.186
Xuân Lũng 24,03 20.604
Xuân Viên 46,19 14.428
Yên Kỳ 53,58 20.973
Yên Lạc 21,70 39.730
Yên Lãng 38,20 18.459
Yên Lập 69,05 29.678
Yên Phú 63,70 19.850
Yên Sơn 75,52 16.064
Yên Thủy 76,19 24.012
Yên Trị 81,97 27.005

Dân số

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Historical populations”.

Tính đến năm 2024, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên 3.534,56 km²,[15] dân số trung bình là 1.543.880 người,[15] trong đó dân số nam ước tính đạt khoảng 769.390 người chiếm (49,83%),[15] dân số nữ ước tính đạt khoảng 774.490 người chiếm (50,17%),[15] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 301.310 người chiếm (19,52%),[15] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 1.242.570 người chiếm (80,48%),[15] với mật độ dân số là 436 người/km².[15]

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên 9.361,38 km²,[16] quy mô dân số 4.022.638 người,[16] trong đó dân số thành thị ước tính đạt khoảng 696.328 người chiếm (17,31%),[16] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 3.326.310 người chiếm (82,69%),[16] với mật độ dân số hơn 429 người/km².[16]

Dân tộc Kinh là thành phần có tỉ lệ lớn nhất trong cơ cấu các thành phần dân tộc ở Phú Thọ. Theo điều tra dân số ngày 1/4/2019, thì cộng đồng người Kinh có 1.214.162 người (chiếm 83%), ngoài ra còn có cộng đồng người Mường, Dao, Sán Chay có số dân tương đối đông đảo. Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2026 đạt 29,15%.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 9 tôn giáo khác nhau đạt 155.114 người, nhiều nhất là Công giáo có 130.193 người, tiếp theo là Phật giáo có 24.790 người. Còn lại các tôn giáo khác như đạo Tin Lành có 92 người, Hồi giáo có 31 người, đạo Cao Đài có ba người, Phật giáo Hòa Hảo có hai người, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Baha'i giáoBà La Môn mỗi tôn giáo chỉ có một người.[17]

Dân tộc Thành phần dân tộc tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hoà Bình năm 2019.[18]
Phú Thọ Vĩnh Phúc Hoà Bình Tổng cộng
Dân số % Dân số % Dân số % Dân số %
Toàn tỉnh 1.463.726 100% 1.151.154 100% 854.131 100% 3.469.011 100%
Kinh 1.214.162 82,95% 1.095.766 95,19% 219.403 25,69% 2.529.331 72,91%
Mường 218.404 14,92% 1.292 0,11% 549.026 64,28% 768.722 22,16%
Sán Dìu 329 / 46.222 4,02% 82 / 46.633 1,34%
Thái 1.830 0,13% 714 / 34.387 4,03% 36.931 1,06%
Dao 15.702 1,07% 1.100 0,10% 17.248 2,02% 34.050 0,98%
Tày 5.229 0,36% 2.451 0,21% 25.753 3,02% 33.433 0,96%
H'Mông 1.267 / 202 / 7.081 0,83% 8.550 0,25%
Sán Chay 4.278 0,29% 1.912 0,17% 71 / 6.261 0,18%
Nùng 1.375 / 1.052 / 359 2.786 0,08%

Văn hóa

Đền Hùng là khu di tích gồm đền Hạ, Gác chuông, chùa Thiên Quang, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng thứ 6, đền Giếng. Lễ hội chính hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch.

Đền Âu Cơ (Hiền Lương). Gắn liền với truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ. Trong đền có tượng mẹ Âu Cơ (tổ Mẫu của cộng đồng người Việt) đặt ở vị trí trang trọng. Lễ hội đền hàng năm được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch.

Chùa Xuân Lũng (Xuân Lũng). Chưa xác định chính xác chùa được xây dựng vào năm nào. Khoảng thời Lý – Trần chùa đã được trùng tu nhiều lần. Di tích còn lại hiện nay ở chùa là một bia đá có chiều ngang 3,2 mét, rộng 1,23 mét, cao 0,95 mét có niên đại 1377 – 1387 ở chính điện.

Chùa Phúc Thánh tọa lạc trên núi Ngọc Phúc xã Hương Nộn, Tam Nông chùa do phu nhân thứ năm của vua Lý Thần Tông là Lê Thị Lan Xuân xây dựng vào năm Ất Sửu 1145 (đời vua Lý Anh Tông). Bà đã tu hành và mất tại đây vào Tân Mão (1171). Trên điện chùa có tượng thờ bà gọi là tượng thánh Mẫu. Mộ bà táng ở phía Tây chùa. Chùa Phúc Thánh là một số ít ngôi chùa thời Lý còn lại đến nay với nhiều chi tiết kiến trúc cổ trên chất liệu gỗ quý.

Hội đánh cá thờ (Kẻ Giáp, Phùng Nguyên) tối 11 rạng 12 tháng 12 âm lịch.

Hội Cầu tháng Giêng (Đào Xá) có nhiều nghi lễ và nhiều trò vui như múa voi, thổi cơm thi. Lễ hội tổ chức vào ngày 27–28 tháng Giêng.

Hội Chu Hóa (Hy Cương) ngày 5 tháng Giêng nhằm tưởng nhớ 3 anh em Cả Đông, Nhị Đông, Tam Đông tương truyền là tướng giỏi của vua Hùng Vương thứ 18.

Hát xoan là loại dân ca lễ nghi của vùng đất tổ. Kiểu thức hát xoan gần giống như hát dậm hay hát dô. Hát xoan theo trình tự quy định gồm phần nghi lễ tôn giáo và phần diễn xướng. Cơ bản là hát lối và ngâm đọc, có thêm hát hội mang tính chất trữ tình với nội dung về tình yêu đôi lứa, giao duyên. Cuộc đời hát là "giã cá" kết thúc quá trình diễn xướng.

Đền thờ trạng nguyên Vũ Duệ[19] : Trình Xá (Kẻ Chịnh), huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây (nay thuộc làng Trình Xá, xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ).

Kinh tế

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Phú Thọ là cửa ngõ, trung tâm kinh tế của liên tỉnh phía Bắc, nằm trong vùng đô thị Hà Nội, hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng nên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tình năm 2018 ước đạt 6.025 tỷ đồng, xếp thứ 2 trong 14 tỉnh khu vực miền núi, trung du phía Bắc. Tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2018 ước đạt 26,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ. Tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2018, toàn tỉnh đã cấp đăng ký thành lập mới cho 767 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 3.769,5 tỷ đồng, tăng 17,6% về số doanh nghiệp nhưng giảm 10,9% về số vốn đăng ký; bình quân vốn đăng ký một doanh nghiệp đạt 4,9 tỷ đồng.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2018 theo giá so sánh 2010 ước đạt 40.890,4 tỷ đồng, tăng 8,34% so với năm 2017[20].Phú Thọ là một trong những địa phương có quá trình xây dựng thôn mới đạt nhiều kết quả tích cực nhất trong số các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, tính đến ngày 30/9/2019 đã có 93/247 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 37,7% số xã).

Phú Thọ có 07 khu công nghiệp và gần 30 Cụm công nghiệp với diện tích gần 4.000 ha: KCN Thụy Vân, TP Việt Trì: 323 ha; 2 KCN Trung Hà và Tam Nông huyện Tam Nông: 550 ha; KCN Phú Hà, TX Phú Thọ: 450 ha; KCN Phù Ninh, huyện Phù Ninh: 100 ha; KCN Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê: 450 ha; KCN Hạ Hòa, huyện Hạ Hòa: 400 ha. Các KCN đều được kết nối với nút lên xuống của đường cao tốc Hà Nôi – Lào Cai và đường Hồ Chí Minh.

Văn hóa

Lễ hội và địa danh văn hóa

Phú Thọ có nền văn hoá rực rỡ từ lâu đời. Những di chỉ khảo cổ văn hoá Sơn Vi, Đồng Đậu, Làng Cả và nhiều đình, chùa, lăng, tẩm còn lại quanh vùng núi Nghĩa Lĩnh cho thấy đất Phong Châu là một trung tâm văn hoá của dân tộc Việt. Di tích lịch sử quan trọng là đền quốc mẫu Âu Cơ, khu di tích đền Hùng.

Đây là vùng đất có nhiều lễ hội, đáng kể nhất là lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng Ba âm lịch). Các dân tộc ít người cũng có những đặc trưng văn hoá riêng của mình: người Mường có nhiều truyện thơ, ca dao, tục ngữ, hát xéc bùa, hát ví, hát đúm. Người Việt có hát xoan, hát ghẹo... Các lễ hội tiêu biểu trong tỉnh có thể kể đến:

Ngoài ra còn nhiều lễ hội khác như: Hội chùa Thắm (5/5 âm lịch – xã Đông Thành); Hội đình Cả ở xã Đông Thành suy tôn: Thần Nông, thần Núi, thần Nước; Lễ hội Gia Thanh; Hội Chu Hóa; Lễ Cầu tháng Giêng; Hội đình nghè tổ chức tại xã Văn Lang, vào ngày chính hội mùng 10 tháng giêng hàng năm; Hội đền Nghè ở xã Quảng Yên vào ngày mùng 7 tháng giêng hàng năm; Hội Đâm Đuống (Tết Doi) ở xã Thu Cúc vào ngày tết (mồng 8 tháng 1 âm lịch) hàng năm,...

Làng nghề truyền thống

  • Cẩm Khê có nghề truyền thống là may nón lá. Đây là loại nón làm từ lá cọ. Trước đây khi nón lá còn thịnh hành tại làng nghề này nhà nào cũng may nón bán nhưng hiện nay khi cuộc sống, nhu cầu đã thay đổi, ít người còn làm.
  • Phùng Nguyên có làng nghề ủ ấm Sơn Vi, làng nghề chăn nuôi rắn Tứ Xã.
  • Phường Vân Phú có làng làm bún Hùng Lô đã được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống.
  • Vân Bán có nghề truyền thống là đan thúng, người dân trong xã đều biết đan thúng. Những đứa trẻ học lớp 1, lớp 2 cũng ngồi đan Thúng giúp gia đình trong những khi ở nhà. Cứ mỗi ngày mồng 1, 6, 11, 16, 21, 26 âm lịch hàng tháng xã lại hội họp chợ mua bán trao đổi Thúng diễn ra vào 2 đến 5h30 sáng mùa hè và từ 4h đến 6h30 vào mùa đông.
  • Hiền Lương có làng nghề làm bánh cuốn nóng gia truyền, hiện nay trong xã có khoảng 300 cửa hàng kinh doanh ở khắp các tỉnh phía Bắc với khoảng 700 lao động trong xã thu nhập trung bình khoảng 10 triệu/người/tháng.
  • Làng cá chép đỏ thôn Thủy Trầm, xã Tiên Lương. Cứ mỗi năm vào dịp Tết ông Táo, làng cung cấp trên dưới 40 tấn cá chép đỏ cho nhân dân khắp cả nước. Đây được ví như vựa cá chép đỏ lớn nhất miền Bắc.

Phong tục

Sau khi uống xong một chén rượu hay một cốc bia người dân Phú Thọ nói riêng và một số tỉnh miền tây bắc nói chung (Lào Cai, ...) thường bắt tay, thể hiện tình cảm và sự trân trọng với nhau.[21]

Giáo dục

Các trường đại học

  • Trường Đại học Hùng Vương (Đường Nguyễn Tất Thành, phường Nông Trang)
  • Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì (Cơ sở 1: QL 32C, xã Xuân Lũng; Cơ sở 2: Phố Tiên Sơn, phường Thanh Miếu)

Các trường cao đẳng

  • Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm (Đường Nguyễn Tất Thành, phường Việt Trì)
  • Cao đẳng Dược Fushico (Đường Hùng Vương, phường Việt Trì)
  • Cao đẳng Nghề Phú Thọ (Đường Hùng Vương, phường Vân Phú)
  • Cao đẳng nghề công nghệ Giấy và cơ điện (Đường Nội Thị, xã Phù Ninh)
  • Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ (Khu 5 (thị trấn Thanh Ba cũ), xã Thanh Ba)
  • Cao đẳng nghề Nông nghiệp và PTNT Phú Thọ (xã Thanh Ba)
  • Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ (phường Phú Thọ)
  • Cao đẳng Công nghiệp quốc phòng (Cơ sở 1: phường Âu Cơ)
  • Cao đẳng Y tế Phú Thọ (Phố Cao Bang, phường Âu Cơ)
  • Cao đẳng công nghiệp Hóa chất (QL 32C, xã Lâm Thao)

Ẩm thực

Tập tin:Đồi chè ở Phú Thọ.jpg
Đồi chè (trà) ở Phú Thọ

Phú Thọ có một số sản vật địa phương khá đặc biệt:

  • Hoa quả: tại Đoan Hùngbưởi Đoan Hùng (xưa còn gọi là bưởi Phủ Đoan với các giống bưởi Bằng Luân, bưởi Pôlênô (lai Mỹ), bưởi Lã Hoàng, bưởi Sửu, bưởi Chí Đám là ngon nhất, hầu hết đều có tép nhỏ, quả nhỏ, vỏ héo mềm, mọng nước ngọt và mát, là đặc sản bưởi vùng trung du Bắc Bộ. Tại phường Thanh Miếu có hồng Hạc (hay còn gọi là hồng Hạc Trì), là loại hồng không hạt quả to, mình vuông, tròn bằng, cát mịn và ăn giòn ngọt, xưa được coi như sản vật quý hiếm, xếp đứng đầu trong hàng ngũ hoa quả quý dùng để tiến vua. Hiện nay ở phường Thanh Miếu chỉ còn duy nhất một cây hồng Hạc Trì cổ thụ.[22]
  • Sản vật trung du: vùng đất rừng cọ đồi chè Phú Thọ sản sinh những đặc sản địa phương bao gồm chè (chè búp, lá chè tươi và hạt chè nấu nước chè xanh). Quả cọ: dầu cọ chiết xuất từ thịt quả, rau giá ủ mầm từ hạt cọ. Sắn: lá sắn non muối dưa chua sau đó nấu canh (với tép sông hoặc với cá nhỏ).
  • Cá: với sông Hồng, sông Lô cùng một hệ thống nhiều suối, ẩm thực Phú Thọ có những loại cá nước ngọt đặc sản, trong đó có những loại cá quý hiếm như cá Anh Vũ xưa chỉ có ở vùng ngã ba sông Bạch Hạc, Việt Trì. Đây là loại cá sống ở đáy sông, ăn rêu đá, suốt mùa xuân hè ẩn trong hang và chỉ sang mùa thu đông mới ra ngoài, thời phong kiến thường dùng tiến vua. Trên sông Lô, sông Thao còn đánh bắt được nhiều cá lăng, và tại Việt Trì, dọc bờ sông có rất nhiều quán sử dụng loại cá da trơn đánh bắt tại chỗ này để làm các món ăn như chả cá, lẩu cá, cá hấp, cá nướng. Tại vùng sông Thao khu vực huyện Thanh Ba cũ có cá cháy, một loại cá có hai buồng trứng to và rất ngon.
  • Thịt động vật: các món thịt chó Việt Trì và thịt chua làm từ thịt lợn lên men bằng thính gạo tại khu vực huyện Thanh Sơn cũ là những món ăn được biết đến không chỉ trong tỉnh.
  • Rau: có thể kể đến rêu đá tại khu vực huyện Thanh Sơn cũ làm từ các loại rêu vớt dưới suối, tẩm ướp và nướng. Bên cạnh đó là rau sắng, đặc sản của Vườn quốc gia Xuân Sơn.
  • Bánh: ẩm thực Phú Thọ có món bánh tai dân dã nhưng không kém phần đặc sắc. Đây là loại bánh có từ xa xưa với tên gọi bánh Hòn. Bánh tai có hình thù giống cái tai, là thứ bánh bột gạo tẻ, nhân thịt lợn ướp hành, dễ làm, là món ăn hòa quyện của các vị dẻo, giòn, bùi, ngọt, béo ngậy và thơm. Bánh tai có thể ăn thay cơm tẻ trên các mâm cỗ cưới, cỗ tết, đem bán hoặc làm quà biếu như một loại đặc sản địa phương.
  • Cơm: tại các vùng núi phía bắc tỉnh thịnh hành món cơm lam làm từ gạo nếp nương, đặc biệt là món xôi cọ là loại xôi được đồ từ gạo nếp trộn với thịt quả cọ đã được om chín.

Danh sách ẩm thực

Các đặc sản, ẩm thực địa phương ở Phú Thọ như: thịt chua Thanh Sơn, nếp gà gáy Mỹ Lung, cá thính Tử Đà, bánh nẳng làng Dòng, chè lam đền Hùng, rau dớn Xuân Sơn, cuốn cão làng Sỏi, thịt lợn lửng, rau sắn, măng sặt Ấm Hạ, bánh khúc Việt Trì, thịt nộm nâu người Mường, hồng Gia Thanh, mì gạo Hùng Lô, hạt dổi Xuân Sơn, bánh tai hòn Phú Thọ, quế Yên Lập, xôi cọ, tương làng Bợ, mục hoa chuối Tân Sơn, chè búp khô, chè xanh, cơm nắm lá cọ Phù Ninh, khoai tầng vàng Tân Sơn, cá sỉnh Ngòi Lao, rượu hoẵng người Dao Thanh Sơn, nhộng tằm lá sắn Đồng Lương, cơm lam người Mường, cọ ỏm, kẹo lạc Việt Trì, bưởi Đoan Hùng, bánh củ mài đền Hùng, rau đắng cảy, tương Dục Mỹ, rau đồ người Mường Thanh Sơn, bánh cuốn Lâm Lợi, nhộng cọ, cá lăng, gà chín cựa Xuân Sơn, đu đủ Tam Nông, thịt chó Việt Trì, bánh chưng làng Xốm, xôi ngũ sắc Tân Sơn, bánh tẻ mật Đào Xá, vịt lam Xuân Sơn, bún tươi xóm Chùa, bánh sắn Phù Ninh, rêu đá Tân Sơn, chè san tuyết Xuân Sơn, trám om kho cá, bánh trứng kiến người Mường, xáo chuối Cao Xá, bánh tẻ Hà Thạch.

Danh nhân

Xem thêm

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Quyết định 178-CP năm 1977 hợp nhất huyện thuộc tỉnh Vĩnh PhúLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.
  5. ^ Quyết định 377-CP năm 1980 chia huyện Sông Thao và huyện Sông Lô, điều chỉnh địa giới huyện Phong Châu
  6. ^ Nghị định 63-CP năm 1995 chia các huyện Thanh Hòa và Vĩnh Lạc
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ Nghị định 59/1999/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và chia các huyện Phong Châu và Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ
  9. ^ Nghị định 39/2002/NĐ-CP về việc thành lập các phường thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
  10. ^ Nghị định 61/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn để thành lập huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Nghị quyết số 203/2025/QH15 ban hành ngày 16/06/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  13. ^ Nghị quyết 1676/NQ-UBTVQH15 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Phú Thọ.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ a ă â b c d đ Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
  16. ^ a ă â b c Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Si-ma-cai ngày sương mù có viết: chạm chén rồi bắt tay thân mật, các anh chủ nhà bảo bắt tay sau uống rượu là "đặc sản" của Lào Cai, mà trước đó tôi đã thấy dân Phú Thọ cũng nhận là của mình.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Commonscat

Bản mẫu:Du lịch Xứ Đoài Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”.